Keyakizaka46

nhóm nhạc thần tượng người Nhật Bản

Keyakizaka46 (欅坂46? Keyakizaka Forty-six) là nhóm nhạc nữ thần tượng Nhật Bản, quản lí bởi Akimoto Yasushi. Nhóm được thành lập vào ngày 21 tháng 8 năm 2015.[1][2] Đây là nhóm nhạc chị em đầu tiên của Nogizaka46. Tên nhóm Keyakizaka46 được đặt tên theo tên đường Keyakizaka thuộc quận Roppongi, Minato, Tokyo. Đến nay, Keyakizaka46 đã có tổng cộng 28 thành viên (Bao gồm Thế hệ thứ nhất và Thế hệ thứ hai)

Keyakizaka46
Nguyên quánNhật Bản
Thể loạiJ-pop
Năm hoạt động21 tháng 8 năm 2015 – hiện tại
Hãng đĩaSony Music
Hợp tác vớiNogizaka46
Hinatazaka46
Yoshimotozaka46
Websitewww.keyakizaka46.com
Thành viênXem Thành viên

Năm 2018, lượng bán đĩa CD tại Nhật Bản của nhóm đạt 6 triệu bản.

Quá trình hoạt độngSửa đổi

2015Sửa đổi

Vào ngày 22 tháng 2 năm 2015, trong buổi live Sinh nhật năm thứ ba của Nogizaka46 tại Seibu Dome, Nogizaka46 thông báo kế hoạch tuyển thành viên thế hệ đầu tiên cho dự án mới.[3] Tên của nhóm mới được tiết lộ là Toriizaka46 (鳥居坂46?) và mở tuyển thành viên từ ngày 28 tháng 7.[4] Kì tuyển chọn cuối cùng được tổ chức vào ngày 21 tháng 8, cùng ngày ra đời của Nogizaka46, và 22 thành viên được chọn từ 22,509 thí sinh. Trong buổi họp báo ngay sau đó, đại diện uỷ ban Nogizaka, Yoshio Konno bất ngờ thông báo đổi tên nhóm thành Keyakizaka46; tuy nhiên, thông báo đổi tên này không có lí do cụ thể.[5]

Từ ngày 4 tháng 10, nhóm có chương trình truyền hình riêng của nhóm vào mỗi Chủ Nhật với tên chương trình là Keyakitte, Kakenai? (欅って、書けない??) trên kênh TV Tokyo.[6] Trong chương trình này, Keyakizaka46 thông báo thêm thành viên mới Nagahama Neru (長濱ねる?) vào ngày 29 tháng 11.[7] Cô được ra mắt là thành viên của phân nhóm mới (thế hệ 2) Hiragana Keyakizaki46 (けやき坂46(ひらがなけやき)?) (tên rút gọn là: Hiragana Keyaki) và quá trình tuyển thành viên cho phân nhóm mới cũng bắt đầu. Để phân biệt với phân nhóm mới, nhóm cũ (thế hệ 1) được gọi là Kanji Keyakizaka46.[8]

Vào ngày 16 tháng 12, nhóm biểu diễn lần đầu tiên trên chương trình âm nhạc FNS Music Festival của kênh Fuji TV. Vị trí trung tâm của bài vũ đạo là thành viên nhỏ tuổi nhất Hirate Yurina (平手友梨奈?), 14 tuổi vào thời điểm đó.[9]

2016Sửa đổi

Tháng 2 năm 2016, Keyakizaka46 công bố phát hành đĩa đơn đầu tiên vào ngày 6 tháng 4 cùng năm.[10] Sau đó, tiêu đề đĩa đơn được công bố là Silent Majority.[11] Bài hát cũng được sử dụng trong quảng cáo truyền hình cho ứng dụng điện thoại Mechakari.[12] Khác với Nogizaka46, tất cả các thành viên (ngoại trừ Nagahama Neru) đều được chọn để hát cho ca khúc tiêu đề.[13] Đĩa đơn bán được 261,580 bản trong tuần đầu tiên và xếp hạng đầu tiên trên bảng xếp hạng hàng tuần Oricon.[14] Nhóm đạt kỉ lục đĩa đơn có doanh thu cao nhất của các nhóm nhạc nữ trong tuần đầu tiên, phá kỉ lục của đĩa đơn Suki! Suki! Skip! được tạo lập bởi HKT48 trong suốt 3 năm.[15]

