Mở trình đơn chính

Hoa Hạ (chữ Hán: 華夏; bính âm: huá xià) là danh từ dùng để chỉ một chủ nghĩa văn minh, ám chỉ đến Trung Quốc hoặc các quốc gia tôn sùng nền văn minh Trung Quốc.

Hoa Hạ
Ma Yuan - Water Album - The Yellow River Breaches its Course.jpg
Bức tranh của Mã Nguyên vẽ vào đời Tống
Phồn thể 華夏
Giản thể 华夏

Đây là một chủ nghĩa tồn tại ở cả văn thư Việt Nam, Hàn QuốcNhật Bản, những nước sau khi hấp thụ đầy chủ chủ nghĩa và tư tưởng Trung Hoa cổ đại, cũng dần tự mình xem bản thân là Hoa, là văn minh.

Từ nguyênSửa đổi

Căn cứ vào ghi chép trong Tả truyện, nhà Hạ ở Trung Nguyên là một nước công bằng và chuẩn mực. Học sĩ Khổng Dĩnh Đạt (孔颖达) trong sách Xuân thu tả truyện chính nghĩa (春秋左傳正義) có giải thích: ["Trung Quốc hữu lễ nghi chi đại, cố xưng Hạ. Hữu phục chương chi mỹ, vị chi Hoa"; (Trung Quốc có lễ nghi to lớn, nên gọi Hạ. Có quần áo đẹp, cũng gọi Hoa); 中國有禮儀之大,故稱夏;有服章之美,謂之華][1].

Cũng có thể Hạ chỉ sông Hạ Thuỷ (tên khác của sông Hán Thuỷ) còn Hoa chỉ Hoa Sơn. Cả hai con sông và ngọn núi này đều có ý nghĩa lịch sử và văn hoá quan trọng thời cổ đại Trung Quốc.

Lịch sử phát triểnSửa đổi

Khoảng 4000 năm trước Công nguyên, tại khu vực Hoàng Thổ Cao Nguyên và Hành Lang Hà Tây là nơi cư trú bộ tộc Hạ, khu vực nam Tấn Quan Trung là nơi cư trú của bộ tộc Hoa, lưu vực sông Hán và nam sông Hoài là bộ tộc Xi Vưu. Năm 2700 trước Công nguyên, thủ lĩnh Hạ tộc là Hoàng Đế đông tiến chiến thắng Viêm Đế, thủ lĩnh của tộc Hoa. Hai bộ tộc này đã liên minh với nhau đánh bại tộc Xi Vưu, chiếm cả Trung Nguyên. Hai bộ tộc Hoa, Hạ dần dần hợp thành bộ tộc Hoa Hạ. Về sau Hoa Hạ còn dung hợp các tộc Tạng Miến, Thổ Hỏa La, Đông Di, Thông Cổ Tư, Tây Giới, Chúc Dung Thị, hậu duệ Xi Vưu, Hung Nô, Tiên Bi,...

Từ triều đại nhà Chu, các dân tộc và bộ tộc không ngừng hợp lại, khu vực sinh sống cũng không ngừng được mở rộng, từ lưu vực Hoàng Hà mở rộng đến khu vực sông Hoài, Tứ Thủy, Trường Giang và Hán Thủy. Từ thời Chu, điển tịch đề cập xuất hiện các cụm từ như Hoa Hạ, hay Trung Quốc (中國), ám chỉ đến vùng đất, những người có văn minh trú ở trung tâm, có lễ giáo và khu biệt với các sắc dân man, di, nhung, địch ở bốn phía. Chiến quốc sách giải thích khái niệm Trung Quốc như sau: ["Trung Quốc, nơi bậc trí tuệ thông minh cư trú, nơi vạn vật tài nguyên hội tụ..."].

Ngày nay, nhiều học giả tại Trung Quốc vẫn gọi Hán tộc và những tộc thiểu số là dân tộc Hoa Hạ. Cả nước Cộng hoà nhân dân Trung HoaTrung Hoa dân quốc đều dùng Trung Hoa để chỉ tên quốc gia. Chữ Hoa cũng thường được dùng trong người Hoa, Hoa kiều. Lịch Trung Quốc cũng được biết đến với tên gọi Hạ lịch.

Ảnh hưởng xung quanhSửa đổi

Quan niệm về Hoa Hạ, về Trung Quốc ảnh hưởng đến các quốc gia Việt NamNhật Bản trong thời gian rất dài. Học giả người Nhật là Asami Keisai từng luận về Trung Quốc, có viết: ["Nước tôi (chỉ Nhật Bản) biết đạo Xuân Thu thì nước tôi là chủ thể. Nếu coi nước tôi là chủ thể, thì thiên hạ đại nhất thống là đứng ở gốc độ của nước tôi nhìn sang nước khác (ám chỉ Trung Quốc), đó cũng chính là tôn chỉ của Khổng Tử.... Khổng Tử mà sinh ra ở Nhật Bản thì sẽ từ Nhật Bản mà luận ra tôn chỉ Xuân Thu. Hiểu như vậy mới đúng là người biết học sách Xuân Thu"].

Theo đó, bất kỳ quốc gia nào theo tôn chỉ Khổng - Mạnh, sùng bái lễ giáo, đều có tư cách xưng mình là Hoa Hạ, là Trung Quốc. Đấy là những khái niệm không mang tính địa lý, mà chỉ mang tính thế giới quan kèm chủ nghĩa văn minh. Ngoài việc mô phỏng lễ nghi và quy tắc bộ máy quan lại như Trung Quốc, các sách sử Việt Nam cũng rất nhiều lần đề cập đến chủ nghĩa này, như Đại Việt sử ký toàn thư, vào năm 1104 từng có đoạn: ["Trước đây, Lý Giác trốn sang Chiêm Thành, nói tình hình hư thực của Trung Quốc (tức Đại Việt)"][2]. Hoặc vào tháng 8 năm 1427, sau khi đuổi người Minh về, Lê Thái Tổ ban dụ cho cả nước, có viết: ["Giặc còn ở Trung Quốc, dân chúng còn chưa yên, các ngươi liệu có yên không? Trước kia, họ Hồ vô đạo, giặc thừa dịp ấy mà cướp nước ta"][3].

Đỉnh điểm chứng minh cho chủ nghĩa Hoa Hạ-Trung Quốc được tôn sùng ở Việt Nam, là bài ["Biện di luận"] của Lý Văn Phức:

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Liu, Xuediao [劉學銚] (2005). 中國文化史講稿 (bằng tiếng Trung). Taipei: 知書房出版集團. tr. 9. ISBN 978-986-7640-65-9. 
  2. ^ Nguyên văn: 初李𮗓亡占城言中國虚實.
  3. ^ Nguyên văn: 八月諭天下曰: 賊在中國, 民猶未定, 於汝安乎? 昔胡氏無道, 賊因此而奪我國家.