Mở trình đơn chính

Jordan (phiên âm tiếng Việt: Gioóc-đan theo tiếng Anh hoặc Gioóc-đa-ni theo tiếng Pháp: "Jordanie"[4], tiếng Ả Rập: الأردنAl-Urdunn), tên chính thức Vương quốc Hashemite Jordan (tiếng Ả Rập: المملكة الأردنية الهاشمية, Al Mamlakah al Urdunnīyah al Hāshimīyah) là một quốc gia Ả Rập tại Trung Đông trải dài từ phần phía nam của sa mạc Syria tới vịnh Aqaba. Nó có chung biên giới với Syria ở phía bắc, Iraq ở phía đông bắc, Israel và lãnh thổ của người Palestine về phía tây và nam. Jordan cùng với Israel phân chia Biển Chết, và bờ biển Vịnh Aqaba với Israel, Ả Rập Xê Út, và Ai Cập. Phần lớn lãnh thổ Jordan bị bao phủ bởi sa mạc, đặc biệt là sa mạc Arabia; tuy nhiên vùng tây bắc, với sông Jordan, được coi là vùng đất rất màu mỡ. Thủ đô của Jordan là Amman, nằm ở phía tây bắc.

Vương quốc Hashemite Jordan

المملكة الأردنية الهاشمية (tiếng Ả Rập)
Al-Mamlakah Al-Urdunnīyah Al-Ḥāshimīyah
Flag of Jordan.svg Coat of arms of Jordan.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Jordan
Vị trí Jordan trên thế giới
Vị trí của Jordan
Vị trí Jordan tại Trung Đông
Tiêu ngữ
الله، الوطن، الملك
Allah Al-Watan Al-Malek
(tiếng Ả Rập: "")
Thiên Chúa - Vương quốc - Hoàng đế
Quốc ca
As-salam al-malaki al-Urduni
Hành chính
Chính phủQuân chủ lập hiến
Quốc vươngAbdullah II
Thủ tướngHani Al-Mulki
Thủ đôAmman
Thành phố lớn nhấtAmman
Địa lý
Diện tích89.341 km² (hạng 110)
Múi giờEET (UTC+2); mùa hè: EEST (UTC+3)
Lịch sử
Độc lập từ Anh
11 tháng 4 năm 1921Tiểu vương quốc Ngoại Jordan
25 tháng 5 năm 1946Vương quốc Hashemite Jordan
Ngôn ngữ chính thứctiếng Ả Rập
Dân số (tháng 11 năm 2015)9.531.712 người
Mật độ107 người/km² (hạng 100)
Kinh tế
GDP (PPP) (2016)Tổng số: 86,193 tỷ USD[1] (hạng 87)
Bình quân đầu người: 11.124 USD[1] (hạng 86)
GDP (danh nghĩa) (2016)Tổng số: 39,453 tỷ USD[1] (hạng 92)
Bình quân đầu người: 5.092 USD[1] (hạng 95)
HDI (2014)0,748[2] cao (hạng 80)
Hệ số Gini (2011)35,4 [3] trung bình
Đơn vị tiền tệDinar Jordan (JD)
Thông tin khác
Tên miền Internet.jo
.الاردن

Trong lịch sử của mình, tại Jordan tồn tại rất nhiều nền văn minh, như Sumeria, Akkadia, Babylonia, Assyria, Mesopotamia, và đế quốc Ba tư. Có thời Jordan là một phần của đế quốc Ai Cập thời các vua Pharaon, và sản sinh ra nền văn minh Nabatea, để lại nhiều tàn tích khảo cổ tại Petra. Các nền văn minh phương tây cũng để lại nhiều dấu ấn tại đây, như Alexander đại đế, đế quốc La Mã, đế quốc Byzantine, và đế quốc Ottoman. Kể từ thế kỷ thứ bảy, vùng đất này nằm dưới ảnh hưởng của văn hóa Hồi giáoẢ Rập, ngoại trừ một thời gian ngắn dưới sự cai trị của đế quốc Anh.

Vương triều Hashemite tại Jordan là một vương triều quân chủ. Nhà vua cũng đồng thời là nguyên thủ quốc gia, và tổng tư lệnh quân đội. Nhà vua có quyền hành pháp, thông qua thủ tướng và hội đồng Bộ trưởng, hay nội các. Nội các, trong khi đó, chịu trách nhiệm trước Hạ nghị viện. Viện này, cùng Thượng nghị viện, hợp thành nhánh lập pháp của chính phủ. Ngành tư pháp là một ngành riêng trong chính phủ.

Mục lục

Lịch sửSửa đổi

 
Thành phố cổ Petra, một trong bảy kỳ quan mới của thế giới.
 
