Kỹ thuật di truyền

(đổi hướng từ Kĩ thuật di truyền)

Kỹ thuật di truyền hay kỹ thuật gen là thao tác thay đổi gen bằng công nghệ sinh học. Nó bao gồm các phương pháp kỹ thuật dùng để thay đổi thành phần di truyền của các tế bào, bao gồm sự dịch chuyển gen cùng loài và khác loài để tạo ra những sinh vật mới hoặc hoàn hảo hơn. Những DNA mới được tạo ra bằng cách cách ly và sao chép lại vật liệu di truyền mong muốn qua phương pháp DNA tái tổ hợp hoặc bằng phương pháp chế tạo gen nhân tạo. Một vector thường được tạo ra để truyền DNA mới vào vật chủ. Phân tử DNA tái tổ hợp đầu tiên được tạo ra bởi Paul Berg vào năm 1972 bằng cách kết hợp DNA của virus khỉ SV40 với virus lambda. Và phương pháp thêm gen vào bộ gen của vật chủ còn có thể dùng để loại bỏ gen. Mẫu DNA có thể được thêm vào bộ gen một cách ngẫu nhiên hoặc vào một vị trí chính xác trong bộ gen.

Sinh vật được tạo ra bằng kỹ thuật di truyền được gọi là sinh vật biến đổi gen (tiếng Anh “GMO”). GMO đầu tiên là vi khuẩn được tạo ra bởi Herbert BoyerStanley Cohen vào năm 1973. Rudolf Jaenisch tạo ra động vật biến đổi gen đầu tiên khi ông ta thêm DNA lạ vào một chuột biến đổi gen vào năm 1974. Công ty đầu tiên trong ngành kỹ thuật di truyền là Genentech, được thành lập vào năm 1976, và đã bắt đầu sản xuất protein người. Insulin người tạo ra bằng kỹ thuật di truyền được sản xuất vào năm 1978 và vi khuẩn có khả năng tự tạo ra insulin được thương mại hóa vào năm 1982. Thực phẩm biến đổi gen được bán từ năm 1994 với sự ra đời của cà chua Flavr Savr. Cà chua Flavr Savr được cải tạo để tồn trữ được lâu hơn, nhưng đa số những cây trồng bây giờ được biến đổi gen để tăng sự chống chịu với sâu bọ và thuốc trừ sâu. GloFish là GMO đầu tiên tạo ra để làm thú nuôi. Nó bắt đầu được thương mại hóa ở Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2003. Vào năm 2016, cá salmon được biến đổi gen nội tiết tố để kích thích tăng trưởng được bán ra thị trường.

Kỹ thuật di truyền đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm nghiên cứu, y học, công nghệ sinh học, và nông nghiệp. Trong nghiên cứu, GMO được dùng để nghiên cứu về chức năng và biểu hiện gen qua các phương pháp như làm mất chức năng, tạo ra chức năng mới, theo dõi và thí nghiệm biểu hiện gen. Bằng cách loại bỏ một số gen với chức năng đã được biết đến, chúng ta có thể tạo ra sinh vật mô hình động vật để nghiên cứu bệnh người. Ngoài việc có thể tạo ra nội tiết tố, vắc-xin, và các dược phẩm khác, kỹ thuật di truyền còn có tiềm năng chữa bệnh qua phương pháp điều trị gen. Những kỹ thuật dùng để tạo ra dược phẩm còn có các ứng dụng công nghiệp khác như sản xuất enzyme để làm thuốc tẩy, phô mai, và các sản phẩm khác.

Sự phát triển thương mại hóa của cây trồng biến đổi gen đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho nông dân ở nhiều quốc gia khác nhau, nhưng nó còn gây ra nhiều cuộc tranh cãi về cây trồng biến đổi gen. Những tranh cãi này đã xuất hiện ngay từ thời kỳ đầu; những cuộc thử nghiệm biến đổi gen đầu tiên đã bị phá hủy bởi những người chống lại kỹ thuật biến đổi gen. Tuy giới khoa học đa số đã đồng thuận rằng những thức ăn được chế biến từ cây trồng biến đổi gen không có hại với sức khỏe hơn thức ăn tự nhiên, một số người vẫn lo ngại đến sự an toàn thực phẩm của thức ăn biến đổi gen. Trao đổi gene, mức độ ảnh hưởng tới những sinh vật khác, cách vận hành cung cấp thực phẩm, và sở hữu trí tuệ là những vấn đề đang trong vòng tranh cãi. Những lo ngại này đã dẫn tới sự thành lập một khuôn khổ quy định từ năm 1975. Điều này dẫn tới hiệp ước quốc tế, Cartagena Protocol on Biosafety, được ký kết năm 2000. Những quốc gia đã đưa ra những hệ thống quy định riêng về GMO, với sự khác biệt lớn giữa Hoa Kỳ và Châu Âu.

Định nghĩa IUPAC
Kỹ thuật di truyền: là quá trình thêm thông tin di truyền mới vào tế bào hiện hữu để sửa đổi một sinh vật cụ thể nhằm mục đích thay đổi đặc điểm của sinh vật đó. Lưu ý: định nghĩa từ chú thích.[1][2]

Tổng quanSửa đổi

 
So sánh các cây trồng thông thường giống với biến đổi gen transgeniccisgenic

Kỹ thuật di truyền là một quá trình làm thay đổi cấu trúc di truyền của một sinh vật bằng cách loại bỏ hoặc đưa vào DNA. Không giống như nhân giống động vậtthực vật truyền thống, bao gồm thực hiện nhiều phép lai và sau đó chọn ra sinh vật có kiểu hình mong muốn, kỹ thuật di truyền lấy gen trực tiếp từ sinh vật này và chuyển nó sang sinh vật khác. Điều này nhanh hơn nhiều, có thể được sử dụng để chèn bất kỳ gen nào từ bất kỳ sinh vật nào (ngay cả những gen từ các miền khác nhau) và ngăn chặn các gen không mong muốn khác cũng được thêm vào.[3]

Kỹ thuật di truyền có khả năng khắc phục các rối loạn di truyền nghiêm trọng ở người bằng cách thay thế gen bị lỗi bằng một gen đang hoạt động.[4] Nó là một công cụ quan trọng trong nghiên cứu cho phép nghiên cứu chức năng của các gen cụ thể.[5] Thuốc, vắc xin và các sản phẩm khác đã được thu hoạch từ các sinh vật được thiết kế để sản xuất chúng.[6] Các loại cây trồng đã được phát triển để hỗ trợ an ninh lương thực bằng cách tăng năng suất, giá trị dinh dưỡng và khả năng chống chịu với các áp lực môi trường.[7]

DNA có thể được đưa trực tiếp vào cơ thể vật chủ hoặc vào tế bào sau đó được dung hợp hoặc lai với vật chủ.[8] Điều này dựa vào các kỹ thuật axit nucleic tái tổ hợp để hình thành các tổ hợp mới của vật liệu di truyền di truyền, tiếp theo là sự kết hợp của vật liệu đó hoặc gián tiếp thông qua hệ thống vectơ hoặc trực tiếp thông qua vi tiêm, tiêm vĩ mô hoặc vi bao.[9]

Kỹ thuật di truyền thường không bao gồm tạo giống truyền thống, thụ tinh trong ống nghiệm, cảm ứng đa bội, đột biến và kỹ thuật dung hợp tế bào không sử dụng axit nucleic tái tổ hợp hoặc sinh vật biến đổi gen trong quá trình này.[10] Tuy nhiên, một số định nghĩa rộng rãi về kỹ thuật di truyền bao gồm nhân giống chọn lọc.[9] Nghiên cứu nhân bảntế bào gốc, mặc dù không được coi là kỹ thuật di truyền,[11] có liên quan chặt chẽ với nhau và kỹ thuật di truyền có thể được sử dụng trong chúng.[12] Sinh học tổng hợp là một ngành học mới nổi đưa kỹ thuật di truyền tiến thêm một bước bằng cách đưa vật liệu tổng hợp nhân tạo vào một sinh vật.[13] DNA tổng hợp như Hệ thống Thông tin Di truyền Mở rộng Nhân tạoDNA Hachimoji được tạo ra trong lĩnh vực mới này.

Thực vật, động vật hoặc vi sinh vật đã bị thay đổi thông qua kỹ thuật di truyền được gọi là sinh vật biến đổi gen hoặc GMO.[14] Nếu vật liệu di truyền từ loài khác được thêm vào vật chủ, sinh vật tạo thành được gọi là chuyển gen. Nếu vật liệu di truyền từ cùng một loài hoặc một loài mà tự nhiên có thể nuôi với máy chủ được sử dụng các vật kết quả được gọi cisgenic.[15] Nếu kỹ thuật di truyền được sử dụng để loại bỏ vật chất di truyền khỏi sinh vật đích thì sinh vật tạo thành được gọi là sinh vật loại trực tiếp.[16] Ở châu Âu, chỉnh sửa gen đồng nghĩa với công nghệ gen trong khi ở Hoa Kỳ và Canada, chỉnh sửa gen cũng có thể được sử dụng để chỉ các phương pháp nhân giống thông thường hơn.[17][18][19]

Lịch sửSửa đổi

Con người đã thay đổi bộ gen của các loài trong hàng nghìn năm thông qua chọn lọc giống, hoặc chọn lọc nhân tạo [20] :1 [21] :1 trái ngược với chọn lọc tự nhiên. Gần đây hơn, nhân giống đột biến đã sử dụng tiếp xúc với hóa chất hoặc bức xạ để tạo ra một tần số cao các đột biến ngẫu nhiên, cho các mục đích chọn lọc. Kỹ thuật di truyền như là sự thao túng trực tiếp DNA của con người bên ngoài quá trình lai tạo và đột biến mới chỉ tồn tại từ những năm 1970. Thuật ngữ "kỹ thuật di truyền" lần đầu tiên được Jack Williamson đặt ra trong cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Đảo Rồng của ông, xuất bản năm 1951 [22] - một năm trước khi vai trò di truyền của DNA được Alfred HersheyMartha Chase xác nhận,[23] và hai năm trước đó James WatsonFrancis Crick đã chỉ ra rằng phân tử DNA có cấu trúc xoắn kép - mặc dù khái niệm chung về thao tác di truyền trực tiếp đã được khám phá ở dạng thô sơ trong câu chuyện khoa học viễn tưởng năm 1936 Đảo Proteus của Stanley G. Weinbaum.[24][25]

 
Năm 1974, Rudolf Jaenisch đã tạo ra một con chuột biến đổi gen, động vật GM đầu tiên.

Năm 1972, Paul Berg đã tạo ra các phân tử DNA tái tổ hợp đầu tiên bằng cách kết hợp DNA của virus khỉ SV40 với DNA của virus lambda.[26] Năm 1973, Herbert BoyerStanley Cohen đã tạo ra sinh vật chuyển gen đầu tiên bằng cách đưa gen kháng thuốc kháng sinh vào plasmid của vi khuẩn Escherichia coli.[27][28] Một năm sau, Rudolf Jaenisch đã tạo ra một con chuột chuyển gen bằng cách đưa DNA ngoại lai vào phôi thai của nó, biến nó trở thành động vật chuyển gen đầu tiên trên thế giới [29] Những thành tựu này đã dẫn đến mối quan tâm trong cộng đồng khoa học về những rủi ro tiềm ẩn từ kỹ thuật di truyền, lần đầu tiên được thảo luận sâu tại Hội nghị Asilomar năm 1975. Một trong những khuyến nghị chính từ cuộc họp này là sự giám sát của chính phủ đối với nghiên cứu DNA tái tổ hợp nên được thiết lập cho đến khi công nghệ này được coi là an toàn.[30][31]

Năm 1976 Genentech, công ty kỹ thuật di truyền đầu tiên, được thành lập bởi Herbert Boyer và Robert Swanson và một năm sau đó, công ty đã sản xuất một protein người (somatostatin) ở E.coli. Genentech công bố sản xuất insulin người được biến đổi gen vào năm 1978.[32] Năm 1980, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ trong vụ án Diamond v. Chakrabaty phán quyết rằng sinh vật bị biến đổi gen có thể được cấp bằng sáng chế.[33] Insulin do vi khuẩn sản xuất đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) chấp thuận cho phát hành vào năm 1982.[34]

Năm 1983, một công ty công nghệ sinh học, Advanced Genetic Sciences (AGS) đã xin phép chính phủ Hoa Kỳ thực hiện các thử nghiệm thực địa với chủng Pseudomonas syringae trừ băng để bảo vệ cây trồng khỏi sương giá, nhưng các nhóm môi trường và những người phản đối đã trì hoãn các thử nghiệm trên thực địa trong bốn năm với thách thức pháp lý.[35] Năm 1987, chủng vi khuẩn P. syringae trừ băng trở thành sinh vật biến đổi gen (GMO) đầu tiên được phát tán vào môi trường [36] khi ruộng dâu tây và ruộng khoai tây ở California bị phun thuốc.[37] Cả hai cánh đồng thử nghiệm đã bị tấn công bởi các nhóm hoạt động vào đêm trước khi các cuộc thử nghiệm xảy ra: "Khu thử nghiệm đầu tiên trên thế giới đã thu hút kẻ phá ruộng đầu tiên trên thế giới".[36]