Ngày 9 tháng 4, Keyakizaka46 xuất hiện tại giải thuỏng GirlsAward 2016 Xuân/Hạ, một trong những sự kiện thời trang và âm nhạc lớn nhất tại Nhật Bản. Trong sự kiện này, Habu Mizuho ra mắt trên đường băng sân khấu.[16] Từ 29 tháng 4 tới 5 tháng 5, một phần của quá trình tuyển chọn là chương trình truyền hình trực tiếp 18 thí sinh trên SHOWROOM. Các thí sinh sẽ được truyền hình trực tiếp từ nhà riêng, trả lời các câu hỏi và bình luận của khán giả.[17] Ngày 11 tháng 5, 11 thí sinh chiến thắng vòng cuối cùng của vòng tuyển chọn được thông báo.[18][19] Hiragana Keyakizaka46 ra mắt với ca khúc Hiragana Keyakitrong đĩa đơn thứ 2 Sekai ni wa Ai Shika Nai được phát hành vào ngày 10 tháng 8. Ca khúc được biểu diễn công khai lần đầu tiên tại sự kiện nhỏ bắt tay tại Nagoya vào ngày 13 tháng 8 năm 2016.[20]

Bộ phim truyền hình đầu tiên của Keyakizaka46 Tokuyama Daigorō o Dare ga Koroshitaka? được phát sóng trên kênh TV Tokyo Network từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 2 tháng 10 năm 2016.[21] Mỗi tập phát sóng trên kênh truyền hình trực tuyến Amazon Prime trước khi phát sóng trên hệ thống truyền hình mặt đất.[22] Đĩa đơn thứ hai của nhóm Sekai ni wa Ai Shika Nai được sử dụng làm nhạc nền cho phim.[23] Từ ngày 5 tháng 7 đến ngày 27 thagsn 9, KeyaBingo!, là phiên bản Keyakizaka46 của chương trình truyền hình tạp kĩ Bingo, tương tự AKBingo!NogiBingo!, phát sóng trên kênh NTV.[24] Chương trình cũng được phát sóng trực tuyến trên Hulu Japan với những phần không được phát sóng trên truyền hình.[25]

Ngày 25 tháng 9, trong Senbatsu lần thứ 2, Neru Nagahama được thông báo sẽ hoạt động ở cả hai nhóm Hiragana Keyakizaka46Kanji Keyakizaka46.

Ngày 8 tháng 10, Keyakizaka46 tham gia sự kiện GirlsAward 2016 Autumn/Winter. Trong sự kiện này, Hirate Yurina, Kobayashi YuiWatanabe Risa ra mắt trên đường băng sân khấu.[26] Ngày 24 và 25 tháng 12, Keyakizaka46 tổ chức buổi hoà nhạc đơn đầu tiên tại Ariake Coliseum cho khoảng 27000 người.[27] Ngày 31 tháng 12, 21 thành viên bao gồm cả Nagahama xuất hiện lần đầu tiên trên chương trình NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 67 và thể hiện ca khúc ra mắt Silent Majority.[28]

2017Sửa đổi

Ngày 15 tháng 8, thế hệ thứ ba của Keyakizaka46 (hay được gọi là thế hệ thứ hai của Hiragana Keyakizaka46) với 9 thành viên được chọn gia nhập vào Hiragana Keyakizaka46.

Ngày 25 tháng 9, trong thông báo Senbatsu lần thứ 5, Neru Nagahama được tiếp tục hoạt động chỉ ở Kanji Keyakizaka46 thay vì ở cả hai phân nhóm.