Di tích một thành phố cổ thời Đế quốc La MãJerash.
Bài chi tiết: Lịch sử Jordan

Từ thế kỷ XIII TCN., những dân tộc sử dụng ngôn ngữ Semit đến định cư ở vùng này với sự hình thành các vương quốc được nhắc đến trong Kinh Thánh (Gileed, Ammon, Bashan, EdomMoab). Vào thế kỷ X TCN, lãnh thổ bị sáp nhập vào vương quốc Israel. Khoảng năm 300 TCN, dòng họ Nabataean từ bán đảo Ả Rập đến thành lập vương quốc. Vương quốc này sáp nhập vào Đế quốc La Mã năm 106. Người Ả Rập chiếm vùng đất này vào thế kỷ VII. Sau thời kì Thập tự chinh (1096-1250), vùng lãnh thổ này thuộc quyền kiểm soát của nhà Mamluk (Ai Cập), rồi trở thành một phần của đế quốc Ottoman cho đến khi đế quốc này sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ I.

 
Binh lính Ả Rập trong quân đội Ả Rập nổi dậy chống lại đế quốc Ottoman năm 1916-1918.

Người Ả Rập dần dần có nhận thức về tinh thần độc lập dân tộc và mong muốn giành lại đất đai. Họ đã nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Al Sharif Hussein đòi tự do, độc lập. Tháng 6 năm 1916, Al Sharif Hussein tuyên bố toàn bộ đất đai Hedjaz (Ả Rập Xê Út ngày nay) thuộc về người Ả Rập và ông trở thành vua của nước Ả Rập mới này. Quân Ả Rập do Faysal (con trai thứ ba của Al Sharif Hussein) lãnh đạo đã liên tiếp giành thắng lợi (chiếm được vịnh Aqaba vào tháng 7 năm 1917 và Damas vào tháng 10 năm 1918). Chẳng bao lâu quân Ottoman phải rút khỏi Syria, Jordan và các quốc gia Ả Rập khác. Với sự giúp đỡ của các sĩ quan Anh, Faysal đã thành lập một chính phủ tự trị ở Damas. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Faysal đã xây dựng một nhà nước Ả Rập ở Syria, bao gồm cả Jordan, PalestineLiban kéo dài từ Alepplo (phía bắc) tới Aqaba (giáp Hồng Hải).

Tháng 4 năm 1920 Anh, Pháp bí mật ký Hiệp định San Remo, chia cắt Syria thành nhiều phần dưới ảnh hưởng của Anh, Pháp. Palestine bao gồm cả Jordan đặt dưới sự uỷ trị của Anh, còn Syria, Liban giao cho Pháp. Faysal buộc phải rút khỏi Damas. Năm 1922, Hội quốc liên quy định biên giới Palestine chỉ đến miền tây sông Jordan, phần phía đông sông Jordan (Transjordan) là một quốc gia riêng biệt. Từ năm 1921, tiểu vương quốc phía Đông sông Jordan là Transjordan trở thành lãnh thổ ủy trị của Anh. Sau Thế Chiến II, Anh buộc phải huỷ bỏ chế độ uỷ trị, công nhận Transjordan là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Ngày 22 tháng 3 năm 1946, hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và đồng minh. Ngày 25 tháng 5 năm 1946, Jordan được hoàn toàn độc lập, hoàng tử Abdallah Bin Hussein (con trai thứ hai của Al Sharif Hussein) được suy tôn làm vua hợp pháp, đổi tên nước thành Vương quốc Hashemite Jordan. Ngày 14 tháng 12 năm 1955, Jordan chính thức gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Quốc vương Abdullah đã tham gia cuộc chiến chống lại Nhà nước Israel vừa mới ra đời. Năm 1949, Quốc vương Abdullah ra lệnh cho quân đội tinh nhuệ của ông (do Anh thành lập năm 1928) sáp nhập lãnh thổ phía Tây sông Jordan bất chấp sự phản đối của các nước Ả Rập khác và đổi tên nước thành Vương quốc Al Jordaniyah al Hashimiyah. Năm 1951, Abdullah bị một người Palestine ám sát. Năm 1952, Quốc vương Hussein lên kế vị cha là Talal bị truất phế vì bệnh tâm thần.

 
Quốc vương Jordan Hussein (trái) bắt tay với Thủ tướng Israel Yitzhak Rabin (phải) sau khi ký kết Hiệp ước Hòa bình Israel-Jordan, ngày 26 tháng 10 năm 1994, người đứng giữa là Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton.

Năm 1956, Quốc vương Hussein ủng hộ Ai Cập trong cuộc Khủng hoảng Kênh đào Suez, nhưng chỉ một năm sau đó, Hussein sa thải những thành phần thân với Tổng thống Gamal Abdel Nasser của Ai cập đang nắm giữ các chức vụ chủ chốt. Để cân bằng với Cộng hòa Ả Rập Thống nhất (Liên minh Ai Cập - Syria), Liên minh Jordan - Iraq được hình thành vào tháng 2 năm 1958 nhưng đã tan rã sau cuộc cách mạng Baghdad vào tháng 7 năm đó. Vì cảm thấy bị đe dọa, Quốc vương kêu gọi sự giúp đỡ của phương Tây.[5]

Năm 1967, Jordan liên minh với Ai Cập trong cuộc Chiến tranh Sáu ngày. Israel đánh chiếm lại vùng bờ Tây sông Jordan và phía Đông Jerusalem, hàng ngàn người tị nạn Palestine phải đi lánh nạn. Sau chiến tranh, Quốc vương Hussein phải đương đầu với quân du kích Palestine mưu toan nắm lấy quyền lực hoàng gia. Năm 1970, quân đội hoàng gia đã can thiệp và trục xuất người Palestine sang LibanSyria.