Các thử nghiệm đầu tiên trên thực địa đối với cây biến đổi gen diễn ra ở Pháp và Mỹ vào năm 1986, cây thuốc lá đã được biến đổi gen để kháng thuốc diệt cỏ.[38] Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nước đầu tiên thương mại hóa cây chuyển gen, giới thiệu một loại thuốc lá kháng vi rút vào năm 1992.[39] Năm 1994, Calgene được chấp thuận phát hành thương mại loại thực phẩm biến đổi gen đầu tiên, Flavr Savr, một loại cà chua được thiết kế để có thời hạn sử dụng lâu hơn.[40] Năm 1994, Liên minh Châu Âu đã phê duyệt thuốc lá được biến đổi gen để kháng thuốc diệt cỏ bromoxynil, biến nó trở thành cây trồng biến đổi gen đầu tiên được thương mại hóa ở Châu Âu.[41] Năm 1995, Khoai tây Bt đã được Cơ quan Bảo vệ Môi trường phê duyệt an toàn, sau khi được FDA phê duyệt, trở thành cây trồng sản xuất thuốc trừ sâu đầu tiên được chấp thuận ở Mỹ.[42] Năm 2009, 11 cây chuyển gen đã được trồng đại trà ở 25 quốc gia, trong đó lớn nhất theo diện tích được trồng là Mỹ, Brazil, Argentina, Ấn Độ, Canada, Trung Quốc, Paraguay và Nam Phi.[43]

Năm 2010, các nhà khoa học tại Viện J. Craig Venter đã tạo ra bộ gen tổng hợp đầu tiên và đưa nó vào một tế bào vi khuẩn trống. Loại vi khuẩn thu được, được đặt tên là Mycoplasma labratorium, có thể tái tạo và tạo ra protein.[44][45] Bốn năm sau, điều này đã tiến thêm một bước khi một loại vi khuẩn được phát triển sao chép một plasmid có chứa một cặp bazơ duy nhất, tạo ra sinh vật đầu tiên được thiết kế để sử dụng bảng chữ cái di truyền mở rộng.[46][47] Năm 2012, Jennifer DoudnaEmmanuelle Charpentier đã hợp tác phát triển hệ thống CRISPR / Cas9,[48][49] một kỹ thuật có thể được sử dụng để thay đổi dễ dàng và đặc biệt bộ gen của hầu hết mọi sinh vật.[50]

Quá trìnhSửa đổi

 
Phản ứng chuỗi polymerase là một công cụ mạnh mẽ được sử dụng trong nhân bản phân tử

Tạo ra một GMO là một quá trình gồm nhiều bước. Các kỹ sư di truyền trước tiên phải chọn loại gen mà họ muốn đưa vào sinh vật. Điều này được thúc đẩy bởi những gì mục đích là cho sinh vật kết quả và được xây dựng trên nghiên cứu trước đó. Màn hình di truyền có thể được thực hiện để xác định các gen tiềm năng và các xét nghiệm sâu hơn sau đó được sử dụng để xác định các ứng cử viên tốt nhất. Sự phát triển của microarrays, phiên mã và giải trình tự bộ gen đã giúp việc tìm kiếm các gen phù hợp trở nên dễ dàng hơn nhiều.[51] May mắn cũng đóng một phần của nó; gen sẵn sàng làm tròn được phát hiện sau khi các nhà khoa học nhận thấy một loại vi khuẩn phát triển mạnh khi có thuốc diệt cỏ.[52]

Phân lập gen và nhân bảnSửa đổi

Bước tiếp theo là phân lập gen ứng viên. Tế bào chứa gen được mở ra và DNA được tinh sạch.[53] Gen được tách ra bằng cách sử dụng các enzym giới hạn để cắt ADN thành các đoạn [54] hoặc phản ứng chuỗi polymerase (PCR) để khuếch đại đoạn gen.[55] Các phân đoạn này sau đó có thể được chiết xuất thông qua điện di trên gel. Nếu gen được chọn hoặc bộ gen của sinh vật hiến tặng đã được nghiên cứu kỹ lưỡng thì có thể đã có thể truy cập được từ thư viện di truyền. Nếu trình tự DNA được biết, nhưng không có bản sao của gen, nó cũng có thể được tổng hợp nhân tạo.[56] Một khi đã phân lập được gen được ligated vào một plasmid mà sau đó được đưa vào một loại vi khuẩn. Plasmid được sao chép khi vi khuẩn phân chia, đảm bảo có sẵn các bản sao không giới hạn của gen.[57]

Trước khi gen được đưa vào sinh vật mục tiêu, nó phải được kết hợp với các yếu tố di truyền khác. Chúng bao gồm vùng khởi động và vùng kết thúc, khởi đầu và kết thúc phiên mã. Một gen đánh dấu có thể lựa chọn được thêm vào, trong hầu hết các trường hợp, gen này tạo ra khả năng kháng thuốc kháng sinh, vì vậy các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng xác định tế bào nào đã được biến nạp thành công. Gen cũng có thể được sửa đổi ở giai đoạn này để biểu hiện hoặc hiệu quả tốt hơn. Những thao tác này được thực hiện bằng kỹ thuật DNA tái tổ hợp, chẳng hạn như tiêu hóa giới hạn, nối và nhân bản phân tử.[58]

Chèn DNA vào bộ gen vật chủSửa đổi

 
Súng bắn gen sử dụng biolistics để chèn DNA vào mô thực vật

Có một số kỹ thuật được sử dụng để chèn vật liệu di truyền vào bộ gen của vật chủ. Một số vi khuẩn có thể tiếp nhận DNA ngoại lai một cách tự nhiên. Khả năng này có thể được tạo ra ở các vi khuẩn khác thông qua căng thẳng (ví dụ như sốc nhiệt hoặc điện), làm tăng tính thấm của màng tế bào đối với DNA; DNA bổ sung có thể tích hợp với bộ gen hoặc tồn tại dưới dạng DNA ngoài nhiễm sắc thể. DNA thường được đưa vào tế bào động vật bằng cách sử dụng vi tiêm, nơi nó có thể được tiêm trực tiếp qua vỏ nhân của tế bào vào nhân hoặc thông qua việc sử dụng các vectơ virut.[59]

Bộ gen thực vật có thể được thiết kế bằng các phương pháp vật lý hoặc bằng cách sử dụng vi khuẩn Agrobacterium để phân phối các trình tự được lưu trữ trong vectơ nhị phân T-DNA. Ở thực vật, DNA thường được chèn bằng cách sử dụng phương pháp biến nạp qua Agrobacterium,[60] tận dụng trình tự T-DNA của vi khuẩn Agrobacterium cho phép đưa vật liệu di truyền vào tế bào thực vật một cách tự nhiên.[61] Các phương pháp khác bao gồm phương pháp sinh học, trong đó các hạt vàng hoặc vonfram được phủ bằng DNA và sau đó bắn vào các tế bào thực vật non,[62] và kết hợp điện, bao gồm sử dụng một cú sốc điện để làm cho màng tế bào có thể thẩm thấu DNA plasmid.

Vì chỉ có một tế bào được biến nạp vật chất di truyền, nên sinh vật phải được tái sinh từ tế bào đơn lẻ đó. Ở thực vật, điều này được thực hiện thông qua việc sử dụng nuôi cấy mô.[63][64] Ở động vật, cần đảm bảo rằng DNA được chèn vào có trong tế bào gốc phôi.[65] Vi khuẩn bao gồm một tế bào đơn lẻ và sinh sản vô tính nên việc tái tạo là không cần thiết. Các điểm đánh dấuthể lựa chọn được sử dụng để dễ dàng phân biệt các tế bào đã biến đổi với các tế bào chưa được biến đổi. Những dấu hiệu này thường có trong sinh vật chuyển gen, mặc dù một số chiến lược đã được phát triển để có thể loại bỏ dấu hiệu có thể lựa chọn khỏi cây chuyển gen trưởng thành.[66]

 
A. tumefaciens tự gắn vào tế bào cà rốt

Thử nghiệm thêm bằng cách sử dụng PCR, lai phương Nam và giải trình tự DNA được tiến hành để xác nhận rằng một sinh vật có chứa gen mới.[67] Các xét nghiệm này cũng có thể xác nhận vị trí nhiễm sắc thể và số lượng bản sao của gen được chèn vào. Sự hiện diện của gen không đảm bảo nó sẽ được biểu hiện ở các mức độ thích hợp trong mô đích, vì vậy các phương pháp tìm kiếm và đo lường các sản phẩm của gen (RNA và protein) cũng được sử dụng. Chúng bao gồm lai phía bắc, định lượng RT-PCR, Western blot, miễn dịch huỳnh quang, ELISA và phân tích kiểu hình.[68]

Vật liệu di truyền mới có thể được đưa vào ngẫu nhiên trong bộ gen của vật chủ hoặc được nhắm mục tiêu đến một vị trí cụ thể. Kỹ thuật nhắm mục tiêu gen sử dụng tái tổ hợp tương đồng để tạo ra những thay đổi mong muốn đối với một gen nội sinh cụ thể. Điều này có xu hướng xảy ra với tần suất tương đối thấp ở thực vật và động vật và thường yêu cầu sử dụng các dấu hiệu có thể lựa chọn. Tần suất nhắm mục tiêu gen có thể được tăng cường đáng kể thông qua chỉnh sửa bộ gen. Chỉnh sửa bộ gen sử dụng các nucleaza được thiết kế nhân tạo để tạo ra các đứt gãy sợi kép cụ thể tại các vị trí mong muốn trong bộ gen và sử dụng các cơ chế nội sinh của tế bào để sửa chữa sự đứt gãy do các quá trình tự nhiên của quá trình tái tổ hợp tương đồngliên kết cuối không giống nhau. Có bốn họ nucleaza được thiết kế: meganucleaza,[69][70] nucleaza ngón tay kẽm,[71][72] nucleaza hiệu ứng giống chất hoạt hóa phiên mã (TALENs),[73][74] và hệ thống Cas9-guideRNA (đã điều chỉnh từ CRISPR).[75][76] TALEN và CRISPR là hai loại được sử dụng phổ biến nhất và mỗi loại đều có những ưu điểm riêng.[77] TALENs có độ đặc hiệu mục tiêu cao hơn, trong khi CRISPR dễ thiết kế hơn và hiệu quả hơn.[77] Ngoài việc tăng cường khả năng nhắm mục tiêu gen, các nucleaza đã được thiết kế có thể được sử dụng để tạo ra các đột biến tại các gen nội sinh tạo ra loại gen.[78][79]

Ứng dụngSửa đổi

Kỹ thuật di truyền có ứng dụng trong y học, nghiên cứu, công nghiệp và nông nghiệp và có thể được sử dụng trên nhiều loại thực vật, động vật và vi sinh vật. Vi khuẩn, những sinh vật đầu tiên được biến đổi gen, có thể được chèn DNA plasmid chứa các gen mới mã hóa thuốc hoặc enzym chế biến thực phẩm và các chất nền khác.[80][81] Thực vật đã được biến đổi để bảo vệ côn trùng, kháng thuốc diệt cỏ, kháng vi rút, tăng cường dinh dưỡng, khả năng chịu áp lực môi trường và sản xuất vắc xin ăn được.[82] Hầu hết các GMO được thương mại hóa là cây trồng kháng sâu bọ hoặc kháng thuốc diệt cỏ.[83] Động vật biến đổi gen đã được sử dụng để nghiên cứu, động vật mô hình và sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hoặc dược phẩm. Động vật biến đổi gen bao gồm động vật có gen bị loại bỏ, tăng tính nhạy cảm với bệnh tật, kích thích tố để tăng trưởng thêm và khả năng thể hiện protein trong sữa của chúng.[84]

Y họcSửa đổi

Kỹ thuật di truyền có nhiều ứng dụng trong y học bao gồm sản xuất thuốc, tạo ra động vật mô hình bắt chước tình trạng của con người và liệu pháp gen. Một trong những ứng dụng đầu tiên của kỹ thuật di truyền là sản xuất hàng loạt insulin người ở vi khuẩn.[32] Ứng dụng này hiện đã được áp dụng cho, hormone tăng trưởng ở người, hormone kích thích nang trứng (để điều trị vô sinh), albumin người, kháng thể đơn dòng, các yếu tố chống bệnh máu khó đông, vắc xin và nhiều loại thuốc khác.[85][86] Các tế bào lai chuột, các tế bào hợp nhất với nhau để tạo ra kháng thể đơn dòng, đã được điều chỉnh thông qua kỹ thuật di truyền để tạo ra kháng thể đơn dòng của người.[87] Vào năm 2017, kỹ thuật di truyền của các thụ thể kháng nguyên chimeric trên tế bào T của chính bệnh nhân đã được FDA Hoa Kỳ phê duyệt như một phương pháp điều trị ung thư bạch cầu nguyên bào lympho cấp tính. Các vi rút biến đổi gen đang được phát triển vẫn có thể tạo ra khả năng miễn dịch, nhưng thiếu các trình tự lây nhiễm.[88]

