Jeon Jung-kook

Thành viên nhỏ tuổi nhất nhóm nhạc nam Hàn Quốc BTS
(đổi hướng từ Jungkook (ca sĩ))
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Jeon.

Jeon Jung-kook (Hangul전정국; sinh ngày 1 tháng 9 năm 1997), thường được biết đến với nghệ danh Jungkook (cách điệu là Jung Kook) là một nam ca sĩ, nhạc sĩ, vũ côngnhà sản xuất thu âm người Hàn Quốc. Anh là thành viên nhỏ tuổi nhất của nhóm nhạc nam BTS do công ty Big Hit Entertainment thành lập và quản lý.

Jungkook
Jungkook for Dispatch "Boy With Luv" MV behind the scene shooting, 15 March 2019 07 (cropped).jpg
Jungkook trên trường quay video âm nhạc "Boy with Luv" của BTS vào ngày 15 tháng 3 năm 2019
Tên bản ngữ정국
SinhJeon Jung-kook
1 tháng 9, 1997 (23 tuổi)
Busan, Hàn Quốc
Quốc tịch Hàn Quốc
Nghề nghiệp
Chiều cao179 cm (5 ft 10 in)
Giải thưởngROK Order of Cultural Merit Hwa-gwan (5th Class) ribbon.PNG Huân chương Văn hóa Hwangwan (2018)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2013–nay
Hãng đĩaBig Hit Entertainment
Hợp tác vớiBTS
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
전정국
Hanja
Romaja quốc ngữJeon Jeong-guk
McCune–ReischauerChŏn Jŏngguk
Hán-ViệtĐiền Chính Quốc
Chữ ký
Signature of BTS' Jungkook.svg

Tiểu sửSửa đổi

Jeon Jung-kook sinh ngày 1 tháng 9 năm 1997Busan, Hàn Quốc, là em út trong một gia đình gồm hai anh em, anh trai của anh tên là Jung-hyun.[2][3][4] Anh theo học trường tiểu học và trung học Baekyang ở Busan.[4][5] Khi trở thành thực tập sinh, anh chuyển đến trường trung học Singu ở Seoul.[6] Ban đầu Jungkook có ước mơ trở thành một tay vợt cầu lông khi còn trẻ, nhưng sau khi xem G-Dragon biểu diễn "Heartbreaker" trên truyền hình, điều đó đã trở thành nguồn động lực khiến anh muốn được làm ca sĩ.[7][8]

Năm 2011, Jungkook đã thử giọng cho chương trình tài năng Hàn Quốc Superstar K trong buổi thử giọng được tổ chức ở Daegu.[9] Mặc dù không được chọn, anh đã nhận được lời mời thử giọng từ 7 công ty giải trí khác nhau. Cuối cùng anh đã chọn trở thành thực tập sinh của Big Hit Entertainment sau khi biết đến RM, giờ là thành viên và trưởng nhóm của BTS.[9] Để rèn luyện thêm kỹ năng nhảy trong thời gian chuẩn bị ra mắt, anh đến Los Angeles vào mùa hè năm 2012 để theo học khóa học L.A Summer Of 2012 tại Movement Lifestyle.[10] Vào tháng 6 năm 2012, anh đã xuất hiện trong video âm nhạc "I'm Da One" của Jo Kwon,[11] và cũng từng làm vũ công cho Glam trước khi ra mắt.[12] Anh tốt nghiệp trường Trường Trung học Biểu diễn Nghệ thuật Seoul, một trường trung học nghệ thuật, vào năm 2017.[6][13] Vào tháng 11 năm 2016, anh quyết định từ bỏ kỳ thi tuyển sinh đại học toàn quốc của Hàn Quốc và hiện đang theo học tại Đại học Global Cyber cùng với các thành viên của BTS là RM, J-Hope, Suga, VJimin.[14]

Sự nghiệpSửa đổi

2013–nay: BTSSửa đổi

 
Jungkook biểu diễn tại Gayo Daejeon 2013 cùng với BTS.