Năm 1978, tiếp theo sau hiệp định hòa bình Camp David được ký kết giữa IsraelAi Cập, mối giao hảo giữa Jordan và Palestine cũng trở nên thân thiện hơn. Năm 1984, Jordan lập lại mối quan hệ với Ai Cập. Năm 1988, sau cuộc nổi dậy của người Palestine ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, Quốc vương Hussein đã giải tán Quốc hội Jordan trong đó các đại biểu người Palestine chiếm đến 60 thành viên và tuyên bố cắt đứt mọi ràng buộc hành chính giữa Jordan và vùng lãnh thổ thuộc bờ Tây sông Jordan.

Jordan ủng hộ Iraq trong Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991. Năm 1994, Jordan ký hiệp ước hòa bình với Israel nhưng chính sách cứng rắn của Israel kể từ khi Thủ tướng Benjamin Netanyahu lên nắm quyền (1996) đã gây không ít lo lắng cho Jordan. Năm 1999, Quốc vương Hussein qua đời, con trai là Abd Allah lên nối ngôi và theo đuổi chính sách hoàn toàn độc lập với vua cha.

Chính trịSửa đổi

Bài chi tiết: Chính trị Jordan

Đối nộiSửa đổi

Jordan theo chế độ quân chủ lập hiến. Vua chỉ định Thủ tướng. Thủ tướng lựa chọn Hội đồng Bộ trưởng. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Quốc hội bao gồm Thượng nghị viện (do vua chỉ định) và Hạ nghị viện do dân cử. Trước đây các đảng phái chính trị đều bị cấm hoạt động (trừ Liên minh dân tộc Ả Rập do vua Hussein lập ra năm 1972).

Các tổ chức chính gồm có:

-Đảng Xã hội phục hưng Ả Rập (Baath)

-Đảng Cộng sản Jordan

-Tổng liên đoàn các nghiệp đoàn Jordan.

Từ cuối những năm 1980, đầu 1990, do ảnh hưởng của xu thế chung trên thế giới và đòi hỏi cấp bách của tình hình trong nước, Jordan đã dần dần điều chỉnh chính sách, thực hiện dân chủ hoá và đa đảng, bãi bỏ lệnh thiết quân luật (ban hành từ 1967). Tháng 7 năm 1992 xoá bỏ lệnh cấm các đảng phái chính trị hoạt động. Năm đảng mới được chính thức đăng ký hoạt động gồm Jordan National Alliance, Pledge Party, Islamic Action Party, Popular Union Party, Future Party.

Tháng 12 năm 1992, Quốc hội Jordan thông qua luật báo chí và phát hành, cho phép các đảng được tự do phát hành báo trong thời gian 40 năm đầu. Đây là những bước chuyển quan trọng, tiến tới tự do hoá về chính trị.

Đảng cộng Sản Ở JordanSửa đổi

1.Đảng Cộng sản Jordan (JCP; tiếng Ả Rập: Tiếng Việt), al-Hizb al-Shuyu'i al-Urduni) là một đảng cộng sản ở Jordan, được thành lập năm 1948. Tổng thư ký hiện tại của nó là Tiến sĩ Munir Hamarana. Nó xuất bản al-Jamahir (Tiếng Việt, 'Thánh lễ').

Lịch sửSửa đổi

Vào tháng 6 năm 1951, những người cộng sản Palestine ở Bờ Tây, sau đó được tổ chức trong Liên đoàn Giải phóng Quốc gia Palestine, đã gia nhập JCP. Trong những năm tới, thành trì chính của đảng là ở Bờ Tây, và sự lãnh đạo của đảng chủ yếu là người Palestine. Trước khi sáp nhập vào JCP, những người cộng sản Palestine đã phản đối việc sáp nhập Bờ Tây của Jordan. Tuy nhiên, vào năm 1951, chính sách đó đã bị đảo ngược và JCP đã công nhận Bờ Tây là một phần của Jordan.

Các nhà lãnh đạo chính trong giai đoạn đầu là Fu'ad Nassar, Fahmi al-Salfiti và Fa'iq Warrad. Đảng đã đạt được ảnh hưởng giữa các trí thức đô thị ở Nablus và Jerusalem. Đặc biệt, đảng đã phát triển một vị trí vững chắc trong làng Salfit bên ngoài Nablus, nơi mà nhiều nhà lãnh đạo JCP nổi tiếng được ca ngợi. Các khu vực khác mà bữa tiệc hoạt động là Ramallah, Bethlehem và trong số những người tị nạn gần Jericho. Cơ quan chính của đảng là al-Muqawamah ash-Shabiya (Tiếng Việt), một cuộc xuất bản hàng tháng.

Đảng phải đối mặt với sự đàn áp khắc nghiệt từ nhà nước Jordan. Vào ngày 29 tháng 12 năm 1951, Fu'ad Nasser bị bắt. Anh ta bị kết án mười năm tù giam. Năm 1953, một đạo luật đã được thông qua đã ra lệnh cưỡng bức lao động cho các cán bộ JCP. Tuy nhiên, bữa tiệc vẫn tiếp tục hoạt động một cách bí mật.