Kỹ thuật di truyền cũng được sử dụng để tạo ra các mô hình động vật về bệnh ở người. Chuột biến đổi gen là mô hình động vật biến đổi gen phổ biến nhất.[89] Chúng đã được sử dụng để nghiên cứu và mô hình hóa ung thư (ung thư tại chỗ), béo phì, bệnh tim, tiểu đường, viêm khớp, lạm dụng chất kích thích, lo lắng, lão hóa và bệnh Parkinson.[90] Có thể thử nghiệm các phương pháp chữa trị tiềm năng đối với các mẫu chuột này. Ngoài ra, lợn biến đổi gen cũng đã được lai tạo với mục đích tăng khả năng thành công của việc ghép tạng từ lợn sang người.[91]

Liệu pháp gen là kỹ thuật di truyền của con người, nói chung bằng cách thay thế các gen bị lỗi bằng các gen hiệu quả. Nghiên cứu lâm sàng sử dụng liệu pháp gen soma đã được tiến hành với một số bệnh, bao gồm SCID liên kết X,[92] bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính (CLL),[93][94]bệnh Parkinson.[95] Năm 2012, Alipogene tiparvovec trở thành liệu pháp điều trị gen đầu tiên được chấp thuận sử dụng trong lâm sàng.[96][97] Vào năm 2015, một loại vi-rút đã được sử dụng để chèn một gen khỏe mạnh vào tế bào da của một cậu bé mắc một chứng bệnh về da hiếm gặp, epidermolysis bullosa, để phát triển, và sau đó ghép da khỏe mạnh lên 80% cơ thể cậu bé bị ảnh hưởng do chứng bệnh này.[98]

Liệu pháp gen Germline sẽ cho kết quả trong bất kỳ sự thay đổi là được thừa kế, mà đã dấy lên lo ngại trong cộng đồng khoa học.[99][100] Vào năm 2015, CRISPR được sử dụng để chỉnh sửa DNA của phôi người không thể sống được,[101][102] các nhà khoa học hàng đầu của các học viện lớn trên thế giới kêu gọi tạm hoãn chỉnh sửa bộ gen người có thể thừa kế.[103] Cũng có những lo ngại rằng công nghệ này có thể được sử dụng không chỉ để điều trị mà còn để tăng cường, sửa đổi hoặc thay đổi ngoại hình, khả năng thích ứng, trí thông minh, tính cách hoặc hành vi của con người.[104] Sự phân biệt giữa chữa bệnh và tăng cường cũng có thể khó thiết lập.[105] Vào tháng 11 năm 2018, He Jiankui thông báo rằng anh ta đã chỉnh sửa bộ gen của hai phôi thai người, để cố gắng vô hiệu hóa gen CCR5, gen mã hóa cho một thụ thể mà HIV sử dụng để xâm nhập vào tế bào. Anh ấy nói rằng hai bé gái sinh đôi, Lulu và Nana, đã chào đời vài tuần trước đó. Ông nói rằng các cô gái vẫn mang các bản sao chức năng của CCR5 cùng với CCR5 khuyết tật (bệnh khảm) và vẫn dễ bị nhiễm HIV. Công việc này bị nhiều người lên án là phi đạo đức, nguy hiểm và quá sớm.[106]

Các nhà nghiên cứu đang thay đổi bộ gen của lợn để tạo ra sự phát triển của các bộ phận cơ thể người dùng trong cấy ghép. Các nhà khoa học đang tạo ra "ổ gen", thay đổi bộ gen của muỗi để khiến chúng miễn dịch với bệnh sốt rét, và sau đó tìm cách truyền bá muỗi đã biến đổi gen trong quần thể muỗi với hy vọng loại bỏ căn bệnh này.[107]

Nghiên cứuSửa đổi

 
Tế bào người trong đó một số protein được hợp nhất với protein huỳnh quang màu xanh lá cây để cho phép chúng được hình dung

Kỹ thuật gen là một công cụ quan trọng đối với các nhà khoa học tự nhiên, với việc tạo ra các sinh vật chuyển gen là một trong những công cụ quan trọng nhất để phân tích chức năng gen.[108] Các gen và thông tin di truyền khác từ nhiều loại sinh vật có thể được đưa vào vi khuẩn để lưu trữ và sửa đổi, tạo ra vi khuẩn biến đổi gen trong quá trình này. Vi khuẩn rẻ, dễ phát triển, vô tính, nhân lên nhanh chóng, tương đối dễ biến nạp và có thể bảo quản ở -80   °C gần như vô hạn. Khi một gen được phân lập, nó có thể được lưu trữ bên trong vi khuẩn, cung cấp nguồn cung cấp không giới hạn cho nghiên cứu.[109] Các sinh vật được biến đổi gen để khám phá các chức năng của một số gen nhất định. Điều này có thể là ảnh hưởng đến kiểu hình của sinh vật, nơi gen được biểu hiện hoặc những gen khác mà nó tương tác. Các thí nghiệm này thường liên quan đến việc mất chức năng, tăng chức năng, theo dõi và biểu hiện.

  • Các thí nghiệm mất chức năng, chẳng hạn như trong một thí nghiệm loại bỏ gen, trong đó một sinh vật được thiết kế để thiếu hoạt động của một hoặc nhiều gen. Trong một lần loại trực tiếp đơn giản, một bản sao của gen mong muốn đã bị thay đổi để khiến nó không hoạt động. Tế bào gốc phôi kết hợp gen đã thay đổi, gen này thay thế bản sao chức năng đã có. Các tế bào gốc này được tiêm vào phôi nang, chúng sẽ được cấy vào các bà mẹ mang thai. Điều này cho phép người thí nghiệm phân tích các khiếm khuyết do đột biến này gây ra và từ đó xác định vai trò của các gen cụ thể. Nó được sử dụng đặc biệt thường xuyên trong sinh học phát triển.[110] Khi điều này được thực hiện bằng cách tạo ra một thư viện các gen có đột biến điểm ở mọi vị trí trong vùng quan tâm, hoặc thậm chí mọi vị trí trong toàn bộ gen, điều này được gọi là "quét đột biến". Phương pháp đơn giản nhất, và là phương pháp đầu tiên được sử dụng, là "quét alanin", trong đó mọi vị trí lần lượt bị đột biến thành axit amin không hoạt động là alanin.[111]
  • Đạt được các thử nghiệm chức năng, đối chứng hợp lý của loại trực tiếp. Đôi khi chúng được thực hiện cùng với các thí nghiệm loại trực tiếp để thiết lập chức năng của gen mong muốn một cách chính xác hơn. Quá trình này tương tự như trong kỹ thuật loại trực tiếp, ngoại trừ cấu trúc được thiết kế để tăng chức năng của gen, thường bằng cách cung cấp thêm các bản sao của gen hoặc tạo ra sự tổng hợp protein thường xuyên hơn. Tăng chức năng được sử dụng để cho biết liệu một protein có đủ cho một chức năng hay không, nhưng không phải lúc nào cũng có nghĩa là nó cần thiết, đặc biệt là khi giải quyết vấn đề dư thừa chức năng hoặc di truyền.[110]
  • Theo dõi các thí nghiệm, nhằm thu thập thông tin về vị trí và sự tương tác của protein mong muốn. Một cách để làm điều này là thay thế gen kiểu hoang dã bằng gen 'dung hợp', là sự kết hợp của gen kiểu hoang dã với một phần tử báo cáo như protein huỳnh quang xanh (GFP) sẽ cho phép dễ dàng hình dung các sản phẩm của việc chỉnh sửa gen. Mặc dù đây là một kỹ thuật hữu ích, nhưng thao tác này có thể phá hủy chức năng của gen, tạo ra các hiệu ứng thứ cấp và có thể gây nghi ngờ về kết quả của thí nghiệm. Các kỹ thuật phức tạp hơn hiện đang được phát triển có thể theo dõi các sản phẩm protein mà không làm giảm chức năng của chúng, chẳng hạn như việc bổ sung các trình tự nhỏ sẽ đóng vai trò là mô-típ liên kết với các kháng thể đơn dòng.[110]
  • Các nghiên cứu về biểu hiện nhằm khám phá nơi và khi nào các protein cụ thể được sản xuất. Trong các thí nghiệm này, trình tự DNA trước DNA mã hóa một protein, được gọi là trình tự khởi động của gen, được đưa vào một sinh vật có vùng mã hóa protein được thay thế bằng một gen báo cáo như GFP hoặc một enzym xúc tác sản xuất thuốc nhuộm.. Do đó có thể quan sát được thời gian và địa điểm nơi một loại protein cụ thể được sản xuất. Các nghiên cứu biểu hiện có thể được thực hiện một bước xa hơn bằng cách thay đổi trình tự khởi động để tìm ra những phần nào là quan trọng cho sự biểu hiện thích hợp của gen và thực sự được liên kết bởi các protein yếu tố phiên mã; Quá trình này được gọi là promoter bashing.[112]

Công nghiệpSửa đổi

 
Sản phẩm của công nghệ gen

Các sinh vật có thể biến đổi tế bào của chúng với một gen mã hóa cho một loại protein hữu ích, chẳng hạn như một loại enzyme, để chúng biểu hiện quá mức protein mong muốn. Sau đó có thể tạo ra một lượng lớn protein bằng cách nuôi cấy sinh vật đã biến đổi trong thiết bị lò phản ứng sinh học sử dụng quá trình lên men công nghiệp, và sau đó tinh chế protein.[113] Một số gen không hoạt động tốt ở vi khuẩn, vì vậy nấm men, tế bào côn trùng hoặc tế bào động vật có vú cũng có thể được sử dụng.[114] Những kỹ thuật này được sử dụng để sản xuất các loại thuốc như insulin, hormone tăng trưởng ở ngườivắc xin, các chất bổ sung như tryptophan, hỗ trợ sản xuất thực phẩm (chymosin trong sản xuất pho mát) và nhiên liệu.[115] Các ứng dụng khác với vi khuẩn biến đổi gen có thể liên quan đến việc khiến chúng thực hiện các nhiệm vụ ngoài chu trình tự nhiên của chúng, chẳng hạn như sản xuất nhiên liệu sinh học,[116] làm sạch dầu tràn, carbon và các chất thải độc hại khác [117] và phát hiện asen trong nước uống.[118] Một số vi sinh vật biến đổi gen nhất định cũng có thể được sử dụng trong khai thác sinh họcxử lý sinh học, do khả năng chiết xuất kim loại nặng từ môi trường của chúng và kết hợp chúng thành các hợp chất dễ thu hồi hơn.[119]

Trong khoa học vật liệu, một loại virus biến đổi gen đã được sử dụng trong phòng thí nghiệm nghiên cứu như một giá đỡ để lắp ráp pin lithium-ion thân thiện với môi trường hơn.[120][121] Vi khuẩn cũng đã được thiết kế để hoạt động như cảm biến bằng cách biểu hiện một protein huỳnh quang trong các điều kiện môi trường nhất định.[122]

Nông nghiệpSửa đổi

 
Bt-toxin có trong lá đậu phộng (hình dưới) bảo vệ nó khỏi bị hư hại trên diện rộng do ấu trùng sâu đục thân nhỏ hơn gây ra (hình trên).[123]

Một trong những ứng dụng nổi tiếng nhất và gây tranh cãi của kỹ thuật gen là tạo ra và sử dụng cây trồng biến đổi gen hoặc vật nuôi biến đổi gen để sản xuất thực phẩm biến đổi gen. Các loại cây trồng đã được phát triển để tăng sản lượng, tăng khả năng chống chịu với các căng thẳng phi sinh học, thay đổi thành phần của thực phẩm hoặc để tạo ra các sản phẩm mới.[124]

Những cây trồng đầu tiên được công bố thương mại trên quy mô lớn đã cung cấp khả năng bảo vệ khỏi côn trùng gây hại hoặc khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ. Các cây trồng kháng nấm và vi rút cũng đã được phát triển hoặc đang trong quá trình phát triển.[125][126] Điều này làm cho việc quản lý côn trùng và cỏ dại của cây trồng dễ dàng hơn và có thể gián tiếp tăng năng suất cây trồng.[127][128] Các cây trồng biến đổi gen trực tiếp cải thiện năng suất bằng cách thúc đẩy tăng trưởng hoặc làm cho cây cứng cáp hơn (bằng cách cải thiện khả năng chịu mặn, lạnh hoặc hạn hán) cũng đang được phát triển.[129] Vào năm 2016, cá hồi đã được biến đổi gen với hormone tăng trưởng để đạt kích thước trưởng thành bình thường nhanh hơn nhiều.[130]

GMO đã được phát triển để thay đổi chất lượng sản phẩm bằng cách tăng giá trị dinh dưỡng hoặc cung cấp chất lượng hoặc số lượng hữu ích hơn trong công nghiệp.[129] Khoai tây Amflora tạo ra một hỗn hợp tinh bột hữu ích hơn trong công nghiệp. Đậu nànhhạt cải đã được biến đổi gen để tạo ra nhiều loại dầu tốt cho sức khỏe.[131][132] Thực phẩm biến đổi gen đầu tiên được thương mại hóa là cà chua có khả năng làm chậm quá trình chín, làm tăng thời hạn sử dụng.[133]

Thực vật và động vật đã được thiết kế để tạo ra những vật liệu mà chúng không thường làm ra. Dược phẩm sử dụng cây trồng và vật nuôi làm lò phản ứng sinh học để sản xuất vắc-xin, thuốc trung gian hoặc chính thuốc; sản phẩm hữu ích được tinh chế từ thu hoạch và sau đó được sử dụng trong quy trình sản xuất dược phẩm tiêu chuẩn.[134] Bò và dê đã được thiết kế để vắt thuốc và các protein khác trong sữa của chúng, và vào năm 2009, FDA đã phê duyệt một loại thuốc được sản xuất từ sữa dê.[135][136]

Các ứng dụng khácSửa đổi

Kỹ thuật di truyền có những ứng dụng tiềm năng trong bảo tồn và quản lý khu vực tự nhiên. Việc chuyển gen thông qua các vectơ vi rút đã được đề xuất như một phương tiện kiểm soát các loài xâm lấn cũng như tiêm phòng các loài động vật bị đe dọa khỏi dịch bệnh.[137] Cây chuyển gen đã được đề xuất như một cách để tạo khả năng chống lại mầm bệnh trong các quần thể hoang dã.[138] Với những rủi ro ngày càng tăng của maladaptation trong các sinh vật như là kết quả của sự thay đổi khí hậu và xáo trộn khác, thích ứng tạo điều kiện thông qua tinh chỉnh gen có thể là một giải pháp để giảm thiểu rủi ro tuyệt chủng.[139] Các ứng dụng của công nghệ gen trong bảo tồn cho đến nay chủ yếu là lý thuyết và chưa được đưa vào thực tế.

