Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967

Bản hiến pháp dân chủ của chính quyền ở miền Nam Việt Nam

Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà năm 1967 là bản hiến pháp thứ hai của chính quyền Việt Nam Cộng hoà, Quốc hội Lập hiến thông qua vào ngày 18 tháng 3 năm 1967, Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia ban hành vào ngày 1 tháng 4 làm văn kiện thay thế Hiến pháp năm 1956, tạo thành nền Đệ nhị Cộng hoà.

Bối cảnhSửa đổi

Sau khi Pháp thua Trận Điện Biên Phủ thì Việt Nam và Pháp mở hoà nghị ở Genève. Ngày 21 tháng 7 năm 1954 hai bên kí Hiệp định Genève. Theo hiệp định, Pháp lui binh, Việt Nam tạm thời chia cắt làm hai miền Nam Bắc ở vĩ tuyến 17, quy định tổ chức bầu cử toàn quốc sau hai năm để thống nhất đất nước. Pháp thừa nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có chủ quyền quốc gia.[cần dẫn nguồn] Tuy nhiên, Hoa Kì sợ cho người dân bầu cử thì Việt Minh sẽ thắng, Việt Nam rơi vào phe cộng sản, cho nên ra tay giúp đỡ thành lập Chính phủ miền Nam. Bấy giờ Bảo Đại cầm đầu chính phủ, nhưng không được lòng dân. Ngô Đình Diệm lợi dụng dịp tốt, lật đổ Bảo Đại, thành lập nước Việt Nam Cộng hoà. Diệm ban hành Hiến pháp năm 1956, thiết lập chế độ tổng thống tập quyền.

Năm 1963 chính quyền Hoa Kì hậu thuẫn phe tướng lĩnh chính quyền mới ở miền Nam Việt Nam, chuẩn y Quân lực Việt Nam Cộng hoà lật đổ chính phủ. Ngô Đình Diệm bị giết, Hiến pháp năm 1956 bị bãi bỏ. Quân đội nắm giữ chính quyền, song không cải thiện được tình hình chiến tranh. Hoa Kì và người dân muốn quân đội giao lại chính quyền cho dân thường. Ngày 14 tháng 4 năm 1966 Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến trong ba đến năm tháng. Ngày 27 tháng 9 năm 1966 Quốc hội Lập hiến mở màn. Ngày 18 tháng 3 năm 1967 thông qua Hiến pháp năm 1967, được ban hành vào ngày 1 tháng 4.

Nội dungSửa đổi

Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm tương lai huy hoàng của đất nước.

Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy trách nhiệm trước lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng Hòa của Dân, do Dân và vì Dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm độc lập, tự do, dân chủ trong công bằng bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

Chúng tôi, 117 Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến, đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi thảo luận, chấp thuận Bản Hiến Pháp sau đây:

— "Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà năm 1967", Lời mở đầu

Hiến pháp năm 1967 tiến bộ hơn tình hình dân chủ trong vùng lúc đó. Ghi ngắn gọn, tránh dùng những từ hoa mỹ và phô trương, bảo đảm các quyền căn bản của người dân và ghi rõ từng khoản trong hiến pháp. Mới nhất là cơ chế phân lập ba quyền và quyền đối lập chính trị của người dân.

Căn bảnSửa đổi

Chương I quy định các căn bản của chính quyền Việt Nam Cộng hoà.

Chế độ cộng hoàSửa đổi

Bình đẳng trước mặt pháp luậtSửa đổi

Điều 2 ấn định giữa các sắc tộc, nam nữ, tôn giáo, và chính kiến có sự bình đẳng trước pháp luật.

Phân lập ba quyềnSửa đổi

Điều 3 chia rõ quyền lực chính trị làm ba quyền: làm luật do Quốc hội nắm giữ, hành chính do Tổng thống nắm giữ, tư pháp do Tối cao Pháp viện nắm giữ.

Chống cộngSửa đổi

Giống như Hiến pháp năm 1956, Hiến pháp năm 1967 không ủng hộ chủ nghĩa cộng sản. Điều 4 cấm các việc làm "tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản". Tuy nhiên, bản hiến pháp mới ít khắc khe so với bản cũ, không cấm "phổ biến" mà chỉ cấm "tuyên truyền", có thể hiểu là cho phép việc dạy dỗ, tranh luận, sáng tác.

Tuân thủ luật quốc tếSửa đổi

Chính thểSửa đổi

Làm luậtSửa đổi

Chương III quy định quyền lập pháp. Quốc hội là cơ quan làm luật cao nhất, bao gồm hai toà nghị là Hạ nghị viện và Thượng nghị viện. Quốc hội có quyền:

  • Làm luật;
  • Phê chuẩn các hiệp ước, hiệp định quốc tế;
  • Tuyên chiến, nghị hòa;
  • Tuyên bố tình trạng chiến tranh; và
  • Kiểm soát chính phủ.

Hạ nghị viện bao gồm các Dân biểu do người dân bầu cử, có nhiệm kì bốn năm. Thượng nghị viện bao gồm các Nghị sĩ do người dân bầu cử, có nhiệm kì sáu năm, mỗi ba năm bầu một nửa số Nghị sĩ. Số thành viên mỗi viện do pháp luật quy định, theo như điều khoản Hiến pháp là Hạ nghị viện có từ 100 đến 200 Dân biểu, Thượng nghị viện từ 30 đến 60 Nghị sĩ. Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu hay Nghị sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc hội.