Đảng đã xây dựng các tổ chức đoàn thể, như Hiệp hội Thanh niên Dân chủ và Đảng Hòa bình. Vào tháng 5 năm 1954, nó đã thành lập Mặt trận Quốc gia, qua đó đảng này tham gia cuộc bầu cử năm đó. Trong cuộc bầu cử đó, Mặt trận Quốc gia đã giành được một ghế trong nghị viện, Abd al-Qadir Salih từ Nablus.

Đảng này đã đạt đến đỉnh cao ảnh hưởng vào năm 1956-1957, sau cuộc khủng hoảng Suez và trong các cuộc vận động chống lại Hiệp ước Anh-Jordan. Trong cuộc bầu cử năm 1956, Mặt trận Quốc gia đã giành được ba ghế. Salih vẫn giữ được ghế của mình, và Fa'iq Warrad đã giành chiến thắng ở Ramallah và Yaqub Ziyadin giành được một ghế ở Jerusalem. Sau các cuộc bầu cử, đã có một buổi khai mạc ngắn cho bữa tiệc. Salih được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Nông nghiệp trong chính phủ của Nablusi. Các tù nhân, như Fu'ad Nassar, đã được ra tù. Báo chí đảng có thể được lưu hành công khai. Đối thủ chính của nó vào thời điểm đó là Đảng Ba'ath, cũng tìm cách xâm nhập vào giữa các khu vực thế tục.

Việc mở tuy nhiên sẽ trở nên rất ngắn. Vào tháng 1 năm 1957, Vua Hussein đã tấn công đảng và những người cộng sản bị buộc tội hợp tác với Israel. Ziyadin và Warrad đã bị bắt, sau khi bãi bỏ quyền miễn trừ của quốc hội. Họ đã bị kết án lần lượt 19 và 16 năm tù. Các hoạt động của đảng gần như dừng lại, ngoại trừ việc đào tạo cán bộ nội bộ và xuất bản al-Muqawamah ash-Shabiya.

Vào giữa những năm 1960, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ước tính số thành viên của đảng là khoảng 500. [1]

Đồng thời, đảng bị chia rẽ nội bộ. Tổng bí thư diễn xuất tại Amman, Fahmi al-Salfiti đã lãnh đạo các bộ phận vừa phải của bữa tiệc. Ông đại diện cho mối quan hệ với triều đại Hashemite. Ông phản đối các hành động du kích và bày tỏ ý chí rằng Vua Hussein sẽ giữ vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống lại Israel. Phần al-Salfiti hỗ trợ Nghị quyết 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Al-Salfiti bị phản đối bởi giới lãnh đạo lưu vong, do tổng bí thư đảng Fu'ad Nassar lãnh đạo.

Sau cuộc chiến sáu ngày (5 tháng 10 năm 1967), tổ chức đảng ở Bờ Tây được lãnh đạo bởi Na'im al-Ashhab, Sulayman al-Najjab, 'Arabi' Awwad và sau đó là Bashir Barghuti. Ở Bờ Tây, bữa tiệc bắt đầu xuất bản al-Watan (Tiếng Việt, "Tổ quốc"). Dưới sự chỉ đạo của al-Ashhab, những người cộng sản ở Bờ Tây vẫn thận trọng với cuộc đấu tranh vũ trang, cho rằng đó là quá sớm trong các điều kiện hiện có. Tuy nhiên, kịch bản chính trị đã thay đổi ở Bờ Tây sẽ buộc các nhà hoạt động địa phương phải xem xét lại lập trường của họ. Các vị trí ủng hộ Jordan của đảng và sự mơ hồ của nó đối với cuộc đấu tranh vũ trang ngày càng trở nên rắc rối. Những người cộng sản ở Bờ Tây đã tiến gần hơn đến phong trào giải phóng Palestine. Đến năm 1973, những người cộng sản ở Bờ Tây đã ủng hộ việc thành lập một nhà nước Palestine độc ​​lập ở Bờ Tây và Gaza. Những phát triển này làm căng thẳng mối quan hệ giữa những người cộng sản ở Bờ Tây và sự lãnh đạo chính thức của họ ở Amman.

Khi lưu vong, Fu'ad Nassar đã xây dựng một lực lượng dân quân vũ trang cho cộng sản Palestine, Lực lượng al-Ansar, vào tháng 3 năm 1970. Về lý thuyết, Lực lượng al-Ansar sẽ vẫn nằm dưới sự giám sát của JCP, Đảng Cộng sản Syria và Iraq. Đảng cộng sản. Trong thực tế, nhóm sẽ không đóng vai trò chính, phần lớn là do sự thụ động của JCP. Đến năm 1975, cấu trúc bị giải tán.

Năm 1975, những người cộng sản ở Bờ Tây đã tách ra thành hai tổ chức riêng biệt. Chi nhánh ủng hộ Salfiti thành lập Tổ chức Thanh niên Cộng sản Palestine. Nhóm còn lại trong JCP được tổ chức lại thành "Tổ chức Cộng sản Palestine", đã đạt được vị thế tự trị trong JCP.