Kỹ thuật di truyền cũng đang được sử dụng để tạo ra nghệ thuật vi sinh vật.[140] Một số vi khuẩn đã được biến đổi gen để tạo ra những bức ảnh đen trắng.[141] Các mặt hàng mới lạ như hoa cẩm chướng màu hoa oải hương,[142] hoa hồng xanh,[143]cá phát sáng [144][145] cũng đã được sản xuất thông qua kỹ thuật gen.

Quy địnhSửa đổi

Quy định về công nghệ gen liên quan đến các phương pháp tiếp cận mà các chính phủ thực hiện để đánh giá và quản lý các rủi ro liên quan đến việc phát triển và phát hành GMO. Sự phát triển của một khung pháp lý bắt đầu vào năm 1975, tại Asilomar, California.[146] Cuộc họp Asilomar đã đề xuất một bộ hướng dẫn tự nguyện về việc sử dụng công nghệ tái tổ hợp.[30] Khi công nghệ được cải thiện, Hoa Kỳ đã thành lập một ủy ban tại Văn phòng Khoa học và Công nghệ,[147] đã chỉ định việc phê duyệt quy định về thực phẩm biến đổi gen cho USDA, FDA và EPA.[148] Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học, một hiệp ước quốc tế điều chỉnh việc chuyển giao, xử lý và sử dụng GMO,[149] đã được thông qua vào ngày 29 tháng 1 năm 2000.[150] Một trăm năm mươi bảy quốc gia là thành viên của Nghị định thư và nhiều quốc gia sử dụng Nghị định thư này làm điểm tham chiếu cho các quy định của riêng mình.[151]

Tình trạng pháp lý và quản lý của thực phẩm biến đổi gen khác nhau tùy theo quốc gia, với một số quốc gia cấm hoặc hạn chế chúng, và một số quốc gia khác cho phép với các mức độ quy định khác nhau.[152][153][154][155] Một số quốc gia cho phép nhập khẩu thực phẩm biến đổi gen với sự cho phép, nhưng không cho phép trồng trọt (Nga, Na Uy, Israel) hoặc có quy định cho trồng trọt mặc dù chưa sản xuất sản phẩm biến đổi gen nào (Nhật Bản, Hàn Quốc). Hầu hết các quốc gia không cho phép trồng GMO đều cho phép nghiên cứu.[156] Một số khác biệt rõ rệt nhất xảy ra giữa Hoa Kỳ và Châu Âu. Chính sách của Hoa Kỳ tập trung vào sản phẩm (không phải quá trình), chỉ xem xét các rủi ro khoa học có thể kiểm chứng và sử dụng khái niệm tương đương đáng kể.[157] Ngược lại, Liên minh Châu Âu có những quy định về GMO nghiêm ngặt nhất trên thế giới.[158] Tất cả GMO, cùng với thực phẩm được chiếu xạ, được coi là "thực phẩm mới" và được Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu đánh giá dựa trên cơ sở khoa học, từng trường hợp cụ thể. Tiêu chí để ủy quyền thuộc bốn loại chính: "an toàn", "tự do lựa chọn", "ghi nhãn" và "truy xuất nguồn gốc".[159] Mức độ quy định ở các quốc gia trồng GMO khác nằm giữa Châu Âu và Hoa Kỳ.

Một trong những vấn đề quan trọng liên quan đến các cơ quan quản lý là liệu các sản phẩm GM có nên được dán nhãn hay không. Ủy ban Châu Âu cho rằng cần ghi nhãn bắt buộc và truy xuất nguồn gốc để cho phép lựa chọn sáng suốt, tránh quảng cáo sai sự thật tiềm ẩn [160] và tạo điều kiện thu hồi sản phẩm nếu phát hiện ra tác dụng phụ đối với sức khỏe hoặc môi trường.[161] Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ [162]Hiệp hội Vì sự Tiến bộ của Khoa học Hoa Kỳ [163] nói rằng việc không có bằng chứng khoa học về tác hại, ngay cả việc ghi nhãn tự nguyện cũng gây hiểu lầm và sẽ báo động sai cho người tiêu dùng. Ghi nhãn các sản phẩm GMO trên thị trường là bắt buộc ở 64 quốc gia.[164] Việc ghi nhãn có thể là bắt buộc cho đến mức hàm lượng GM ngưỡng (thay đổi giữa các quốc gia) hoặc tự nguyện. Ở Canada và Hoa Kỳ, việc dán nhãn thực phẩm GM là tự nguyện,[165] trong khi ở châu Âu, tất cả thực phẩm (bao gồm cả thực phẩm chế biến) hoặc thức ăn chăn nuôi có chứa hơn 0,9% GMO đã được phê duyệt phải được dán nhãn.[158]

Tranh cãiSửa đổi

Các nhà phê bình đã phản đối việc sử dụng kỹ thuật di truyền trên một số lý do, bao gồm các mối quan tâm về đạo đức, sinh thái và kinh tế. Nhiều mối quan tâm trong số này liên quan đến cây trồng biến đổi gen và liệu thực phẩm được sản xuất từ chúng có an toàn hay không và tác động của việc trồng chúng lên môi trường. Những tranh cãi này đã dẫn đến kiện tụng, tranh chấp thương mại quốc tế, và phản đối, và hạn chế quy định đối với các sản phẩm thương mại ở một số quốc gia.[166]

Những cáo buộc rằng các nhà khoa học đang " đóng vai Chúa " và các vấn đề tôn giáo khác đã được gán cho công nghệ này ngay từ đầu.[167] Các vấn đề đạo đức khác được nêu ra bao gồm cấp bằng sáng chế về sự sống,[168] việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ,[169] mức độ ghi nhãn trên sản phẩm,[170][171] kiểm soát nguồn cung cấp thực phẩm [172] và tính khách quan của quy định quá trình.[173] Mặc dù các nghi ngờ đã được đặt ra,[174] về mặt kinh tế, hầu hết các nghiên cứu đều phát hiện ra việc trồng cây biến đổi gen có lợi cho nông dân.[175][176][177]

Luồng gen giữa cây trồng biến đổi gen và cây trồng tương thích, cùng với việc tăng cường sử dụng thuốc diệt cỏ chọn lọc, có thể làm tăng nguy cơ phát triển " siêu cỏ dại ".[178] Các mối quan tâm khác về môi trường liên quan đến các tác động tiềm tàng đối với các sinh vật không phải mục tiêu, bao gồm vi khuẩn đất,[179] và sự gia tăng các loài côn trùng gây hại thứ cấp và kháng thuốc.[180][181] Nhiều tác động môi trường liên quan đến cây trồng biến đổi gen có thể mất nhiều năm mới được hiểu rõ và cũng rõ ràng trong các hoạt động nông nghiệp thông thường.[179][182] Với việc thương mại hóa cá biến đổi gen, người ta lo ngại về hậu quả môi trường nếu chúng thoát ra ngoài.[183]

Có ba mối quan tâm chính về tính an toàn của thực phẩm biến đổi gen: liệu chúng có thể gây ra phản ứng dị ứng hay không; liệu các gen có thể chuyển từ thức ăn vào tế bào người hay không; và liệu các gen không được phép sử dụng cho con người có thể lai sang các cây trồng khác hay không.[184] Có một sự đồng thuận khoa học [185][186][187][188] rằng thực phẩm hiện có có nguồn gốc từ cây trồng biến đổi gen không gây rủi ro lớn hơn cho sức khỏe con người so với thực phẩm thông thường,[189][190][191][192][193] nhưng mỗi thực phẩm biến đổi gen cần được kiểm tra từng trường hợp cụ thể trước khi đưa vào sử dụng.[194][195][196] Tuy nhiên, các thành viên của công chúng ít có khả năng hơn các nhà khoa học nhận thức thực phẩm biến đổi gen là an toàn.[197][198][199][200]

