Hiếu Minh Ông chúa

Ông chúa nhà Triều Tiên, con gái của Triều Tiên Nhân Tổ và Phế Quý nhân Triệu thị

Hiếu Minh Ông chúa (chữ Hán: 孝明翁主; tiếng Triều Tiên: 효명옹주; phiên âm: Hyomyeong Ongju; 1637 - 1700) là ông chúa, hoàng tộc nhà Triều Tiên. Vương nữ duy nhất của Triều Tiên Nhân Tổ, mẹ là Phế Quý nhân Triệu thị nổi tiếng gian ác khắp thiên hạ. Hạ giá lấy Kim Thế Long, người ở An Đông (安東), cháu trai của Kim Tự Điểm, một văn thần nổi tiếng. Tuy nhiên, sau này tước hiệu Ông chúa của bà bị bãi bỏ, nên khi nhắc đến bà, một số nguồn ghi là Phế Hiếu Minh Ông chúa.

Hiếu Minh Ông chúa
효명옹주
Ông chúa nhà Triều Tiên
Tại vị1647 - 1650
Thông tin chung
Sinh1637
Hán Thành, Triều Tiên
Mất1700 (thọ 64)
Triều Tiên
Phối ngẫuKim Thế Long (金世龍)
Hoàng tộcNhà Triều Tiên
Thân phụTriều Tiên Nhân Tổ
Thân mẫuTriệu Quý nhân

Cuộc sốngSửa đổi

Là con gái duy nhất của Triều Tiên Nhân Tổ[1] và cũng được ông yêu thương nhất. Mẹ là Quý nhân Triệu thị, hậu cung tần ngự của Nhân Tổ.

Năm 1647, được sắc phong Hiếu Minh Ông chúa (孝明翁主) ở tuổi 11.[2] Cùng năm, Nhân Tổ tuyển chọn phu quân cho bà, Triệu Quý nhân sắp xếp cho bà lấy Kim Thế Long (金世龍), cháu trai của Kim Tự Điểm (金自點), người sau này hợp lực cùng mẹ bà Triệu Quý nhân chính biến đưa Sùng Thiện quân em bà lên ngôi nhưng thất bại.[3] Tuy nhiên, sau đám cưới bà vẫn ở lại trong cung cho đến khi 13 tuổi mới về ở tại phủ đệ riêng.

Vì được phụ mẫu yêu chiều và thương yêu hết mực, bà dần trở nên kiêu ngạo và tự cao, tự cho mình là trung tâm, nổi tiếng giống mẹ mình, khiến cho mọi người đều không mấy thiện cảm với bà. 

Sau cái chết của Triều Tiên Nhân Tổ, mẹ bà Triệu Quý nhân bị buộc tội nguyền rủa Vương phi Triệu thị và Phụng Lâm Đại quân (sau là Triều Tiên Hiếu Tông) còn Hiếu Minh Ông chúa thừa nhận mình đã chôn những thứ xui xẻo bên dưới phủ của Lân Bình Đại quân. Dù có rất nhiều tấu sớ dâng lên yêu cầu chất vấn cả bà và chồng bà Kim Thế Long, nhưng chỉ có Thế Long bị tra khảo rồi bức tử giống như tổ phụ Kim Tự Điểm, người đồng lõa với Quý nhân âm mưu lật đổ Phụng Lâm Đại quân đưa Sùng Thiện quân lên ngôi. Sau đó bà bị tước phong hiệu Ông chúa (翁主) và chỉ được đề cập đến như 'Vợ của Kim Thế Long' và bị lưu đày đến Thông Xuyên, sau đổi đến Lợi Xuyên. Năm 1655, bà được Hiếu Tông ban dụ đổi nơi ở một lần nữa để bà có thể sống chung với em trai là Sùng Thiện quânLạc Tiêu quân. Ba năm sau, bà thoát khỏi sự buộc tội nhưng vẫn bị giám sát chặt chẽ bởi triều đình cho đến khi bà qua đời ở tuổi 64 năm 1700.

Gia quyếnSửa đổi

Vương gia Toàn Châu Lý thị (全州 李氏)

An Đông Kim thị (安東 金氏)

  • Chương Tổ phụ: Nghị Chính phủ (議政府) Lãnh Nghị chính(領議政) Lạc Hưng Phủ viện quân (洛興府院君) Kim Tự Điểm (金自點; 1588 - 1651)
  • Chương Tổ mẫu: Không rõ tên
    • Chương phụ: Cốc Thành Huyện giam (谷城縣監, 1620[4] - 1651)
    • Chương mẫu: Không rõ tên
      • Phò mã: Lạc Thành vệ (洛城尉) Kim Thế Long (金世龍, ? - 1651)

Trong văn hóa đại chúngSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 1626년에 태어난 인렬왕후 소생의 공주가 있으나, 공주는 태어난 해에 죽었다.
  2. ^ 《Nhân Tổ thực lục》Quyển, văn bản thứ hai ngày 24 tháng 6 năm 1647.
  3. ^ 《Triều Tiên Công chúa thực lục》 Sin Myeong-ho (신명호), Buổi đầu lịch sử (역사의 아침), 2009, p.177, ISBN 9788993119091
  4. ^ 한국역대인물 종합정보 시스템 - 한국학중앙연구원 Lưu trữ 2015-06-08 tại Wayback Machine, 김식.