Vào ngày 10 tháng 2 năm 1982, sau nhiều cuộc tranh luận, Tổ chức Cộng sản Palestine đã bị tách khỏi JCP. Đảng Cộng sản Palestine được thành lập như một đảng riêng biệt, sáp nhập chi nhánh JCP ở Bờ Tây và Tổ chức Cộng sản Palestine ở Gaza. [2]

JCP vẫn bất hợp pháp cho đến năm 1993.

2. Đảng Dân chủ Dân chủ Jordan (bằng tiếng Ả Rập: Hizb Al-Sha'ab Al-Dimuqrati Al-Urduni, حزب الشعب الديمقراطي الأردني, viết tắt HASHD), là một đảng chính trị ở Jordan. HASHD được thành lập vào năm 1989, khi Mặt trận Dân chủ Giải phóng Người Palestin đã điều hành chi nhánh của họ ở Jordan để trở thành một đảng riêng biệt.

3. Đảng Toiler Cộng sản Jordan (bằng tiếng Ả Rập: Hizb al-Shaghghilah al-Shuyu'iyah al-Urduni, حزب الشغّيلة الشيوعية الأردني) là một đảng chính trị cộng sản ở Jordan. Đảng được thành lập năm 1997, thông qua sự chia rẽ trong Đảng Cộng sản Jordan (JCP). Đảng này đã sử dụng tên Đảng Cộng sản Jordan cho đến khi đăng ký với chính quyền Jordan với tên Đảng Cộng sản Jordan của đảng Cộng hòa. [1] Đảng được coi là chính thống hơn trong ý thức hệ của nó hơn JCP.

Đối ngoạiSửa đổi

Jordan là một nước của Phong trào không liên kết, quan hệ tốt, hài hoà với phần lớn các nước Ả Rập nhằm tranh thủ sự giúp đỡ về kinh tế. Jordan công nhận quyền tự quyết của nhân dân Palestine và nêu yêu cầu Israel phải rút khỏi các vùng bị chiếm đóng từ 1967. Jordan tán thành nghị quyết 242 và 338 của Liên Hiệp Quốc về vấn đề Trung Đông, hoan nghênh sáng kiến hoà bình Trung Đông do Ả Rập Xê Út đưa ra năm 2002, ủng hộ lộ trình hoà bình.

Ngày 31 tháng 7 năm 1988, Vua Hussein quyết định cắt đứt các quan hệ hành chính, pháp lý với Tây Jordan. Jordan có quan hệ gần gũi với Mỹphương Tây. Bình thường hoá quan hệ với Israel (cùng lập Sứ quán tại Thủ đô của nhau ngày 11 tháng 12 năm 1994), mở cửa biên giới và đẩy mạnh hợp tác giữa hai nước.

Địa lýSửa đổi

 
Biển Chết điểm thấp nhất trên bề mặt trái đất mặn gấp 9 lần nước biển thường.
Bài chi tiết: Địa lý Jordan

Jordan nằm ở Tây Á, vùng Trung Đông, phần trên của bán đảo Ả Rập. Tây giáp Israel, Bắc giáp Syria, Đông Bắc giáp Iraq, Đông và Nam giáp Ả Rập Xê Út. Địa hình phần lớn được tạo thành bởi một vùng cao nguyên đá vôi khô cằn, dọc theo biên giới phía Tây là vùng trũng gồm dải đồng bằng hẹp thuộc lưu vực sông Jordanbiển Chết, phía Tây Nam có một lối thông ra biển Đỏ (vịnh Akaba).

Hành chínhSửa đổi

Jordan được chia thành 12 Governorates (tỉnh) và được phân chia tiếp thành 54 Nahias (huyện).

Về mặt địa lý, các Governorates của Jordan được phân thành ba khu vực, khu vực miền Bắc, miền Trung và khu vực phía Nam. Ba vùng địa lý phân bố không theo khu vực hoặc quần thể, mà là do kết nối địa lý và khoảng cách giữa các trung tâm dân cư. Khu vực phía Nam được ngăn cách với khu vực miền Trung bởi dãy núi Moab trong Governorate Kerak. Các khu dân cư của khu vực miền Trung và miền Bắc được tách về mặt địa lý bởi các ngọn núi của Governorate Jerash.

STT. Governorate (tỉnh) Thủ phủ
 
Bản đồ các Governorate của Jordan
1 Irbid Irbid
2 Ajloun Ajloun
3 Jarash Jerash
4 Mafraq Mafraq
5 Balqa Salt
6 Amman Amman
7 Zarqa Zarqa
8 Madaba Madaba
9 Karak Al Karak
10 Tafilah Tafilah
11 Ma'an Ma'an
12 Aqaba Aqaba

Kinh tếSửa đổi

Bài chi tiết: Kinh tế Jordan

Jordan là một nước nhỏ, tài nguyên thiên nhiên không nhiều, đặc biệt không có dầu mỏ. Khoáng sản chính có phốt phát, xi măng, ngoài ra có quặng sắt, đồng, thạch cao, măng gan và muối khoáng ở vùng Biển Chết. Công nghiệp chủ yếu là các ngành khai thác. Jordan đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu phốt phát (sau Maroc, Mỹ). Năm 1988, sản lượng khai thác phốt phát đạt gần 6,5 triệu tấn. Xuất khẩu phốt phát chiếm 35,2% tổng số xuất khẩu (1989). Từ 1990 do ảnh hưởng của chiến tranh Vùng Vịnh, xuất khẩu phốt phát của Jordan bị giảm dần. Ngoài ra còn có một số nhà máy xi măng, hoá chất khác và một nhà máy lọc dầu (dầu thô do Ả Rập Xê ÚtIraq cung cấp). Tính đến năm 2016, GDP của Jordan đạt 39.453 USD, đứng thứ 91 thế giới, đứng thứ 30 châu Á và đứng thứ 11 Trung Đông.