Trong văn hóa đại chúngSửa đổi

Các tính năng kỹ thuật di truyền có mặt trong nhiều câu chuyện khoa học viễn tưởng.[201] Cuốn tiểu thuyết Bệnh dịch trắng của Frank Herbert mô tả việc cố ý sử dụng kỹ thuật di truyền để tạo ra một mầm bệnh đặc biệt giết chết phụ nữ.[201] Một trong những sáng tạo khác của Herbert, loạt tiểu thuyết Dune, sử dụng kỹ thuật di truyền để tạo ra Tleilaxu mạnh mẽ nhưng bị khinh thường.[202] Những bộ phim như The IslandBlade Runner đưa sinh vật được thiết kế để đối đầu với người đã tạo ra nó hoặc sinh vật được nhân bản từ nó. Rất ít phim cung cấp thông tin cho khán giả về kỹ thuật di truyền, ngoại trừ The Boys from Brazil 1978 và Jurassic Park 1993, cả hai đều sử dụng bài học, minh chứng và một đoạn phim khoa học.[203][204] Các phương pháp kỹ thuật di truyền được thể hiện yếu trong phim; Michael Clark, viết cho The Wellcome Trust, gọi việc miêu tả kỹ thuật di truyền và công nghệ sinh học là "bị bóp méo nghiêm trọng" [204] trong các bộ phim như Ngày thứ 6. Theo quan điểm của Clark, công nghệ sinh học thường được "đưa ra những hình thức tuyệt vời nhưng trực quan bắt mắt" trong khi khoa học này được đưa vào nền hoặc hư cấu để phù hợp với khán giả trẻ.[204]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Terms and Acronyms”. U.S. Environmental Protection Agency online. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  2. ^ Vert, Michel; Doi, Yoshiharu; Hellwich, Karl-Heinz; Hess, Michael; Hodge, Philip; Kubisa, Przemyslaw; Rinaudo, Marguerite; Schué, François (2012). “Terminology for biorelated polymers and applications (IUPAC Recommendations 2012)” (PDF). Pure and Applied Chemistry 84 (2): 377–410. doi:10.1351/PAC-REC-10-12-04. 
  3. ^ “How does GM differ from conventional plant breeding?”. royalsociety.org (bằng tiếng en-gb). Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2017. 
  4. ^ Erwin E, Gendin S, Kleiman L (22 tháng 12 năm 2015). Ethical Issues in Scientific Research: An Anthology. Routledge. tr. 338. ISBN 978-1-134-81774-0. 
  5. ^ Alexander DR (tháng 5 năm 2003). “Uses and abuses of genetic engineering”. Postgraduate Medical Journal 79 (931): 249–51. PMC 1742694. PMID 12782769. doi:10.1136/pmj.79.931.249. 
  6. ^ Nielsen J (1 tháng 7 năm 2013). “Production of biopharmaceutical proteins by yeast: advances through metabolic engineering”. Bioengineered 4 (4): 207–11. PMC 3728191. PMID 23147168. doi:10.4161/bioe.22856. 
  7. ^ Qaim M, Kouser S (5 tháng 6 năm 2013). “Genetically modified crops and food security”. PLOS ONE 8 (6): e64879. Bibcode:2013PLoSO...864879Q. PMC 3674000. PMID 23755155. doi:10.1371/journal.pone.0064879. 
  8. ^ The European Parliament and the council of the European Union (12 tháng 3 năm 2001). “Directive on the release of genetically modified organisms (GMOs) Directive 2001/18/EC ANNEX I A”. Official Journal of the European Communities. 
  9. ^ a ă Staff Economic Impacts of Genetically Modified Crops on the Agri-Food Sector; p. 42 Glossary – Term and Definitions Error in Webarchive template: Empty url. The European Commission Directorate-General for Agriculture, "Genetic engineering: The manipulation of an organism's genetic endowment by introducing or eliminating specific genes through modern molecular biology techniques. A broad definition of genetic engineering also includes selective breeding and other means of artificial selection.", Retrieved 5 November 2012
  10. ^ The European Parliament and the council of the European Union (12 tháng 3 năm 2001). “Directive on the release of genetically modified organisms (GMOs) Directive 2001/18/EC ANNEX I A”. Official Journal of the European Communities. 
  11. ^ Van Eenennaam, Alison. “Is Livestock Cloning Another Form of Genetic Engineering?” (PDF). agbiotech. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  12. ^ Suter DM, Dubois-Dauphin M, Krause KH (tháng 7 năm 2006). “Genetic engineering of embryonic stem cells” (PDF). Swiss Medical Weekly 136 (27–28): 413–5. PMID 16897894. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. 
  13. ^ Andrianantoandro E, Basu S, Karig DK, Weiss R (16 tháng 5 năm 2006). “Synthetic biology: new engineering rules for an emerging discipline”. Molecular Systems Biology 2 (2006.0028): 2006.0028. PMC 1681505. PMID 16738572. doi:10.1038/msb4100073. 
  14. ^ “What is genetic modification (GM)?”. CSIRO. 
  15. ^ Jacobsen E, Schouten HJ (2008). “Cisgenesis, a New Tool for Traditional Plant Breeding, Should be Exempted from the Regulation on Genetically Modified Organisms in a Step by Step Approach”. Potato Research 51: 75–88. doi:10.1007/s11540-008-9097-y. 
  16. ^ Capecchi MR (tháng 10 năm 2001). “Generating mice with targeted mutations”. Nature Medicine 7 (10): 1086–90. PMID 11590420. doi:10.1038/nm1001-1086. 
  17. ^ Staff Biotechnology – Glossary of Agricultural Biotechnology Terms Error in Webarchive template: Empty url. United States Department of Agriculture, "Genetic modification: The production of heritable improvements in plants or animals for specific uses, via either genetic engineering or other more traditional methods. Some countries other than the United States use this term to refer specifically to genetic engineering.", Retrieved 5 November 2012
  18. ^ Maryanski, James H. (19 tháng 10 năm 1999). “Genetically Engineered Foods”. Center for Food Safety and Applied Nutrition at the Food and Drug Administration. 
  19. ^ Staff (28 November 2005) Health Canada – The Regulation of Genetically Modified Food Error in Webarchive template: Empty url. Glossary definition of Genetically Modified: "An organism, such as a plant, animal or bacterium, is considered genetically modified if its genetic material has been altered through any method, including conventional breeding. A 'GMO' is a genetically modified organism.", Retrieved 5 November 2012
  20. ^ Root C (2007). Domestication. Greenwood Publishing Groups. 
  21. ^ Zohary D, Hopf M, Weiss E (2012). Domestication of Plants in the Old World: The origin and spread of plants in the old world. Oxford University Press. 
  22. ^ Stableford BM (2004). Historical dictionary of science fiction literature. tr. 133. ISBN 978-0-8108-4938-9. 
  23. ^ Hershey AD, Chase M (tháng 5 năm 1952). “Independent functions of viral protein and nucleic acid in growth of bacteriophage”. The Journal of General Physiology 36 (1): 39–56. PMC 2147348. PMID 12981234. doi:10.1085/jgp.36.1.39. 
  24. ^ “Genetic Engineering”. Encyclopedia of Science Fiction. 2 tháng 4 năm 2015. 
  25. ^ Shiv Kant Prasad, Ajay Dash (2008). Modern Concepts in Nanotechnology, Volume 5. Discovery Publishing House. ISBN 978-81-8356-296-6. 
  26. ^ Jackson DA, Symons RH, Berg P (tháng 10 năm 1972). “Biochemical method for inserting new genetic information into DNA of Simian Virus 40: circular SV40 DNA molecules containing lambda phage genes and the galactose operon of Escherichia coli”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 69 (10): 2904–9. Bibcode:1972PNAS...69.2904J. PMC 389671. PMID 4342968. doi:10.1073/pnas.69.10.2904. 
  27. ^ Arnold, Paul (2009). “History of Genetics: Genetic Engineering Timeline”. 
  28. ^ Gutschi S, Hermann W, Stenzl W, Tscheliessnigg KH (1 tháng 5 năm 1973). “[Displacement of electrodes in pacemaker patients (author's transl)]”. Zentralblatt für Chirurgie 104 (2): 100–4. PMID 433482. 
  29. ^ Jaenisch R, Mintz B (tháng 4 năm 1974). “Simian virus 40 DNA sequences in DNA of healthy adult mice derived from preimplantation blastocysts injected with viral DNA”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 71 (4): 1250–4. Bibcode:1974PNAS...71.1250J. PMC 388203. PMID 4364530. doi:10.1073/pnas.71.4.1250. 
  30. ^ a ă Berg P, Baltimore D, Brenner S, Roblin RO, Singer MF (tháng 6 năm 1975). “Summary statement of the Asilomar conference on recombinant DNA molecules”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 72 (6): 1981–4. Bibcode:1975PNAS...72.1981B. PMC 432675. PMID 806076. doi:10.1073/pnas.72.6.1981. 
  31. ^ “NIH Guidelines for research involving recombinant DNA molecules”. Office of Biotechnology Activities. U.S. Department of Health and Human Services. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  32. ^ a ă Goeddel DV, Kleid DG, Bolivar F, Heyneker HL, Yansura DG, Crea R, Hirose T, Kraszewski A, Itakura K, Riggs AD (tháng 1 năm 1979). “Expression in Escherichia coli of chemically synthesized genes for human insulin”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 76 (1): 106–10. Bibcode:1979PNAS...76..106G. PMC 382885. PMID 85300. doi:10.1073/pnas.76.1.106. 
  33. ^ US Supreme Court Cases from Justia & Oyez (16 tháng 6 năm 1980). “Diamond V Chakrabarty” 447 (303). Supreme.justia.com. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  34. ^ “Artificial Genes”. TIME. 15 tháng 11 năm 1982. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  35. ^ Bratspies, Rebecca (2007). “Some Thoughts on the American Approach to Regulating Genetically Modified Organisms”. Kansas Journal of Law & Public Policy 16 (3): 101–31. SSRN 1017832. 
  36. ^ a ă BBC News 14 June 2002 GM crops: A bitter harvest?
  37. ^ Thomas H. Maugh II for the Los Angeles Times. 9 June 1987. Altered Bacterium Does Its Job: Frost Failed to Damage Sprayed Test Crop, Company Says
  38. ^ James, Clive (1996). “Global Review of the Field Testing and Commercialization of Transgenic Plants: 1986 to 1995” (PDF). The International Service for the Acquisition of Agri-biotech Applications. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  39. ^ James, Clive (1997). “Global Status of Transgenic Crops in 1997” (PDF). ISAAA Briefs No. 5.: 31. 
  40. ^ Bruening G, Lyons JM (2000). “The case of the FLAVR SAVR tomato”. California Agriculture 54 (4): 6–7. doi:10.3733/ca.v054n04p6.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  41. ^ MacKenzie D (18 tháng 6 năm 1994). “Transgenic tobacco is European first”. New Scientist. 
  42. ^ Genetically Altered Potato Ok'd For Crops Lawrence Journal-World – 6 May 1995
  43. ^ Global Status of Commercialized Biotech/GM Crops: 2009 ISAAA Brief 41-2009, 23 February 2010. Retrieved 10 August 2010
  44. ^ Pennisi E (tháng 5 năm 2010). “Genomics. Synthetic genome brings new life to bacterium”. Science 328 (5981): 958–9. PMID 20488994. doi:10.1126/science.328.5981.958.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  45. ^ Gibson DG, Glass JI, Lartigue C, Noskov VN, Chuang RY, Algire MA và đồng nghiệp (tháng 7 năm 2010). “Creation of a bacterial cell controlled by a chemically synthesized genome”. Science 329 (5987): 52–6. Bibcode:2010Sci...329...52G. PMID 20488990. doi:10.1126/science.1190719.  Đã bỏ qua tham số không rõ |citeseerx= (trợ giúp)
  46. ^ Malyshev DA, Dhami K, Lavergne T, Chen T, Dai N, Foster JM, Corrêa IR, Romesberg FE (tháng 5 năm 2014). “A semi-synthetic organism with an expanded genetic alphabet”. Nature 509 (7500): 385–8. Bibcode:2014Natur.509..385M. PMC 4058825. PMID 24805238. doi:10.1038/nature13314. 
  47. ^ Thyer R, Ellefson J (tháng 5 năm 2014). “Synthetic biology: New letters for life's alphabet”. Nature 509 (7500): 291–2. Bibcode:2014Natur.509..291T. PMID 24805244. doi:10.1038/nature13335. 
  48. ^ Pollack, Andrew (11 tháng 5 năm 2015). “Jennifer Doudna, a Pioneer Who Helped Simplify Genome Editing”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2017. 
  49. ^ Jinek M, Chylinski K, Fonfara I, Hauer M, Doudna JA, Charpentier E (tháng 8 năm 2012). “A programmable dual-RNA-guided DNA endonuclease in adaptive bacterial immunity”. Science 337 (6096): 816–21. Bibcode:2012Sci...337..816J. PMC 6286148. PMID 22745249. doi:10.1126/science.1225829. 
  50. ^ Ledford H (tháng 3 năm 2016). “CRISPR: gene editing is just the beginning”. Nature 531 (7593): 156–9. Bibcode:2016Natur.531..156L. PMID 26961639. doi:10.1038/531156a.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  51. ^ Koh HJ, Kwon SY, Thomson M (26 tháng 8 năm 2015). Current Technologies in Plant Molecular Breeding: A Guide Book of Plant Molecular Breeding for Researchers (bằng tiếng Anh). Springer. tr. 242. ISBN 978-94-017-9996-6. 
  52. ^ “How to Make a GMO”. Science in the News (bằng tiếng en-US). 9 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2017. 
  53. ^ Nicholl, Desmond S.T. (29 tháng 5 năm 2008). An Introduction to Genetic Engineering (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. tr. 34. ISBN 978-1-139-47178-7. 
  54. ^ Alberts B, Johnson A, Lewis J và đồng nghiệp (2002). “8”. Isolating, Cloning, and Sequencing DNA. (ấn bản 4). New York: Garland Science. 
  55. ^ Kaufman RI, Nixon BT (tháng 7 năm 1996). “Use of PCR to isolate genes encoding sigma54-dependent activators from diverse bacteria”. Journal of Bacteriology 178 (13): 3967–70. PMC 232662. PMID 8682806. doi:10.1128/jb.178.13.3967-3970.1996. 
  56. ^ Liang J, Luo Y, Zhao H (2011). “Synthetic biology: putting synthesis into biology”. Wiley Interdisciplinary Reviews: Systems Biology and Medicine 3 (1): 7–20. PMC 3057768. PMID 21064036. doi:10.1002/wsbm.104. 
  57. ^ “5. The Process of Genetic Modification”. www.fao.org. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2017. 
  58. ^ Berg P, Mertz JE (tháng 1 năm 2010). “Personal reflections on the origins and emergence of recombinant DNA technology”. Genetics 184 (1): 9–17. PMC 2815933. PMID 20061565. doi:10.1534/genetics.109.112144. 
  59. ^ Chen I, Dubnau D (tháng 3 năm 2004). “DNA uptake during bacterial transformation”. Nature Reviews. Microbiology 2 (3): 241–9. PMID 15083159. doi:10.1038/nrmicro844. 
  60. ^ National Research Council (US) Committee on Identifying and Assessing Unintended Effects of Genetically Engineered Foods on Human Health (1 tháng 1 năm 2004). Methods and Mechanisms for Genetic Manipulation of Plants, Animals, and Microorganisms (bằng tiếng Anh). National Academies Press (US). 
  61. ^ Gelvin SB (tháng 3 năm 2003). “Agrobacterium-mediated plant transformation: the biology behind the "gene-jockeying" tool”. Microbiology and Molecular Biology Reviews 67 (1): 16–37, table of contents. PMC 150518. PMID 12626681. doi:10.1128/MMBR.67.1.16-37.2003. 