Ngày 17 tháng 10, Keyakise là trò chơi thể loại giải đố bằng tiếng Nhật với 1800 câu chuyện xoay quanh các thành viên của nhóm Keyakizaka46 và người chơi sẽ đóng vai người quản lí. Trò chơi được phát triển bởi enish Inc. và hỗ trợ chơi trên máy tính hoặc thiết bị di động trên nền tảng iOS, Android.

Ngày 31 tháng 12, nhóm tham gia biểu diễn tại sự kiện thường niên NHK Kōhaku Uta Gassen lần thứ 68. Tại sự kiện này, ở đoạn cuối trình diễn bài Fukyouwaon, thành viên Suzumoto Miyu bị ngất và hai thành viên Hirate YurinaShida Manaka quỵ xuống trên sân khấu. Theo NHK, cả 3 thành viên được chẩn đoán là bị tình trạng tăng thông khí (thở quá nhanh).[29].

2018Sửa đổi

Tháng 8 năm 2018, thành viên Imaizumi Yui (今泉佑唯?) của Kanji Keyakizaka46 thông báo tốt nghiệp.[30] Tháng 9 năm 2018, thành viên Nanami Yonetani (米谷奈々未?) của Kanji Keyakizaka46 thông báo tốt nghiệp.

Không lâu sau đó, thành viên Shida Manaka, sau một thời gian tạm dừng hoạt động cũng đã thông báo tốt nghiệp

2019Sửa đổi

Ngày 11 tháng 2 năm 2019, Hiragana Keyakizaka46 thông báo tách nhóm hoạt động riêng biệt dưới tên Hinatazaka46, tên được đặt theo tên đường Hyūgazaka street thuộc Minato-ku, Tokyo.[31] Nhóm Hinatazaka46 được debut vào ngày 27 tháng 3 năm 2019.[32] Ngày 7 tháng 3 năm 2019, thành viên Nagahama Neru thông báo tốt nghiệp nhóm Keyakizaka46 trên blog cá nhân chính thức.[33]

Và cũng trong năm 2019, nhóm đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ như trình diễn buổi concert mừng 3 năm thành lập tại Budoukan. Nổi bật nhất là vào ngày 18, 19 tháng 9, lần đầu tiên, nhóm đã được trình diễn tại Tokyo Dome với sức chứa hơn 50.000 người. Đây có thể được coi là một thành công vẻ vang mà nhóm gặt hái được.

Năm 2019 đánh dấu sự đổi mới mạnh mẽ của Keyakizaka46 qua đội hình senbatsu cho đĩa đơn thứ 9 với sự góp mặt của 7 trên 9 của thành viên thế hệ thứ 2

2020Sửa đổi

Ngày 23/01/2020, trên trang chủ của Keyakizaka46 thông báo thành viên Oda Nana, Suzumoto Miyu tuyên bố tốt nghiệp, cùng đó "center cố định của nhóm" Hirate Yurina thông báo "rút khỏi nhóm" và Sato Shiori tạm ngưng hoạt động với nhóm để du học. Tin tức này đã làm fan của Keyakizaka46 vô cùng bất ngờ.

Ngày 16/02/2020 trên showroom, captain Sugai Yuuka công bố sáu thành viên gen 2 tiếp theo, nâng con số thành viên gen 2 lên 15.

Ngày 29/03/2020 trên trang chính thức của nhóm, thành viên Nagasawa Nanako thông báo tốt nghiệp.