  • GDP: 22,56 tỷ USD (2009).
  • GDP đầu người: 3557 USD (2009).
  • Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế: 3,1% (2009).(Năm 2008 là 5,6%, năm 2007 là 6,6%)
  • Thất nghiệp: 13,5% (2009). (Năm 2008 là: 12,6%),
  • Lạm phát: 1,7% (2009). (Năm 2008 là: 14,9%)
  • Xuất khẩu: 6,989 tỷ USD (2009). (Năm 2008 là 7,782 tỷ USD)
  • Mặt hàng xuất khẩu: Quần áo may sẵn, rau quả, thuốc men, quặng phốt phát...
  • Nhập khẩu: 12,31 tỷ USD (2009). (Năm 2008 là 14,99 tỷ USD)

Mặt hàng nhập khẩu: dầu thô, máy móc thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, lương thực, hàng tiêu dùng, thực phẩm, quặng sắt...

  • Ngân sách Nhà nước: 8,223 tỷ USD (2009).
  • Dự trữ ngoại tệ: 10,29 tỷ USD (2009).
  • Sản phẩm công nghiệp chiếm 26% GDP.

Đất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 25% tổng diện tích toàn quốc tập trung ở các vùng trũng quanh lưu vực sông Jordan và phụ lưu là sông Yarmuk. Sản phẩm nông nghiệp chiếm 8% GDP, gồm lúa mì, đại mạch, ô liu, đậurau quả các loại. Chăn nuôi có bò sữa, cừu, gia súc.

Jordan nhập khẩu lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng.

Từ cuối thập kỷ 80, kinh tế Jordan khủng hoảng nghiêm trọng. Chiến tranh Iran-Iraq kết thúc, các khoản tiền viện trợ cho không của các nước sản xuất dầu Vùng Vịnh bị cắt giảm và số tiền của người Jordan lao động ở nước ngoài chuyển về cũng bị giảm nhiều.

Nhân khẩuSửa đổi

Bài chi tiết: Nhân khẩu Jordan

Bộ Thống kê Jordan ước tính dân số 2011 là 6.249.000 người.[6] Có 946.000 hộ gia đình ở Jordan vào năm 2004, với mức trung bình là 5,3 người/hộ gia đình (so với 6 người/hộ gia đình điều tra dân số năm 1994).[7]

Một nghiên cứu được xuất bản bởi Luigi Luca Cavalli-Sforza thấy rằng di truyền học của người Jordan là gần gũi nhất với người Assyria trong số tất cả các dân tộc khác của Tây Á.[8]

Nhập cư và tỵ nạnSửa đổi

Trong năm 2007, đã có 700.000 đến 1.000.000 người Iraq ở Jordan.[9] Kể từ khi xảy ra cuộc chiến Iraq nhiều Kitô hữu từ Iraq đã định cư vĩnh viễn hoặc tạm thời ở Jordan, với số lượng ước tính khoảng 500.000 người.[10] Ngoài ra còn có 15.000 người Lebanon di cư đến Jordan sau cuộc chiến tranh năm 2006 với Israel.[11]

Có khoảng 1.200.000 người di cư bất hợp pháp và khoảng 500.000 lao động nhập cư hợp pháp người Jordan tại Anh.[12] Hơn nữa, có hàng ngàn phụ nữ nước ngoài làm việc trong câu lạc bộ đêm, khách sạn và quán bar trên khắp vương quốc Jordan, chủ yếu từ Đông ÂuBắc Phi.[13][14]

Jordan còn là nơi ở của một số người nước ngoài như người Mỹ và châu Âu tương đối lớn tập trung chủ yếu ở thủ đô là nơi có nhiều tổ chức quốc tế và cơ quan đại diện ngoại giao hoạt động trong khu vực của họ ở Amman.[15]

Theo tổ chức UNRWA, Jordan là nơi tỵ nạn của 1.951.603 người Palestine trong năm 2008, hầu hết họ đã được công nhận là các công dân Jordan.[16] Có 338.000 người trong số họ đang sống trong các trại tị nạn UNRWA. Jordan đã thu hồi quốc tịch của hàng ngàn người Palestine để ngăn chặn bất kỳ nỗ lực để tái định cư nào của họ tại Bờ Tây của Jordan.