Vào ngày 12 tháng 6 năm 2013, Jungkook chính thức ra mắt với vai trò giọng ca chính của BTS với album đĩa đơn đầu tay 2 Cool 4 Skool[15]. Trong BTS, anh đã thể hiện hai bài hát solo; ca khúc nhạc pop đầu tiên "Begin" trong album Wings năm 2016, kể về hành trình chuyển đến Seoul khi còn trẻ để trở thành một thần tượng và bày tỏ lòng biết ơn đối với các thành viên đã giúp đỡ anh trong thời gian đó[16]. Ca khúc thứ hai, một bài hát future bass có tựa đề "Euphoria", đã được phát hành cùng với một đoạn phim ngắn dài 9 phút đi kèm vào ngày 5 tháng 4 năm 2018 như là phần giới thiệu cho phần thứ ba trong chuỗi câu chuyện "Love Yourself" của BTS[17]. Bài hát đã được đưa vào album Love Yourself: Answer vào ngày 24 tháng 8 năm 2018. Euphoria được sản xuất bởi DJ Swivel và đứng ở vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng Billboard Bubbling Under Hot 100. Nó được xếp hạng trong 13 tuần liên tiếp trên World Digital Song Sales[18][19].

Jungkook là nhà sản xuất chính cho hai bài hát của BTS: "Love is Not Over" và "Magic Shop"[20][21]. Vào ngày 25 tháng 10 năm 2018, Jungkook cùng với các thành viên còn lại của BTS đã được Tổng thống Hàn Quốc trao tặng Huân chương Văn hóa Hwagwan[22][23].

2015–nay: Hoạt động soloSửa đổi

Tháng 9 năm 2015, Jungkook tham gia chiến dịch "One Dream, One Korea" và sáng tác ra bài hát chủ đề cùng với nhiều nghệ sĩ K-pop khác cho chiến dịch đó để tưởng niệm những tử binh và liệt sĩ trong "Chiến tranh Triều Tiên". Bài hát được ra mắt vào 24 tháng 9 và được biểu diễn vào 15 tháng 10 cùng năm trong One K Concert tại Seoul.

Jungkook đã cover một số bài hát nổi tiếng từ các ca sĩ Âu - Mỹ như Justin Bieber, Adam Levine, Tori Kelly, Troye SivanDavid Guetta trên trang Twitter chính thức và SoundCloud của BTS. Anh đồng thời cũng cover một số bài hát của các ca sĩ K-Pop như Zion.T, Park Won, IU, Roy KimLee Hi.

Vào ngày 6 tháng 11 năm 2018, Jungkook đã hát lại ca khúc "We Don't Talk Anymore" cùng với Charlie Puth trong phần mở đầu của MBC Plus X Genie Music Awards.

Ảnh hưởngSửa đổi

 
Jungkook tại buổi họp fan của BTSMyeongdong, Seoul, Hàn Quốc.

Trong một cuộc khảo sát năm 2019 do Gallup Korea thực hiện, Jungkook được xếp hạng là người nổi tiếng được yêu thích thứ 3 trong năm tại Hàn Quốc. Anh lần đầu có mặt trong danh sách vào năm 2016 ở vị trí thứ 20, sau đó xếp thứ 17 vào năm 2017 và xếp thứ 8 vào năm 2018.

Kể từ năm 2017, Jungkook xếp hạng 1 trong Danh sách top 50 idol nam Kpop được tìm kiếm nhiều nhất trên toàn thế giới của Google.

Năm 2018, Jungkook góp mặt trong danh sách những người nổi tiếng được yêu thích nhất ở Trung Quốc 10 tuần liên tiếp trên tạp chí Hi China. Vào tháng 12 năm 2018, một đoạn video Jungkook hát trong phòng thu đã được tweet nhiều nhất Hàn Quốc trong năm đó.

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

SoloSửa đổi

Năm Tựa đề
2014 Working

(Cover của Zion.T)

2014 Sofa

(Cover của Crush)

2015 Lost Stars

(Cover của Adam Levine)

2015 Paper Hearts

(Cover của Tori Kelly)

2016 Nothing Like Us

(Cover của Justin Bieber)

2016 Purpose

(Cover của Justin Bieber)

2016 Begin

(Album Wings của BTS)

2017 We Don't Talk Anymore

(Cover của Charlie Puth & Selena Gomez)

2017 2U

(Cover của Justin Bieber)

2017 Oh Holy Night

(Cover của Mariah Carey)

2018 Only Then

(Cover của Roy Kim)