Ngày 16/7/2020, Keyakizaka46 đã phát trực tiếp một buổi hòa nhạc mang tên " Keyakizaka46 Live Online, but with YOU! ' . Buổi hòa nhạc lần đầu tiên được tổ chức kể từ khi concert Tokyo Dome diễn ra vào tháng 9 năm 2019 và lần đầu tiên không có Hirate Yurina.Trong suốt concert, nhóm tiết lộ đĩa đơn thứ 9, " Dare ga Sonokane wo Narasu no ka? " , được lên kế hoạch phát hành đĩa đơn vào ngày 21/8. Thêm vào đó, captain Sugai Yuuka thông báo rằng nhóm sẽ thay đổi tên và tiếp tục gián đoạn, với concert cuối cùng được lên kế hoạch vào tháng 10

Sau ngày 14/10, Keyakizaka46 sẽ tiếp tục chặng đường mới với cái tên Sakurazaka46 .

Tranh cãiSửa đổi

Năm 2016, Keyakizaka46 bị Trung tâm Simon Wiesenthal chỉ trích vì mặc trang phục giống quân phục của quân đội phát xít Đức và yêu cầu nhà sản xuất cũng như Sony Music xin lỗi.[34]

Thành viênSửa đổi

Thế hệ Tên Ngày sinh (tuổi) Biệt danh Nơi sinh Chú thích
Thế hệ thứ nhất
1
Ishimori Nijika (石森虹花?) 7 tháng 5, 1997 (23 tuổi) Nijipon (にじぽん?) Miyagi
1
Uemura Rina (上村莉菜?) 4 tháng 1, 1997 (23 tuổi) Muuchan Chiba
1
Ozeki Rika (尾関梨香?) 7 tháng 10, 1997 (22 tuổi) Ozechan Kanagawa
1
Koike Minami (小池美波?) 14 tháng 11, 1998 (21 tuổi) Miichan (みいちゃん?),
Miiko (みいこ?)
Hyōgo
1
Kobayashi Yui (小林由依?) 23 tháng 10, 1999 (20 tuổi) Yuipon (ゆいぽん?) Saitama
1
Saitō Fuyuka (齋藤冬優花?) 15 tháng 2, 1998 (22 tuổi) Fuuchan (ふーちゃん?) Tokyo
1
Satō Shiori (佐藤詩織?) 16 tháng 11, 1996 (23 tuổi) Shiichan Tokyo
1
Sugai Yūka (菅井友香?) 29 tháng 11, 1995 (24 tuổi) Yukka (ゆっかー?) Tokyo Captain [35]
1
Habu Mizuho (土生瑞穂?) 7 tháng 7, 1997 (23 tuổi) Mizu (みづ?),
Mizuchan (みづちゃん?)
Tokyo
1
Harada Aoi (原田葵?) 7 tháng 5, 2000 (20 tuổi) Aachan (あーちゃん?),
Aoi (あおい?)
Tokyo
1
Moriya Akane (守屋茜?) 12 tháng 11, 1997 (22 tuổi) Akanen (あかねん?) Miyagi Vice-Captain[35]
1
Rika Watanabe (渡辺梨加?) 16 tháng 5, 1995 (25 tuổi) Pechan, Berika Ibaraki Lớn tuổi nhất
1
Risa Watanabe (渡邉理佐?) 27 tháng 7, 1998 (22 tuổi) Ricchan, Berisa Ibaraki Người mẫu độc quyền cho tạp chí nonno
Thế hệ thứ hai
2
Inoue Rina (井上梨名?) 29 tháng 1, 2001 (19 tuổi) いのりちゃん ( Inorichan ) Hyōgo
2
Seki Yumiko (関有美子?) 29 tháng 6, 1998 (22 tuổi) ゆみちゃん ( Yumichan ) Fukuoka
2
Takemoto Yui (武元唯衣?) 23 tháng 3, 2002 (18 tuổi) ゆいちゃん ( Yuichan ) Shiga
2
Tamura Hono (田村保乃?) 21 tháng 10, 1998 (21 tuổi) Honyo,

たむちゃん ( Tamuchan)

