Hiểu Phong Học Nột

Thiền sư Hiểu Phong Học Nột (Hangul학눌; RomajaHyobong Hangnul, 1888-1966), thiền sư nổi tiếng cận đại của thiền phái Tào Khê Hàn Quốc và từng hướng dẫn tu tập thiền tại nhiều ngôi chùa ở Hàn Quốc, nổi bật là Quảng Tòng tự (Songgwang-sa) và Hải Ấn tự (Haeinsa). Học giả Stephen Batchelor ca ngợi sư là một trong những vị đại sư đáng chú ý nhất trong thế kỷ 20 ở Hàn Quốc. Sư là người Hàn Quốc đầu tiên làm chức thẩm phán và là tông trưởng đầu tiên của Thiền phái Tào Khê. Sư là một trong những đệ tử xuất sắc nhất của Thiền sư Mãn Không(Mangong) và có nhiều đệ tử tài ba như Thiền sư Cửu Sơn (Kusan sunim; người truyền bá Thiền Tào Khê ra nước ngoài) hay Thiền sư Pháp Đỉnh (Bopjong; tác giả của nhiều tập sách Thiền học).

Thiền sư Hiểu Phong Học Nột
Thiền sư Triều Tiên
Tam.jpg

Tiểu sửSửa đổi

Sư sinh năm 1888 tại Yangdeok-gun, tỉnh Pyeongannam-do và từng học tập và tốt nghiệp ngành Luật tại Đại học Waseda Nhật Bản. Sau khi trở về Hàn Quốc, sư trở thành thẩm phán Hàn Quốc đầu tiên ở tuổi 25, nhiệm kỳ 10 năm từ 1913-1923. Tuy nhiên, vào năm nhiệm kỳ thứ 10, cuộc đời sư đối mặt với những bước ngoặt lớn.

Dưới chế độ thực dân Nhật Bản (1910-1945), khi nhiều người Hàn Quốc bị bỏ tù, giết hại vì chống đối lại sự cai trị tàn bao của thực dân Nhật để giành độc lập, chính quyền thực dân đã đưa các tù nhân này cho các thẩm phán Hàn Quốc xét xử để trốn tránh sự chỉ trích. Và tại thời điểm đó, sư là vị thẩm phán Hàn Quốc duy nhất phán xét những người tù nhân này, để có thể hoàn thành nghĩa vụ của chính quyền thực dân, sư buộc phải đưa ra bản án tử hình cho những ai kiên quyết chống đối chính quyền thực dân. Đối mặt trước nhiệm vụ này, sư đã rất đau khổ khi thấy nhiều đồng bào mình bị tử hình, cũng như sự suy thoái về đạo đức xã hội loài người cùng với việc làm sao một người có thể đành lòng phán xét cái chết đến người khác.

Qua vài ngày đau khổ như vậy, sư đã quyết định rời bỏ gia đình vợ con và chức thẩm phán mà không báo cho ai biết. Sau đó sư đi lang thang khắp Hàn Quốc và bán kẹo kéo, hàng rong. Sư sống khổ hạnh qua ngày và đi hành hương tìm kiếm chân lý.

Năm 37 tuổi, sư xuất gia tu tập tại Thần Khê tự (kr: Singyesa; nay nằm ở Bắc Triều Tiên) với Hòa Thượng Seokdu trên núi Geumgang. Sư từng đi hành cước đến nhiều nơi để tìm được vị chân sư thực sự của mình. Tuy nhiên, sau đó, sư được một vị sư thuyết phục rằng để có thể giác ngộ, tự sư phải chuyên tâm thực hành tu tập một pháp môn nào đó và đừng để tâm trí bị mê hoặc bởi lời nói của người khác, sư quyết định trở lại chùa Singyesa tu tập sau 2 năm đi hành cước. Bước vào khóa tu thiền thất (kr: kyol-che; kiết chế) 90 ngày tại Thần Khê Tự,sư bày tỏ với các vị thiền tăng ở đó rằng vì mình đã xuất gia quá trễ, trong khi phúc đức và trí huệ của mình mỏng manh nên sẽ cố gắng tu tập nhiệt thành, không lơ là. Và xin họ cho phép sư chuyên tâm tọa Thiền suốt ngày đêm, không đi kinh hành hay nghỉ ngơi. Sau khi được sự cho phép và chuyên tâm thực hành như thế, sau 3 tháng, mông sư bị viêm và lở loét, quần áo bị dính chặt vào tọa cụ. Vì sư kiên trì tọa thiền rất chú tâm và không nhúc nhích, giống như chiếc cối đá nặng nề nên được mọi người gọi biệt hiệu là Thiền giả cối đá.