2018 Euphoria

(Album repackage Love Yourself: Answer BTS)

2019 Ending Scene

(Cover của IU)

2019 Ending Scene ver 2

(Cover của IU)

2020 My Time

(Album MAP OF THE SOUL: 7 của BTS)

2020 Still With You

(Festa 2020 của BTS)

2020 10000 hours

(Cover của Justin Bieber)

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Herman, Tamar (ngày 24 tháng 8 năm 2018). “BTS Reflect on Life & Love on Uplifting 'Love Yourself: Answer'. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2018. 
  2. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing. tr. 67. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  3. ^ “Jungkook Naver Profile” (bằng tiếng Korean). Naver Profiles. 
  4. ^ a ă “[아이돌정보] 방탄소년단 정국, 말 한마디로 '섬유유연제 품절남' 등극”. 브랜드평판리포트 한국평판신문 (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2019. 
  5. ^ “[더스타프로필] 방탄소년단 정국 "빅뱅 GD 선배님 본 이후로 가수를 꿈꿨어요". chosun (bằng tiếng Korean). Ngày 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2018. 
  6. ^ a ă Jang, Eun Kyung (13 tháng 4 năm 2015). “[더스타프로필] 방탄소년단 정국 "빅뱅 GD 선배님 본 이후로 가수를 꿈꿨어요":: THE STAR”. The Star Chosun. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  7. ^ Hwang, Hye Jin (17 tháng 5 năm 2018). “[뮤직와치]'슈스케 통편집→메인 작곡돌' 방탄 황금막내 정국, 놀라운 성장史”. Newsen (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  8. ^ ARMYsZUTTER (21 tháng 6 năm 2016), [ENG SUB] JUNGKOOK Talks About How BIGBANG Inspired Him To Become A Singer | BTS, truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018 
  9. ^ a ă '신양남자쇼' 정국 "7개 소속사 러브콜..랩몬 멋있어 왔다". naver.com (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018. 
  10. ^ “Jimin, Jungkook's Story”. Ize Magazine (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  11. ^ Retno, Pravitri (ngày 15 tháng 6 năm 2018). “Selain Kerja Keras Menjadi Trainee, Berikut Hal-hal yang Dilakukan Member BTS Sebelum Terkenal”. tribunnews (bằng tiếng Indonesia). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2018. 
  12. ^ Bảy, Thứ (ngày 26 tháng 5 năm 2018). “Đây là cách các thành viên BTS được phát hiện và ký hợp đồng với Big Hit”. thethaovanhoa. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. 
  13. ^ Choi, Moon-young. “[포토] 방탄소년단 정국 '드디어 졸업합니다'. news.chosun.com. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  14. ^ “Global Cyber University”. 
  15. ^ Grace Danbi Hong (12 tháng 6 năm 2013). “BTS Asks about Your Dreams in 'No More Dream' MV”. Mwave. 
  16. ^ “The Significance of Each BTS Member Having Their Own Solo on 'Wings'. Fuse. 13 tháng 10 năm 2018. 
  17. ^ Herman, Tamar (5 tháng 4 năm 2018). “BTS Tease Next Album In 'Love Yourself' Series With 'Euphoria' Theme Video”. Billboard. 
  18. ^ “방탄소년단 정국, 솔로곡 ´유포리아´ 장기간 차트 인” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018. 
  19. ^ “BTS 정국 솔로곡 '유포리아', 최초·최고 기록 이어가다” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2018. 
  20. ^ “[V Report] BTS’ Jimin talks about returning to BBMAs, Jungkook-sketched track ‘Magic Shop’”. 
  21. ^ “[지승훈&케이지의 세팍타크로] 방탄소년단·엑소의 숨은 명곡을 찾아라” (bằng tiếng Hàn). 
  22. ^ SBS 뉴스 (24 tháng 10 năm 2018), '문화훈장' 방탄소년단(BTS) 7인7색 소감 "국가대표의 마음으로" (풀영상) / SBS, truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2018 
  23. ^ '대중문화예술상' BTS, 문화훈장 화관 최연소 수훈...유재석부터 故 김주혁까지 '영광의 얼굴들' (종합)” (bằng tiếng Hàn). 

Liên kết ngoàiSửa đổi