Ngôn ngữSửa đổi

Ngôn ngữ chính thức là tiếng Ả Rập tiêu chuẩn hiện đại, một ngôn ngữ được giảng dạy trong các trường học. Các ngôn ngữ bản địa hầu hết của Jordan là tiếng địa phương Jordan được phát triển dựa trên tiếng Ả Rập, một phiên bản chuẩn của tiếng Ả Rập với nhiều ảnh hưởng của tiếng Anh, tiếng Pháptiếng Thổ Nhĩ Kỳ.

Tiếng Anh, mặc dù không có tư cách chính thức, vẫn được sử dụng rộng rãi trong cả nước và trên thực tế là ngôn ngữ của thương mại tài chính, cũng như tình trạng chính thức được dạy trong ngành giáo dục, hầu như tất cả các lớp bậc đại học được dạy bằng tiếng Anh.

Tiếng Nga, tiếng Circassian, tiếng Armenia, tiếng Tagalog, tiếng Tamil, và tiếng Chechnya là khá phổ biến trong cộng đồng của họ và được thừa nhận rộng rãi trong vương quốc.

Người ta tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả các trường công lập trong cả nước dạy tiếng Anh và tiếng Ả Rập tiêu chuẩn (mức độ). Tiếng Pháp là ngôn ngữ tự chọn trong nhiều trường học, chủ yếu là trong khu vực tư nhân. L'Ecole française d'Amman và Lycée français d'Amman là trường học tiếng Pháp nổi tiếng nhất ở thủ đô. Tiếng Pháp vẫn là một ngôn ngữ cấp cao ở Jordan, mặc dù không được công nhận chính thức.

Tiếng Đức là một ngôn ngữ ngày càng phổ biến trong tầng lớp thượng lưu và có học vấn cao, nó đã được giới thiệu tại trường Đại học Deutsch, còn gọi là trường Đại học Đức-Jordan.[17]

Các phương tiện truyền thông trong Jordan chủ yếu sử dụng tiếng Anh, với nhiều chương trình và bộ phim được chiếu trên truyền hình địa phương và các rạp chiếu phim. Tiếng Ả Rập Ai Cập là ngôn ngữ điện ảnh rất phổ biến, với nhiều phim Ai Cập được trình chiếu trong các rạp chiếu phim trên toàn quốc.

Các chương trình truyền hình và các bản tin của chính phủ Jordan sử dụng tiếng Ả Rập (Tiêu chuẩn Jordan), tiếng Anh và tiếng Pháp, Đài phát thanh Jordan cung cấp dịch vụ vô tuyến tiêu chuẩn tiếng Ả Rập, các phương ngữ Jordan (chính thức), tiếng Anh và tiếng Pháp.

Tôn giáoSửa đổi

 
Một nhà thờ Chính Thống giáo Hy Lạp ở Amman

Hồi giáo là tôn giáo chính thức và khoảng 92% dân số là người Hồi giáo, chủ yếu là dòng Sunni.

Bài chi tiết: Tôn giáo ở Jordan

Jordan có luật tự do tôn giáo, nhưng chính quyền đã không bảo vệ tất cả các nhóm tôn giáo dân tộc thiểu số. Người Hồi giáo chuyển đổi sang một tôn giáo khác cũng như các nhà truyền giáo không phải Hồi giáo bị đối mặt với sự kỳ thị của xã hội và pháp lý nước này.[18]

Theo tổ chức Legatum Prosperity Index, 46,2% dân số của Jordan thường xuyên tham dự các nghi lễ tôn giáo trong năm 2006.[19]

 
Nhà thờ Hồi giáo Abu Darweesh

Jordan có một cộng đồng Kitô giáo thiểu số bản địa. Kitô hữu chiếm 30% dân số Jordan vào năm 1950.[20] Kitô hữu Jordan là một trong những cộng đồng Kitô giáo lâu đời nhất trên thế giới.[21] Kitô hữu đã cư trú tại Jordan sau khi Chúa Giê-su bị đóng đinh, vào đầu thế kỷ I. Kitô giáo hiện nay ở Jordan được ước tính là 174.000 đến 390.000 người chiếm 2,8- 6% dân số,[22] giảm gần 20% trong những năm đầu thế kỷ XX, và thấp hơn so với tỷ lệ phần trăm của các Kitô hữu ở nước láng giềng Syria và Lebanon. Điều này diễn ra phần lớn là do giảm tỷ lệ sinh so với người Hồi giáo và một làn sóng mạnh mẽ của những người nhập cư Hồi giáo từ các nước láng giềng.

Các nhóm tôn giáo thiểu số khác ở Jordan bao gồm đức tin Hồi giáo Druze và Bahá'í. Người Druze chủ yếu sống ở thị trấn phía đông ốc đảo Azraq, một số làng ở biên giới Syria và thành phố Zarka, trong khi Adassiyeh ngôi làng giáp với thung lũng Jordan là nơi có cộng đồng Bahá'í Jordan.