  62. ^ Head G, Hull RH, Tzotzos GT (2009). Genetically Modified Plants: Assessing Safety and Managing Risk. London: Academic Pr. tr. 244. ISBN 978-0-12-374106-6.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  63. ^ Tuomela M, Stanescu I, Krohn K (tháng 10 năm 2005). “Validation overview of bio-analytical methods”. Gene Therapy. 12 Suppl 1 (S1): S131–8. PMID 16231045. doi:10.1038/sj.gt.3302627.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  64. ^ Narayanaswamy, S. (1994). Plant Cell and Tissue Culture (bằng tiếng Anh). Tata McGraw-Hill Education. tr. vi. ISBN 978-0-07-460277-5. 
  65. ^ National Research Council (US) Committee on Identifying and Assessing Unintended Effects of Genetically Engineered Foods on Human Health (2004). Methods and Mechanisms for Genetic Manipulation of Plants, Animals, and Microorganisms (bằng tiếng Anh). National Academies Press (US). 
  66. ^ Hohn B, Levy AA, Puchta H (tháng 4 năm 2001). “Elimination of selection markers from transgenic plants”. Current Opinion in Biotechnology 12 (2): 139–43. PMID 11287227. doi:10.1016/S0958-1669(00)00188-9. 
  67. ^ Setlow JK (31 tháng 10 năm 2002). Genetic Engineering: Principles and Methods (bằng tiếng Anh). Springer Science & Business Media. tr. 109. ISBN 978-0-306-47280-0. 
  68. ^ Deepak S, Kottapalli K, Rakwal R, Oros G, Rangappa K, Iwahashi H, Masuo Y, Agrawal G (tháng 6 năm 2007). “Real-Time PCR: Revolutionizing Detection and Expression Analysis of Genes”. Current Genomics 8 (4): 234–51. PMC 2430684. PMID 18645596. doi:10.2174/138920207781386960. 
  69. ^ Grizot S, Smith J, Daboussi F, Prieto J, Redondo P, Merino N, Villate M, Thomas S, Lemaire L, Montoya G, Blanco FJ, Pâques F, Duchateau P (tháng 9 năm 2009). “Efficient targeting of a SCID gene by an engineered single-chain homing endonuclease”. Nucleic Acids Research 37 (16): 5405–19. PMC 2760784. PMID 19584299. doi:10.1093/nar/gkp548. 
  70. ^ Gao H, Smith J, Yang M, Jones S, Djukanovic V, Nicholson MG, West A, Bidney D, Falco SC, Jantz D, Lyznik LA (tháng 1 năm 2010). “Heritable targeted mutagenesis in maize using a designed endonuclease”. The Plant Journal 61 (1): 176–87. PMID 19811621. doi:10.1111/j.1365-313X.2009.04041.x. 
  71. ^ Townsend JA, Wright DA, Winfrey RJ, Fu F, Maeder ML, Joung JK, Voytas DF (tháng 5 năm 2009). “High-frequency modification of plant genes using engineered zinc-finger nucleases”. Nature 459 (7245): 442–5. Bibcode:2009Natur.459..442T. PMC 2743854. PMID 19404258. doi:10.1038/nature07845. 
  72. ^ Shukla VK, Doyon Y, Miller JC, DeKelver RC, Moehle EA, Worden SE, Mitchell JC, Arnold NL, Gopalan S, Meng X, Choi VM, Rock JM, Wu YY, Katibah GE, Zhifang G, McCaskill D, Simpson MA, Blakeslee B, Greenwalt SA, Butler HJ, Hinkley SJ, Zhang L, Rebar EJ, Gregory PD, Urnov FD (tháng 5 năm 2009). “Precise genome modification in the crop species Zea mays using zinc-finger nucleases”. Nature 459 (7245): 437–41. Bibcode:2009Natur.459..437S. PMID 19404259. doi:10.1038/nature07992. 
  73. ^ Christian M, Cermak T, Doyle EL, Schmidt C, Zhang F, Hummel A, Bogdanove AJ, Voytas DF (tháng 10 năm 2010). “Targeting DNA double-strand breaks with TAL effector nucleases”. Genetics 186 (2): 757–61. PMC 2942870. PMID 20660643. doi:10.1534/genetics.110.120717. 
  74. ^ Li T, Huang S, Jiang WZ, Wright D, Spalding MH, Weeks DP, Yang B (tháng 1 năm 2011). “TAL nucleases (TALNs): hybrid proteins composed of TAL effectors and FokI DNA-cleavage domain”. Nucleic Acids Research 39 (1): 359–72. PMC 3017587. PMID 20699274. doi:10.1093/nar/gkq704. 
  75. ^ Esvelt KM, Wang HH (2013). “Genome-scale engineering for systems and synthetic biology”. Molecular Systems Biology 9: 641. PMC 3564264. PMID 23340847. doi:10.1038/msb.2012.66. 
  76. ^ Tan WS, Carlson DF, Walton MW, Fahrenkrug SC, Hackett PB (2012). “Precision editing of large animal genomes”. Advances in Genetics Volume 80. Advances in Genetics 80. tr. 37–97. ISBN 978-0-12-404742-6. PMC 3683964. PMID 23084873. doi:10.1016/B978-0-12-404742-6.00002-8. 
  77. ^ a ă Malzahn A, Lowder L, Qi Y (24 tháng 4 năm 2017). “Plant genome editing with TALEN and CRISPR”. Cell & Bioscience 7: 21. PMC 5404292. PMID 28451378. doi:10.1186/s13578-017-0148-4. 
  78. ^ Ekker SC (2008). “Zinc finger-based knockout punches for zebrafish genes”. Zebrafish 5 (2): 121–3. PMC 2849655. PMID 18554175. doi:10.1089/zeb.2008.9988. 
  79. ^ Geurts AM, Cost GJ, Freyvert Y, Zeitler B, Miller JC, Choi VM, Jenkins SS, Wood A, Cui X, Meng X, Vincent A, Lam S, Michalkiewicz M, Schilling R, Foeckler J, Kalloway S, Weiler H, Ménoret S, Anegon I, Davis GD, Zhang L, Rebar EJ, Gregory PD, Urnov FD, Jacob HJ, Buelow R (tháng 7 năm 2009). “Knockout rats via embryo microinjection of zinc-finger nucleases”. Science 325 (5939): 433. Bibcode:2009Sci...325..433G. PMC 2831805. PMID 19628861. doi:10.1126/science.1172447. 
  80. ^ “Genetic Modification of Bacteria”. Annenberg Foundation. 
  81. ^ Panesar, Pamit et al. (2010) "Enzymes in Food Processing: Fundamentals and Potential Applications", Chapter 10, I K International Publishing House, ISBN 978-93-80026-33-6
  82. ^ “GM traits list”. International Service for the Acquisition of Agri-Biotech Applications. 
  83. ^ “ISAAA Brief 43-2011: Executive Summary”. International Service for the Acquisition of Agri-Biotech Applications. 
  84. ^ Connor, Steve (2 tháng 11 năm 2007). “The mouse that shook the world”. The Independent. 
  85. ^ Avise JC (2004). The hope, hype & reality of genetic engineering: remarkable stories from agriculture, industry, medicine, and the environment. Oxford University Press US. tr. 22. ISBN 978-0-19-516950-8. 
  86. ^ “Engineering algae to make complex anti-cancer 'designer' drug”. PhysOrg. 10 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2013. 
  87. ^ Roque AC, Lowe CR, Taipa MA (2004). “Antibodies and genetically engineered related molecules: production and purification”. Biotechnology Progress 20 (3): 639–54. PMID 15176864. doi:10.1021/bp030070k. 
  88. ^ Rodriguez LL, Grubman MJ (tháng 11 năm 2009). “Foot and mouth disease virus vaccines”. Vaccine. 27 Suppl 4: D90–4. PMID 19837296. doi:10.1016/j.vaccine.2009.08.039. 
  89. ^ “Background: Cloned and Genetically Modified Animals”. Center for Genetics and Society. 14 tháng 4 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  90. ^ “Knockout Mice”. Nation Human Genome Research Institute. 2009. 
  91. ^ “GM pigs best bet for organ transplant”. Medical News Today. 21 tháng 9 năm 2003. 
  92. ^ Fischer A, Hacein-Bey-Abina S, Cavazzana-Calvo M (tháng 6 năm 2010). “20 years of gene therapy for SCID”. Nature Immunology 11 (6): 457–60. PMID 20485269. doi:10.1038/ni0610-457. 
  93. ^ Ledford, Heidi (2011). “Cell therapy fights leukaemia”. Nature. doi:10.1038/news.2011.472. 
  94. ^ Brentjens RJ, Davila ML, Riviere I, Park J, Wang X, Cowell LG và đồng nghiệp (tháng 3 năm 2013). “CD19-targeted T cells rapidly induce molecular remissions in adults with chemotherapy-refractory acute lymphoblastic leukemia”. Science Translational Medicine 5 (177): 177ra38. PMC 3742551. PMID 23515080. doi:10.1126/scitranslmed.3005930. 
  95. ^ LeWitt PA, Rezai AR, Leehey MA, Ojemann SG, Flaherty AW, Eskandar EN và đồng nghiệp (tháng 4 năm 2011). “AAV2-GAD gene therapy for advanced Parkinson's disease: a double-blind, sham-surgery controlled, randomised trial”. The Lancet. Neurology 10 (4): 309–19. PMID 21419704. doi:10.1016/S1474-4422(11)70039-4. 
  96. ^ Gallagher, James. (2 November 2012) BBC News – Gene therapy: Glybera approved by European Commission. Bbc.co.uk. Retrieved on 15 December 2012.
  97. ^ Richards, Sabrina. “Gene Therapy Arrives in Europe”. The Scientist. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  98. ^ “Genetically Altered Skin Saves A Boy Dying of a Rare Disease”. NPR.org (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2017. 
  99. ^ “1990 The Declaration of Inuyama”. 5 tháng 8 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2001. 
  100. ^ Smith KR, Chan S, Harris J (tháng 10 năm 2012). “Human germline genetic modification: scientific and bioethical perspectives”. Archives of Medical Research 43 (7): 491–513. PMID 23072719. doi:10.1016/j.arcmed.2012.09.003. 
  101. ^ Kolata, Gina (23 tháng 4 năm 2015). “Chinese Scientists Edit Genes of Human Embryos, Raising Concerns”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015. 
  102. ^ Liang P, Xu Y, Zhang X, Ding C, Huang R, Zhang Z và đồng nghiệp (tháng 5 năm 2015). “CRISPR/Cas9-mediated gene editing in human tripronuclear zygotes”. Protein & Cell 6 (5): 363–372. PMC 4417674. PMID 25894090. doi:10.1007/s13238-015-0153-5. 
  103. ^ Wade, Nicholas (3 tháng 12 năm 2015). “Scientists Place Moratorium on Edits to Human Genome That Could Be Inherited”. The New York Times. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2015. 
  104. ^ Bergeson, Emilie R. (1997). “The Ethics of Gene Therapy”. 
  105. ^ Hanna, Kathi E. “Genetic Enhancement”. National Human Genome Research Institute. 
  106. ^ Begley, Sharon (28 tháng 11 năm 2018). “Amid uproar, Chinese scientist defends creating gene-edited babies – STAT”. STAT. 
  107. ^ Harmon, Amy (26 tháng 11 năm 2015). “Open Season Is Seen in Gene Editing of Animals”. The New York Times (bằng tiếng en-US). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2017. 
  108. ^ Praitis V, Maduro MF (2011). “Transgenesis in C. elegans”. Methods in Cell Biology 106: 161–85. ISBN 9780125441728. PMID 22118277. doi:10.1016/B978-0-12-544172-8.00006-2. 
  109. ^ “Rediscovering Biology – Online Textbook: Unit 13 Genetically Modified Organisms”. www.learner.org. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2017. 
  110. ^ a ă â Alberts, Bruce; Johnson, Alexander; Lewis, Julian; Raff, Martin; Roberts, Keith; Walter, Peter (2002). “Studying Gene Expression and Function”. 
  111. ^ Park SJ, Cochran JR (25 tháng 9 năm 2009). Protein Engineering and Design (bằng tiếng Anh). CRC Press. ISBN 978-1-4200-7659-2. 
  112. ^ Kurnaz IA (8 tháng 5 năm 2015). Techniques in Genetic Engineering. CRC Press. ISBN 978-1-4822-6090-8. 
  113. ^ “Applications of Genetic Engineering”. Microbiologyprocedure. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  114. ^ “Biotech: What are transgenic organisms?”. Easyscience. 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  115. ^ Savage N (1 tháng 8 năm 2007). “Making Gasoline from Bacteria: A biotech startup wants to coax fuels from engineered microbes”. Technology Review. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  116. ^ Summers, Rebecca (24 tháng 4 năm 2013). “Bacteria churn out first ever petrol-like biofuel”. New Scientist. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2013. 
  117. ^ “Applications of Some Genetically Engineered Bacteria”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  118. ^ Sanderson, Katherine (24 tháng 2 năm 2012). “New Portable Kit Detects Arsenic in Wells”. Chemical and Engineering News. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2013. 
  119. ^ Reece JB, Urry LA, Cain ML, Wasserman SA, Minorsky PV, Jackson RB (2011). Campbell Biology Ninth Edition. San Francisco: Pearson Benjamin Cummings. tr. 421. ISBN 978-0-321-55823-7. 
  120. ^ “New virus-built battery could power cars, electronic devices”. Web.mit.edu. 2 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  121. ^ “Hidden Ingredient in New, Greener Battery: A Virus”. Npr.org. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2010. 
  122. ^ “Researchers Synchronize Blinking 'Genetic Clocks' – Genetically Engineered Bacteria That Keep Track of Time”. ScienceDaily. 24 tháng 1 năm 2010. 
  123. ^ Suszkiw, Jan (tháng 11 năm 1999). “Tifton, Georgia: A Peanut Pest Showdown”. Agricultural Research magazine. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008. 
  124. ^ Magaña-Gómez JA, de la Barca AM (tháng 1 năm 2009). “Risk assessment of genetically modified crops for nutrition and health”. Nutrition Reviews 67 (1): 1–16. PMID 19146501. doi:10.1111/j.1753-4887.2008.00130.x. 
  125. ^ Islam, Aparna (2008). “Fungus Resistant Transgenic Plants: Strategies, Progress and Lessons Learnt”. Plant Tissue Culture and Biotechnology 16 (2): 117–38. doi:10.3329/ptcb.v16i2.1113.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  126. ^ “Disease resistant crops”. GMO Compass. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2010. 
  127. ^ Demont M, Tollens E (2004). “First impact of biotechnology in the EU: Bt maize adoption in Spain”. Annals of Applied Biology 145 (2): 197–207. doi:10.1111/j.1744-7348.2004.tb00376.x. 
  128. ^ Chivian E, Bernstein A (2008). Sustaining Life. Oxford University Press, Inc. ISBN 978-0-19-517509-7.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  129. ^ a ă Whitman, Deborah B. (2000). “Genetically Modified Foods: Harmful or Helpful?”. 
  130. ^ Pollack, Andrew (19 tháng 11 năm 2015). “Genetically Engineered Salmon Approved for Consumption”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  131. ^ Rapeseed (canola) has been genetically engineered to modify its oil content with a gene encoding a "12:0 thioesterase" (TE) enzyme from the California bay plant (Umbellularia californica) to increase medium length fatty acids, see: Geo-pie.cornell.edu Error in Webarchive template: Empty url.
  132. ^ Bomgardner MM (2012). “Replacing Trans Fat: New crops from Dow Chemical and DuPont target food makers looking for stable, heart-healthy oils”. Chemical and Engineering News 90 (11): 30–32. doi:10.1021/cen-09011-bus1. 
  133. ^ Kramer, Matthew G.; Redenbaugh, Keith (1 tháng 1 năm 1994). “Commercialization of a tomato with an antisense polygalacturonase gene: The FLAVR SAVR™ tomato story”. Euphytica (bằng tiếng Anh) 79 (3): 293–97. ISSN 0014-2336. doi:10.1007/BF00022530. 
  134. ^ Marvier, Michelle (2008). “Pharmaceutical crops in California, benefits and risks. A review” (PDF). Agronomy for Sustainable Development 28 (1): 1–9. doi:10.1051/agro:2007050. 
  135. ^ “FDA Approves First Human Biologic Produced by GE Animals”. US Food and Drug Administration. 
  136. ^ Rebêlo, Paulo (15 tháng 7 năm 2004). “GM cow milk 'could provide treatment for blood disease'. SciDev. 