Hiến pháp quy định Hạ nghị viện có ưu thế trong việc làm luật. Nếu Thượng nghị viện không chịu thông qua dự luật thì Hạ nghị viện có quyền chung quyết thông qua dự luật theo 2/3 tổng số Dân biểu, tức là không cần phải có sự tán thành của Thượng nghị viện. Quan hệ giữa hai viện giống như quan hệ giữa Chúng nghị viện và Tham nghị viện của Quốc hội Nhật Bản, viện trên là máy giảm tốc của công việc lập pháp, nhưng không thể thắng viện dưới.

Hành chínhSửa đổi

Chương IV tổ chức ngành hành chính. Hiến pháp quy định Tổng thống nắm giữ quyền hành pháp.[1] Tổng thống cùng Phó Tổng thống do người dân bầu lên, có nhiệm kì bốn năm. Không thể đảm nhận chức vụ Tổng thống quá hai lần. Quyền hành của Tổng thống bao gồm:

  • Ân xá, giảm hình;[2]
  • Ban phát huy chương;[2]
  • Bổ nhiệm đại sứ, kí hiệp ước, hiệp định quốc tế;[3]
  • Chỉ huy Quân lực Việt Nam Cộng hoà;[4]
  • Hoạch định chính sách;[5]
  • Tuyên bố tình trạng khẩn cấp.[6]

Mặc dù quy định Tổng thống cầm đầu ngành hành chính, Hiến pháp cũng thành lập chức vị Thủ tướng có quyền hành riêng, một phần để giải quyết vấn đề tập quyền của Đệ nhất Cộng hoà. Có thể xem sự phân công bên trong ngành hành chính là Tổng thống hoạch định chính sách, Thủ tướng thi hành chính sách và quản lí công việc hành chính. Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng trình ra các bộ trưởng, tổng trưởng để cho Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng cùng các bộ trưởng, tổng trưởng tạo thành Chính phủ tức là nội các của Tổng thống.

Tư phápSửa đổi

Chương V quy định ngành tư pháp và hệ thống toà án. Quyền tư pháp do Tối cao Pháp viện nắm giữ.

Các cơ quan đặc biệtSửa đổi

Chương VI tổ chức các "định chế đặc biệt" tức là cơ quan cố vấn trong một số phạm vi chính sách và cơ quan phụ. Có năm định chế:

  • Đặc biệt Pháp viện có quyền phế truất Tổng thống trong trường hợp phạm tội phản quốc hay những trọng tội khác.
  • Giám sát viện phụ trách chống tham nhũng và thẩm tra tài sản của công chức, kể cả Tổng thống, Thủ tướng, v.v.
  • Hội đồng Quân lực khuyên bảo Tổng thống về các việc liên hệ tới quân đội.
  • Hội đồng Văn hoá Giáo dục khuyên bảo Chính phủ về chính sách văn hoá giáo dục
  • Hội đồng Kinh tế Xã hội khuyên bảo Chính phủ về vấn đề kinh tế và xã hội.

Các quyền và nghĩa vụ của công dânSửa đổi

Quyền lợiSửa đổi

Chương II quy định các quyền của công dân. Công dân Việt Nam Cộng hòa đều có các quyền tự do: Tự do giáo dục, quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại, hồi hương, quyền tự do lập nghiệp đoàn, quyền đình công, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh, quyền tự do truyền giáo, hành đạo tín ngưỡng, và quyền tự do lập hội, Đảng chính trị.

Trước vành móng ngựa người dân được bảo vệ để cho khỏi bị oan. Trong trường hợp có nghi vấn phạm tội, không được tra tấn ép cung và phải xét xử công khai. Bị can có "quyền biện hộ" và được cho là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng buộc tội, bản án có hiệu lực, và trong trường hợp có nghi vấn thì bị can được có lợi hoặc tuyên vô tội. Các quyền này được xem là "quyền công dân căn bản" và không được vi phạm, dù cho luật thay đổi.

Các quyền chính trị của công dân được bảo vệ. Người dân có toàn quyền giữ quan điểm chính trị khác với nhà nước, quyền đối lập công khai, và quyền đối lập chính trị. Hiến pháp bảo vệ quyền hội họp, quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, và cấm mọi hình thức kiểm duyệt, ngoại trừ đối với phimkịch trường.

Đáng để ý là quân nhân không được sinh hoạt đảng phái, để giữ bộ máy quốc phòng được trung lập. Nếu đắc cử vào quốc hội, các cấp chính quyền trung ương thì phải xin giải ngũ hay nghỉ dài hạn.

Ngoài những điều trên, Hiến pháp còn chú trọng đến giáo dụcnông nghiệp. Hiến pháp năm 1967 ấn định triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hoà là dân tộc, khoa học, và nhân bản. Hiến pháp cũng có những điều khoản riêng liên hệ đến mọi thành phần xã hội: công nhân, nông dân, người kinh doanh, người tu hành, người thiểu số,... Quyền sở hữu riêng và sự riêng tư được công nhận và tôn trọng.

Nghĩa vụSửa đổi

Đánh giáSửa đổi

Tục xem Hiến pháp năm 1967 với Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946 có nhiều điểm giống nhau: do nhiều đảng cùng soạn thảo, thành lập chế độ dân chủ, không được thi hành trên thực tế do hoàn cảnh chiến tranh và vấn đề ý thức hệ.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Điều 51, Chương IV Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà năm 1967
  2. ^ a b Điều 61, Chương IV Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà
  3. ^ Điều 59, Chương IV Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà
  4. ^ Điều 60, Chương IV Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà
  5. ^ Điều 62, Chương IV Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà năm 1967
  6. ^ Điều 64, Hiến pháp Việt Nam Cộng hoà năm 1967

Sách tham khảoSửa đổi

  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.
  • Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001.
  • Nguyễn, Văn Bông (1969). Luật Hiến pháp và Chính trị học. Sài Gòn.
  • Trương, Tiến Đạt (1967). Hiến pháp chú thích. Sài Gòn.