Sức khỏe y tếSửa đổi

Bài chi tiết: Y tế Jordan

Jordan luôn tự hào về các dịch vụ y tế của mình, là một trong những nước có dịch vụ y tế tốt nhất trong khu vực.[23] Con số Chính phủ đưa ra về tổng chi tiêu y tế vào năm 2002 là 7,5% GDP, trong khi các tổ chức y tế quốc tế đưa ra con số thậm chí còn cao hơn, vào khoảng 9,3% GDP. CIA World Factbook ước tính tuổi thọ trung bình tại Jordan là 80,18, cao thứ hai trong khu vực (sau khi Israel).[24] Nhưng số liệu của WHO đưa ra con số thấp hơn đáng kể, với 73,0 vào năm 2011.[25] Có 203 bác sĩ trên 100.000 người trong những năm 2000-2004.[26]

Hệ thống y tế của đất nước được phân chia giữa các tổ chức công cộng và tư nhân. Trong khu vực công, Bộ Y tế hoạt động 1.245 trung tâm chăm sóc sức khỏe và 27 bệnh viện, chiếm 37% tổng số bệnh viện trong cả nước. Dịch vụ y tế Hoàng gia của quân đội có 11 bệnh viện, cung cấp 24% tổng số bệnh viện; và Bệnh viện Đại học Jordan chiếm 3% trong tổng số bệnh viện cả nước. Khu vực tư nhân cung cấp 36% của tất cả các giường bệnh, phân bố trong 56 bệnh viện. Trong ngày 1 tháng 6 năm 2007, Bệnh viện Đại học Jordan (bệnh viện tư nhân lớn nhất) là bệnh viện chuyên khoa đầu tiên được công nhận tiêu chuẩn quốc tế JCAHO.[27] Trung tâm Ung thư Hussein là một trung tâm điều trị ung thư hàng đầu khu vực.

Jordan hiện có 70% dân số có bảo hiểm y tế[28], tỷ lệ tiêm chủng ở trẻ em đã tăng đều trong 15 năm qua. Năm 2002 tiêm chủng phòng ngừa đạt hơn 95% trẻ em cả nước[27] và vệ sinh môi trường, cung cấp cho chỉ có 10 % dân số vào năm 1950, bây giờ đạt 99%, theo thống kê của chính phủ.[29]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b “Jordan”. International Monetary Fund. 
  2. ^ “2015 Human Development Report Summary” (PDF). United Nations Development Programme. 1 tháng 1 năm 2015. tr. 21–25. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2016. 
  3. ^ “Gini index”. World Bank. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ http://www.mofa.gov.vn/vi/cn_vakv/nr040830134623/
  5. ^ http://en.wikipedia.org/wiki/Jordan
  6. ^ http://www.dos.gov.jo/dos_home_e/main/ehsaat/alsokan/2011/2-1.pdf
  7. ^ http://web.archive.org/web/20070112050410/http://www.dos.gov.jo/census2004/page1.htm
  8. ^ Luigi Luca Cavalli-Sforza, Paolo Menozzi, Alberto Piazza. The history and geography of human genes. princeton University press.
  9. ^ Leyne, Jon (2007-01-24). "Doors closing on fleeing Iraqis". BBC News. Truy cập 2013-01-17.
  10. ^ http://www.catholiccourier.com/cc/index.cfm/news/world-nation/iraqi-refugees-in-jordan-are-guests-with-few-privileges/#sthash.qEOYDuYX.dpbs
  11. ^ http://wayback.archive.org/web/20060823012613/http://www.jordanembassyus.org/08042006006.htm
  12. ^ http://jordantimes.com/jordan-faces-challenge-of-meeting-migrants-health-demands----study
  13. ^ http://books.google.com.vn/books?id=mbhHcOzn32EC&pg=PA11&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false
  14. ^ http://www.womendialogue.org/magazine/conditions-domestic-workers-middle-east
  15. ^ http://www.state.gov/r/pa/ei/bgn/3464.htm
  16. ^ http://web.archive.org/web/20080713042517/http://www.un.org/unrwa/publications/index.html
  17. ^ http://www.amman.diplo.de/contentblob/2563044/Daten/630800/GPCCA_Downloaddatei.pdf
  18. ^ Meral, Ziya (2008). No Place to Call Home. Surrey, UK: Christian Solidarity Worldwide.
  19. ^ Variables – Attended a place of worship in past week? (% yes)". Legatum Institute.
  20. ^ http://articles.latimes.com/2009/may/10/world/fg-tribal-catholic10
  21. ^ Address to Pope Benedict XVI at the King Hussein Mosque, Amman, Jordan by Prince Ghazi bin Muhammad bin Talal
  22. ^ http://www.bbc.co.uk/news/world-middle-east-15239529
  23. ^ http://www.bbc.co.uk/news/world-middle-east-14631981
  24. ^ http://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/rankorder/2102rank.html?countryName=Jordan&countryCode=jo&regionCode=mde&rank=29#jo
  25. ^ http://applications.emro.who.int/docs/RD_Annual_Report_2011_country_statistics_EN_14587.pdf
  26. ^ http://hdr.undp.org/en/media/HDR_20072008_EN_Indicator_tables.pdf
  27. ^ a ă http://lcweb2.loc.gov/frd/cs/profiles/Jordan.pdf
  28. ^ http://www.jordaninvestment.com/default.aspx?tabid=76&language=en-US#
  29. ^ http://www.kinghussein.gov.jo/resources4.html

Liên kết ngoàiSửa đổi