  137. ^ Angulo E, Cooke B (tháng 12 năm 2002). “First synthesize new viruses then regulate their release? The case of the wild rabbit”. Molecular Ecology 11 (12): 2703–9. PMID 12453252. doi:10.1046/j.1365-294X.2002.01635.x.  Đã bỏ qua tham số không rõ |hdl-access= (trợ giúp)
  138. ^ Adams JM, Piovesan G, Strauss S, Brown S (2 tháng 8 năm 2002). “The Case for Genetic Engineering of Native and Landscape Trees against Introduced Pests and Diseases”. Conservation Biology 16 (4): 874–79. doi:10.1046/j.1523-1739.2002.00523.x. 
  139. ^ Thomas MA, Roemer GW, Donlan CJ, Dickson BG, Matocq M, Malaney J (tháng 9 năm 2013). “Ecology: Gene tweaking for conservation”. Nature 501 (7468): 485–6. PMID 24073449. doi:10.1038/501485a.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  140. ^ Pasko, Jessica M. (4 tháng 3 năm 2007). “Bio-artists bridge gap between arts, sciences: Use of living organisms is attracting attention and controversy”. msnbc. 
  141. ^ Jackson, Joab (6 tháng 12 năm 2005). “Genetically Modified Bacteria Produce Living Photographs”. National Geographic News. 
  142. ^ Phys.Org website. 4 April 2005 "Plant gene replacement results in the world's only blue rose".
  143. ^ Katsumoto Y, Fukuchi-Mizutani M, Fukui Y, Brugliera F, Holton TA, Karan M, Nakamura N, Yonekura-Sakakibara K, Togami J, Pigeaire A, Tao GQ, Nehra NS, Lu CY, Dyson BK, Tsuda S, Ashikari T, Kusumi T, Mason JG, Tanaka Y (tháng 11 năm 2007). “Engineering of the rose flavonoid biosynthetic pathway successfully generated blue-hued flowers accumulating delphinidin”. Plant & Cell Physiology 48 (11): 1589–600. PMID 17925311. doi:10.1093/pcp/pcm131.  Đã bỏ qua tham số không rõ |citeseerx= (trợ giúp)
  144. ^ Published PCT Application WO2000049150 "Chimeric Gene Constructs for Generation of Fluorescent Transgenic Ornamental Fish." National University of Singapore
  145. ^ Stewart CN (tháng 4 năm 2006). “Go with the glow: fluorescent proteins to light transgenic organisms” (PDF). Trends in Biotechnology 24 (4): 155–62. PMID 16488034. doi:10.1016/j.tibtech.2006.02.002. 
  146. ^ Berg P, Baltimore D, Boyer HW, Cohen SN, Davis RW, Hogness DS, Nathans D, Roblin R, Watson JD, Weissman S, Zinder ND (tháng 7 năm 1974). “Letter: Potential biohazards of recombinant DNA molecules” (PDF). Science 185 (4148): 303. Bibcode:1974Sci...185..303B. PMC 388511. PMID 4600381. doi:10.1126/science.185.4148.303. 
  147. ^ McHughen A, Smyth S (tháng 1 năm 2008). “US regulatory system for genetically modified [genetically modified organism (GMO), rDNA or transgenic] crop cultivars”. Plant Biotechnology Journal 6 (1): 2–12. PMID 17956539. doi:10.1111/j.1467-7652.2007.00300.x. 
  148. ^ U.S. Office of Science and Technology Policy (tháng 6 năm 1986). “Coordinated framework for regulation of biotechnology; announcement of policy; notice for public comment” (PDF). Federal Register 51 (123): 23302–50. PMID 11655807. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  149. ^ Redick, T.P. (2007). “The Cartagena Protocol on biosafety: Precautionary priority in biotech crop approvals and containment of commodities shipments, 2007”. Colorado Journal of International Environmental Law and Policy 18: 51–116. 
  150. ^ “About the Protocol”. The Biosafety Clearing-House (BCH). 29 tháng 5 năm 2012. 
  151. ^ “AgBioForum 13(3): Implications of Import Regulations and Information Requirements under the Cartagena Protocol on Biosafety for GM Commodities in Kenya”. 28 tháng 10 năm 2010. 
  152. ^ “Restrictions on Genetically Modified Organisms”. Library of Congress. 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016. 
  153. ^ Bashshur, Ramona (tháng 2 năm 2013). “FDA and Regulation of GMOs”. American Bar Association. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016. 
  154. ^ Sifferlin, Alexandra (3 tháng 10 năm 2015). “Over Half of E.U. Countries Are Opting Out of GMOs”. Time. 
  155. ^ Lynch, Diahanna; Vogel, David (5 tháng 4 năm 2001). “The Regulation of GMOs in Europe and the United States: A Case-Study of Contemporary European Regulatory Politics”. Council on Foreign Relations. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016. 
  156. ^ “Restrictions on Genetically Modified Organisms - Law Library of Congress”. 22 tháng 1 năm 2017. 
  157. ^ Emily Marden, Risk and Regulation: U.S. Regulatory Policy on Genetically Modified Food and Agriculture, 44 B.C.L. Rev. 733 (2003)
  158. ^ a ă Davison, John (2010). “GM plants: Science, politics and EC regulations”. Plant Science 178 (2): 94–98. doi:10.1016/j.plantsci.2009.12.005. 
  159. ^ GMO Compass: The European Regulatory System. Error in Webarchive template: Empty url. Retrieved 28 July 2012.
  160. ^ “Regulation (EC) No 1829/2003 of the European Parliament and of the Council of 22 September 2003 On Genetically Modified Food And Feed” (PDF). Official Journal of the European Union. 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2014. The labeling should include objective information to the effect that a food or feed consists of, contains or is produced from GMOs. Clear labeling, irrespective of the detectability of DNA or protein resulting from the genetic modification in the final product, meets the demands expressed in numerous surveys by a large majority of consumers, facilitates informed choice and precludes potential misleading of consumers as regards methods of manufacture or production. 
  161. ^ “Regulation (EC) No 1830/2003 of the European Parliament and of the Council of 22 September 2003 concerning the traceability and labeling of genetically modified organisms and the traceability of food and feed products produced from genetically modified organisms and amending Directive 2001/18/EC”. Official Journal L 268. The European Parliament and the Council of the European Union. 2003. tr. 24–28. (3) Traceability requirements for GMOs should facilitate both the withdrawal of products where unforeseen adverse effects on human health, animal health or the environment, including ecosystems, are established, and the targeting of monitoring to examine potential effects on, in particular, the environment. Traceability should also facilitate the implementation of risk management measures in accordance with the precautionary principle. (4) Traceability requirements for food and feed produced from GMOs should be established to facilitate accurate labeling of such products. 
  162. ^ “Report 2 of the Council on Science and Public Health: Labeling of Bioengineered Foods” (PDF). American Medical Association. 2012. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2012. 
  163. ^ American Association for the Advancement of Science (AAAS), Board of Directors (2012). Statement by the AAAS Board of Directors On Labeling of Genetically Modified Foods, and associated Press release: Legally Mandating GM Food Labels Could Mislead and Falsely Alarm Consumers Error in Webarchive template: Empty url.
  164. ^ Hallenbeck, Terri (27 tháng 4 năm 2014). “How GMO labeling came to pass in Vermont”. Burlington Free Press. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2014. 
  165. ^ “The Regulation of Genetically Modified Foods”. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  166. ^ Sheldon, Ian M. (1 tháng 3 năm 2002). “Regulation of biotechnology: will we ever 'freely' trade GMOs?”. European Review of Agricultural Economics 29 (1): 155–76. ISSN 0165-1587. doi:10.1093/erae/29.1.155.  Đã bỏ qua tham số không rõ |citeseerx= (trợ giúp)
  167. ^ Dabrock P (tháng 12 năm 2009). “Playing God? Synthetic biology as a theological and ethical challenge”. Systems and Synthetic Biology 3 (1–4): 47–54. PMC 2759421. PMID 19816799. doi:10.1007/s11693-009-9028-5. 
  168. ^ Brown C (tháng 10 năm 2000). “Patenting life: genetically altered mice an invention, court declares”. CMAJ 163 (7): 867–8. PMC 80518. PMID 11033718. 
  169. ^ Zhou, Wen (10 tháng 8 năm 2015). “The Patent Landscape of Genetically Modified Organisms”. Science in the News. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  170. ^ Puckett, Lily (20 tháng 4 năm 2016). “Why The New GMO Food-Labeling Law Is So Controversial”. Huffington Post. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  171. ^ Miller, Henry (12 tháng 4 năm 2016). “GMO food labels are meaningless”. Los Angeles Times. ISSN 0458-3035. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  172. ^ Savage, Steven. “Who Controls The Food Supply?”. Forbes. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  173. ^ Knight AJ (14 tháng 4 năm 2016). Science, Risk, and Policy. Routledge. tr. 156. ISBN 978-1-317-28081-1. 
  174. ^ Hakim, Danny (29 tháng 10 năm 2016). “Doubts About the Promised Bounty of Genetically Modified Crops”. The New York Times. ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2017. 
  175. ^ Areal FJ, Riesgo L, Rodríguez-Cerezo E (1 tháng 2 năm 2013). “Economic and agronomic impact of commercialized GM crops: a meta-analysis”. The Journal of Agricultural Science 151 (1): 7–33. doi:10.1017/S0021859612000111. 
  176. ^ Finger, Robert; El Benni, Nadja; Kaphengst, Timo; Evans, Clive; Herbert, Sophie; Lehmann, Bernard; Morse, Stephen; Stupak, Nataliya (10 tháng 5 năm 2011). “A Meta Analysis on Farm-Level Costs and Benefits of GM Crops” (PDF). Sustainability 3 (5): 743–62. doi:10.3390/su3050743. 
  177. ^ Klümper W, Qaim M (3 tháng 11 năm 2014). “A meta-analysis of the impacts of genetically modified crops”. PLOS ONE 9 (11): e111629. Bibcode:2014PLoSO...9k1629K. PMC 4218791. PMID 25365303. doi:10.1371/journal.pone.0111629. 
  178. ^ Qiu, Jane (2013). “Genetically modified crops pass benefits to weeds”. Nature. doi:10.1038/nature.2013.13517. 
  179. ^ a ă “GMOs and the environment”. www.fao.org. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2017. 
  180. ^ Dively GP, Venugopal PD, Finkenbinder C (30 tháng 12 năm 2016). “Field-Evolved Resistance in Corn Earworm to Cry Proteins Expressed by Transgenic Sweet Corn”. PLOS ONE 11 (12): e0169115. Bibcode:2016PLoSO..1169115D. PMC 5201267. PMID 28036388. doi:10.1371/journal.pone.0169115. 
  181. ^ Qiu, Jane (13 tháng 5 năm 2010). “GM crop use makes minor pests major problem”. Nature News. doi:10.1038/news.2010.242.  Đã bỏ qua tham số không rõ |citeseerx= (trợ giúp)
  182. ^ Gilbert N (tháng 5 năm 2013). “Case studies: A hard look at GM crops”. Nature 497 (7447): 24–6. Bibcode:2013Natur.497...24G. PMID 23636378. doi:10.1038/497024a.  Đã bỏ qua tham số không rõ |doi-access= (trợ giúp)
  183. ^ “Are GMO Fish Safe for the Environment? | Accumulating Glitches | Learn Science at Scitable”. www.nature.com. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2017. 
  184. ^ “Q&A: genetically modified food”. World Health Organization. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2017. 
  185. ^ Nicolia A, Manzo A, Veronesi F, Rosellini D (tháng 3 năm 2014). “An overview of the last 10 years of genetically engineered crop safety research”. Critical Reviews in Biotechnology 34 (1): 77–88. PMID 24041244. doi:10.3109/07388551.2013.823595. We have reviewed the scientific literature on GE crop safety for the last 10 years that catches the scientific consensus matured since GE plants became widely cultivated worldwide, and we can conclude that the scientific research conducted so far has not detected any significant hazard directly connected with the use of GM crops. The literature about Biodiversity and the GE food/feed consumption has sometimes resulted in animated debate regarding the suitability of the experimental designs, the choice of the statistical methods or the public accessibility of data. Such debate, even if positive and part of the natural process of review by the scientific community, has frequently been distorted by the media and often used politically and inappropriately in anti-GE crops campaigns. 
  186. ^ “State of Food and Agriculture 2003–2004. Agricultural Biotechnology: Meeting the Needs of the Poor. Health and environmental impacts of transgenic crops”. Food and Agriculture Organization of the United Nations. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. Currently available transgenic crops and foods derived from them have been judged safe to eat and the methods used to test their safety have been deemed appropriate. These conclusions represent the consensus of the scientific evidence surveyed by the ICSU (2003) and they are consistent with the views of the World Health Organization (WHO, 2002). These foods have been assessed for increased risks to human health by several national regulatory authorities (inter alia, Argentina, Brazil, Canada, China, the United Kingdom and the United States) using their national food safety procedures (ICSU). To date no verifiable untoward toxic or nutritionally deleterious effects resulting from the consumption of foods derived from genetically modified crops have been discovered anywhere in the world (GM Science Review Panel). Many millions of people have consumed foods derived from GM plants – mainly maize, soybean and oilseed rape – without any observed adverse effects (ICSU). 
  187. ^ Ronald P (tháng 5 năm 2011). “Plant genetics, sustainable agriculture and global food security”. Genetics 188 (1): 11–20. PMC 3120150. PMID 21546547. doi:10.1534/genetics.111.128553. There is broad scientific consensus that genetically engineered crops currently on the market are safe to eat. After 14 years of cultivation and a cumulative total of 2 billion acres planted, no adverse health or environmental effects have resulted from commercialization of genetically engineered crops (Board on Agriculture and Natural Resources, Committee on Environmental Impacts Associated with Commercialization of Transgenic Plants, National Research Council and Division on Earth and Life Studies 2002). Both the U.S. National Research Council and the Joint Research Centre (the European Union's scientific and technical research laboratory and an integral part of the European Commission) have concluded that there is a comprehensive body of knowledge that adequately addresses the food safety issue of genetically engineered crops (Committee on Identifying and Assessing Unintended Effects of Genetically Engineered Foods on Human Health and National Research Council 2004; European Commission Joint Research Centre 2008). These and other recent reports conclude that the processes of genetic engineering and conventional breeding are no different in terms of unintended consequences to human health and the environment (European Commission Directorate-General for Research and Innovation 2010). 