Ōsaka
2
Fujiyoshi Karin (藤吉夏鈴?) 29 tháng 8, 2001 (19 tuổi) Fujiyoshi, Karin (かりん) Ōsaka
2
Matsuda Rina (松田里奈?) 13 tháng 10, 1999 (20 tuổi) まつり Matsuri、まりな Marina Miyazaki
2
Matsudaira Riko (松平璃子?) 5 tháng 5, 1998 (22 tuổi) りこぴ Rikopi Tokyo
2
Morita Hikaru (森田ひかる?) 10 tháng 7, 2001 (19 tuổi) Runchan,るんるん Runrun, ひいちゃん Hiichan Fukuoka
2
Yamasaki Ten (山崎天?) 28 tháng 9, 2005 (15 tuổi) Tenchan,てんてん TenTen Ōsaka Nhỏ tuổi nhất
2
Endo Hikari (遠藤光莉?) 17 tháng 4, 1999 (21 tuổi) Roichan (ロイちゃん?) Kanagawa
2
Ozono Rei (大園玲?) 18 tháng 4, 2000 (20 tuổi) Shiichan (しいちゃん?) Kagoshima
2
Onuma Akiho大沼晶保 (?) 12 tháng 10, 1999 (20 tuổi) Akipo (あきぽ) Shizuoka
2
Kosaka Marino (幸阪茉里乃?) 19 tháng 12, 2002 (17 tuổi) Sango-chan (さんごちゃん?) Mie
2
Matsumoto Kira (増本綺良?) 12 tháng 1, 2002 (18 tuổi) Dorokatsu (どろかつ?) Hyōgo
2
Moriya Rena (守屋麗奈?) 2 tháng 1, 2000 (20 tuổi) Moyashi-chan (もやしちゃん?) Tokyo

Cựu thành viênSửa đổi

Tên Ngày sinh (tuổi) Biệt danh Nơi sinh Chú thích
Suzuki Mizuho (鈴木泉帆?) ?????????????????? Rời nhóm tháng 9 năm 2015, trước khi nhóm chính thức ra mắt
Harada Mayu (原田まゆ?) 2 tháng 5, 1998 (22 tuổi) Tokyo Rời nhóm ngày 11 tháng 11 năm 2015[36]
Yui Imaizumi (今泉佑唯?) 30 tháng 9, 1998 (22 tuổi) Zuumin (ずーみん?) Kanagawa Tốt nghiệp Kanji Keyaki ngày 3 tháng 11 năm 2018. [37]
Shida Manaka (志田愛佳?) 23 tháng 11, 1998 (21 tuổi) Mona Niigata Tốt nghiệp Kanji Keyaki ngày 16 tháng 11 năm 2018.[38]
Yonetani Nanami (米谷奈々未?) 24 tháng 2, 2000 (20 tuổi) Yonechan Osaka Tốt nghiệp Kanji Keyaki ngày 22 tháng 12 năm 2018.[39]
Neru Nagahama (長濱ねる?) 4 tháng 9, 1998 (22 tuổi) Neru-chan, Nagaru Nagasaki Tốt nghiệp Kanji Keyaki ngày 30 tháng 7 năm 2019
Hirate Yurina (平手友里奈?) 16 tháng 6, 2001 (19 tuổi) Techi, Hiratechi Aichi Thông báo "withdraw" khỏi nhóm ngày 23 tháng 1 năm 2020
Suzumoto Miyu (鈴本美愉?) 5 tháng 12, 1997 (22 tuổi) Monta Aichi Thông báo tốt nghiệp ngày 23 tháng 1 năm 2020
Oda Nana (織田奈々?) 4 tháng 6, 1998 (22 tuổi) Dani Hamamatsu Thông báo tốt nghiệp ngày 23 tháng 1 năm 2020
Nagasawa Nanako (長沢菜々香?) 23 tháng 4, 1997 (23 tuổi) Naako Yamagata Tốt nghiệp ngày 01 tháng 4 năm 2020