Sau năm năm thực hành mãnh liệt như vậy, nhưng sư vẫn chưa đạt được sự giác ngộ. Sư qưyết định lập một am nhỏ sau ngôi điện thờ Beopgiam và đóng chặt cửa lại, chỉ để một lỗ nhỏ để đưa thức ăn vào và một chổ khuất để đi vệ sinh và tự mình hứa sẽ không rời khỏi am cho đến khi đạt giác ngộ. Sau 1 năm 6 tháng tu tập tại đây, có luồng gió lớn thổi qua rừng thông khiến cho một cành cây gãy kêu rắc rắc. Sư nghe âm thành này liền tỏ ngộ và viết bài kệ:

Hải để yến sào lộc bảo noãn

Hỏa trung chu thất ngư tiên trà

Thử gia tiêu tức thùy năng thức?

Bạch vân Tây phi, nguyệt Đông tẩu.

Dịch

Dưới biển tổ chim ấp trứng nai

Trong lò nhà nhện nấu trà ngư

Gia phong tin tức ai còn biết?

Trăng chạy về Đông, mây hướng Tây.

Sau đó, sư cũng đến thực hành bảo nhậm công phu tại nhiều ngôi thiền đường khác nhau và nhận được ấn khả từ nhiều vị Thiền sư, đặc biệt là nhận ấn chứng và nối pháp Thiền sư Mãn Không(mangong). Năm 1937, sư đến tại ngôi tổ đình Quảng Tùng Tự(Songgwangsa) của Tông Tào Khê và cảm thấy nơi đây rất thân quen. Tại đây, trong một giấc mơ kỳ lạ, sư gặp Thiền sư Gyobong- người thừa kế thứ 16 của Thiền sư Trí Nột và ngài bảo sư hãy mạng ánh sáng rực rỡ đến Quảng Tùng tự và trao cho sư một tập thơ Thiền và ban pháp danh là Hiểu Phong(Hyobong). Sư cũng tự đặt cho mình pháp danh khác là Học Nột(Hangnul), để bày tỏ sự kính trọng đối với Tổ sư Trí Nột và những điều sư đã học hỏi được từ giáo lý, tư tưởng Thiền của ngài. Trong 10 năm trụ trì tại Quảng Tùng tự, sư đã xây dựng nhiều viện phật học để đào tạo Kinh điển, Thiền học cho nhiều đệ tử và chủ trì ngôi thiền thất ở nơi đây tu tập pháp môn Thiền công án và rất hưng thịnh.

Năm 1946, chúng đề cử sư làm trụ trì tại Viện Phật Học Gaya mới khánh thành, có trụ sở tại Tổ đình Hải Ấn tự(Haeinsa), viện này chuyên đào tạo về thực hành Thiền Tông, Giới Luật, các kiến thức học tập phổ thông và niệm danh hiệu Phật cho các tăng sĩ. Đến năm 1954, sư tham gia phong trào Thanh Tịnh Hóa Phật giáo cùng nhiều vị thiền sư khác để chấn chỉnh lại sự bê tha giới luật của nhiều tăng sĩ Hàn Quốc bấy giờ do chính sách tân tăng, ép nhà sư lấy vợ từ khi chính quyền thực dân Nhật thống trị Hàn Quốc.

Năm 1962, ở tuổi 72, sư được bầu cử làm vị Tổng Trưởng đầu tiên của Thiền phái Tào Khê, và có nhiều nỗ lực đóng góp để phục hưng và phát triển tông phái này.

Thị tịchSửa đổi

Năm 1966, sức khỏe sư giảm dần, sư chuyển đến sống tại một ngôi thất ở Biểu Trung Tự (kr: Pyochungsa) ở Miryang. Đến ngày 15-10 cùng năm, sau buổi tụng kinh sáng, sư ngồi kiết già và thông báo với các môn đệ rằng ngày hôm sau sư sẽ đi. Đến hôm sau, trước sự quy tụ của nhiều môn đệ và các đồng tu, sư an nhiên tọa Thiền thị tịch, môn đệ làm lễ trà tỳ và thu được hơn 32 viên xá lợi. Trước khi tịch, sư có để lại bài Thiền kệ:

Tất cả pháp đã nói

Vốn đều là thừa thãi

Ngày nay như thế nào?

Mặt trăng chiếu ngàn sông

Tham khảoSửa đổi