  188. ^ But see also: Domingo JL, Giné Bordonaba J (tháng 5 năm 2011). “A literature review on the safety assessment of genetically modified plants”. Environment International 37 (4): 734–42. PMID 21296423. doi:10.1016/j.envint.2011.01.003. In spite of this, the number of studies specifically focused on safety assessment of GM plants is still limited. However, it is important to remark that for the first time, a certain equilibrium in the number of research groups suggesting, on the basis of their studies, that a number of varieties of GM products (mainly maize and soybeans) are as safe and nutritious as the respective conventional non-GM plant, and those raising still serious concerns, was observed. Moreover, it is worth mentioning that most of the studies demonstrating that GM foods are as nutritional and safe as those obtained by conventional breeding, have been performed by biotechnology companies or associates, which are also responsible of commercializing these GM plants. Anyhow, this represents a notable advance in comparison with the lack of studies published in recent years in scientific journals by those companies.  Krimsky, Sheldon (2015). “An Illusory Consensus behind GMO Health Assessment” (PDF). Science, Technology, & Human Values 40 (6): 883–914. doi:10.1177/0162243915598381. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016. I began this article with the testimonials from respected scientists that there is literally no scientific controversy over the health effects of GMOs. My investigation into the scientific literature tells another story.  And contrast: Panchin AY, Tuzhikov AI (tháng 3 năm 2017). “Published GMO studies find no evidence of harm when corrected for multiple comparisons”. Critical Reviews in Biotechnology 37 (2): 213–217. PMID 26767435. doi:10.3109/07388551.2015.1130684. Here, we show that a number of articles some of which have strongly and negatively influenced the public opinion on GM crops and even provoked political actions, such as GMO embargo, share common flaws in the statistical evaluation of the data. Having accounted for these flaws, we conclude that the data presented in these articles does not provide any substantial evidence of GMO harm. The presented articles suggesting possible harm of GMOs received high public attention. However, despite their claims, they actually weaken the evidence for the harm and lack of substantial equivalency of studied GMOs. We emphasize that with over 1783 published articles on GMOs over the last 10 years it is expected that some of them should have reported undesired differences between GMOs and conventional crops even if no such differences exist in reality.  and Yang YT, Chen B (tháng 4 năm 2016). “Governing GMOs in the USA: science, law and public health”. Journal of the Science of Food and Agriculture 96 (6): 1851–5. PMID 26536836. doi:10.1002/jsfa.7523. It is therefore not surprising that efforts to require labeling and to ban GMOs have been a growing political issue in the USA (citing Domingo and Bordonaba, 2011). Overall, a broad scientific consensus holds that currently marketed GM food poses no greater risk than conventional food... Major national and international science and medical associations have stated that no adverse human health effects related to GMO food have been reported or substantiated in peer-reviewed literature to date. Despite various concerns, today, the American Association for the Advancement of Science, the World Health Organization, and many independent international science organizations agree that GMOs are just as safe as other foods. Compared with conventional breeding techniques, genetic engineering is far more precise and, in most cases, less likely to create an unexpected outcome. 
  189. ^ “Statement by the AAAS Board of Directors on Labeling of Genetically Modified Foods” (PDF). American Association for the Advancement of Science. 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. The EU, for example, has invested more than €300 million in research on the biosafety of GMOs. Its recent report states: "The main conclusion to be drawn from the efforts of more than 130 research projects, covering a period of more than 25 years of research and involving more than 500 independent research groups, is that biotechnology, and in particular GMOs, are not per se more risky than e.g. conventional plant breeding technologies." The World Health Organization, the American Medical Association, the U.S. National Academy of Sciences, the British Royal Society, and every other respected organization that has examined the evidence has come to the same conclusion: consuming foods containing ingredients derived from GM crops is no riskier than consuming the same foods containing ingredients from crop plants modified by conventional plant improvement techniques. Pinholster, Ginger (25 tháng 10 năm 2012). “AAAS Board of Directors: Legally Mandating GM Food Labels Could "Mislead and Falsely Alarm Consumers". American Association for the Advancement of Science. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  190. ^ A decade of EU-funded GMO research (2001–2010) (PDF). Directorate-General for Research and Innovation. Biotechnologies, Agriculture, Food. European Commission, European Union. 2010. ISBN 978-92-79-16344-9. doi:10.2777/97784. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. 
  191. ^ “AMA Report on Genetically Modified Crops and Foods (online summary)”. American Medical Association. Tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. A report issued by the scientific council of the American Medical Association (AMA) says that no long-term health effects have been detected from the use of transgenic crops and genetically modified foods, and that these foods are substantially equivalent to their conventional counterparts. (from online summary prepared by ISAAA)" "Crops and foods produced using recombinant DNA techniques have been available for fewer than 10 years and no long-term effects have been detected to date. These foods are substantially equivalent to their conventional counterparts. (from original report by AMA: [1]) “Report 2 of the Council on Science and Public Health (A-12): Labeling of Bioengineered Foods” (PDF). American Medical Association. 2012. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2016. Bioengineered foods have been consumed for close to 20 years, and during that time, no overt consequences on human health have been reported and/or substantiated in the peer-reviewed literature. 
  192. ^ “Restrictions on Genetically Modified Organisms: United States. Public and Scholarly Opinion”. Library of Congress. 9 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. Several scientific organizations in the US have issued studies or statements regarding the safety of GMOs indicating that there is no evidence that GMOs present unique safety risks compared to conventionally bred products. These include the National Research Council, the American Association for the Advancement of Science, and the American Medical Association. Groups in the US opposed to GMOs include some environmental organizations, organic farming organizations, and consumer organizations. A substantial number of legal academics have criticized the US's approach to regulating GMOs. 
  193. ^ National Academies of Sciences, Engineering; Division on Earth Life Studies; Board on Agriculture Natural Resources; Committee on Genetically Engineered Crops: Past Experience Future Prospects (2016). Genetically Engineered Crops: Experiences and Prospects. The National Academies of Sciences, Engineering, and Medicine (US). tr. 149. ISBN 978-0-309-43738-7. PMID 28230933. doi:10.17226/23395. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2016. Overall finding on purported adverse effects on human health of foods derived from GE crops: On the basis of detailed examination of comparisons of currently commercialized GE with non-GE foods in compositional analysis, acute and chronic animal toxicity tests, long-term data on health of livestock fed GE foods, and human epidemiological data, the committee found no differences that implicate a higher risk to human health from GE foods than from their non-GE counterparts. 
  194. ^ “Frequently asked questions on genetically modified foods”. World Health Organization. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016. Different GM organisms include different genes inserted in different ways. This means that individual GM foods and their safety should be assessed on a case-by-case basis and that it is not possible to make general statements on the safety of all GM foods. GM foods currently available on the international market have passed safety assessments and are not likely to present risks for human health. In addition, no effects on human health have been shown as a result of the consumption of such foods by the general population in the countries where they have been approved. Continuous application of safety assessments based on the Codex Alimentarius principles and, where appropriate, adequate post market monitoring, should form the basis for ensuring the safety of GM foods. 
  195. ^ Haslberger AG (tháng 7 năm 2003). “Codex guidelines for GM foods include the analysis of unintended effects”. Nature Biotechnology 21 (7): 739–41. PMID 12833088. doi:10.1038/nbt0703-739. These principles dictate a case-by-case premarket assessment that includes an evaluation of both direct and unintended effects. 
  196. ^ Some medical organizations, including the British Medical Association, advocate further caution based upon the precautionary principle:“Genetically modified foods and health: a second interim statement” (PDF). British Medical Association. Tháng 3 năm 2004. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2016. In our view, the potential for GM foods to cause harmful health effects is very small and many of the concerns expressed apply with equal vigour to conventionally derived foods. However, safety concerns cannot, as yet, be dismissed completely on the basis of information currently available. When seeking to optimise the balance between benefits and risks, it is prudent to err on the side of caution and, above all, learn from accumulating knowledge and experience. Any new technology such as genetic modification must be examined for possible benefits and risks to human health and the environment. As with all novel foods, safety assessments in relation to GM foods must be made on a case-by-case basis. Members of the GM jury project were briefed on various aspects of genetic modification by a diverse group of acknowledged experts in the relevant subjects. The GM jury reached the conclusion that the sale of GM foods currently available should be halted and the moratorium on commercial growth of GM crops should be continued. These conclusions were based on the precautionary principle and lack of evidence of any benefit. The Jury expressed concern over the impact of GM crops on farming, the environment, food safety and other potential health effects. The Royal Society review (2002) concluded that the risks to human health associated with the use of specific viral DNA sequences in GM plants are negligible, and while calling for caution in the introduction of potential allergens into food crops, stressed the absence of evidence that commercially available GM foods cause clinical allergic manifestations. The BMA shares the view that there is no robust evidence to prove that GM foods are unsafe but we endorse the call for further research and surveillance to provide convincing evidence of safety and benefit. 
  197. ^ Funk, Cary; Rainie, Lee (29 tháng 1 năm 2015). “Public and Scientists' Views on Science and Society”. Pew Research Center. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016. The largest differences between the public and the AAAS scientists are found in beliefs about the safety of eating genetically modified (GM) foods. Nearly nine-in-ten (88%) scientists say it is generally safe to eat GM foods compared with 37% of the general public, a difference of 51 percentage points. 
  198. ^ Marris C (tháng 7 năm 2001). “Public views on GMOs: deconstructing the myths. Stakeholders in the GMO debate often describe public opinion as irrational. But do they really understand the public?”. EMBO Reports 2 (7): 545–8. PMC 1083956. PMID 11463731. doi:10.1093/embo-reports/kve142. 
  199. ^ Final Report of the PABE research project (tháng 12 năm 2001). “Public Perceptions of Agricultural Biotechnologies in Europe”. Commission of European Communities. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016. 
  200. ^ Scott SE, Inbar Y, Rozin P (tháng 5 năm 2016). “Evidence for Absolute Moral Opposition to Genetically Modified Food in the United States”. Perspectives on Psychological Science 11 (3): 315–324. PMID 27217243. doi:10.1177/1745691615621275. 
  201. ^ a ă “Genetic Engineering”. The Encyclopedia of Science Fiction. 15 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  202. ^ Koboldt, Daniel (29 tháng 8 năm 2017). “The Science of Sci-Fi: How Science Fiction Predicted the Future of Genetics”. Outer Places. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  203. ^ Moraga, Roger (tháng 11 năm 2009). “Modern Genetics in the World of Fiction”. Clarkesworld Magazine (38). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2018. 
  204. ^ a ă â Clark, Michael. “Genetic themes in fiction films: Genetics meets Hollywood”. The Wellcome Trust. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.