Đĩa nhạcSửa đổi

Đĩa đơnSửa đổi

Số thứ tự Tiêu đề Ngày phát hành Xếp hạng cao nhất Doanh thu bán đĩa Chứng nhận
JP
Oricon
JP
Japan Hot 100
Oricon Billboard JAPAN
1 "Silent Majority" (サイレントマジョリティー?) 6 tháng 4 năm 2016 1 1 ¥446.130
  • RIAJ: 2×Bạch kim[40]
    • Bạch kim (điện tử)[41]
2 "Sekai ni wa Ai Shika Nai" (世界には愛しかない?) 10 tháng 8 năm 2016 1 1 ¥453.539 ¥484.102
  • RIAJ: Bạch kim
3 "Futari Saison" (二人セゾン?) 30 tháng 11 năm 2016 1 1 ¥617,936 ¥685.018
  • RIAJ: 2× Bạch kim[40]
    • Vàng (điện tử)[41]
4 "Fukyōwaon" (不協和音?) 5 tháng 4 năm 2017 1 1 ¥790.103 ¥824.896
  • RIAJ: 3× Bạch kim[40]
    • Vàng (điện tử)[41]
5 "Kaze ni Fukarete mo" (風に吹かれても?) 25 tháng 10 năm 2017 1 1 ¥831.877 ¥911.977[42]
  • RIAJ: 3× Bạch kim[40]
    • Vàng (điện tử)[41]
6 "Glass wo Ware!" (ガラスを割れ!?) 7 tháng 3 năm 2018 1 1 ¥1.019.678 ¥1.086.387[42]
7 "Ambivalent" (アンビバレント?) 15 tháng 8 năm 2018 1 1 ¥876.237 ¥1.005.733[43]
8 "Kuroi Hitsuji" (黒い羊?) 27 tháng 2 năm 2019 1 1 ¥750,382 - -
9 Last Single "Dare ga Sono Kane wo Narasu no ka?" ( 誰がその鐘を鳴らすのか?) 21 tháng 8 năm 2020

Album tổng hợpSửa đổi

Tiêu đề Thông tin Xếp hạng cao nhất Doanh thu Oricon Doanh thu Billboard Nhật Bản Chứng nhận
Oricon
[44]
Masshirona Mono wa Yogoshitaku Naru (真っ白なものは汚したくなる?)
  • Ngày phát hành: 19 tháng 7 năm 2017
  • Hãng đĩa: Sony Music
  • Định dạng: Đĩa CD, nhạc số
1

Điện ảnhSửa đổi

Chương trình và phim truyền hìnhSửa đổi

  • Keyakitte, Kakenai? (欅って、書けない??) (TV Tokyo, 4 tháng 10 năm 2015 –)[6]
  • KeyaBingo! (NTV, 5 July – ngày 26 tháng 9 năm 2016)[47]
  • Tokuyama Daigorō o Dare ga Koroshitaka? (徳山大五郎を誰が殺したか??) (TV Tokyo, 17 tháng 7 – 2 tháng 10 năm 2016)[48]
  • KeyaBingo! 2 (NTV, 9 tháng 1 năm 2017 – 27 tháng 3 năm 2017)[49]
  • Zankokuna Kankyakotachi
  • KeyaBingo!3 (NTV, 17 tháng 7 – 25 tháng 9 năm 2017)
  • Re:Mind (TV Tokyo & Netflix, tháng 10 năm 2017)[50][51]
  • Hiragana Oshi (ひらがな推し) (TV Tokyo, 8 tháng 4 năm 2018 –)[52]
  • KeyaBingo!4 Hiragana Keyakitte Nani? (KEYABINGO!4 ひらがなけやきって何?) (NTV, 16 tháng 4 năm 2018 –)[53]

Chương trình radioSửa đổi

Giải thưởngSửa đổi

Dưới đây là bảng giải thưởng tiêu biểu của nhóm

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Tham gia Kết quả
2016 Giải thưởng Yahoo Japan Search Grand Prix[56] Giải thưởng Idol Group Đoạt giải
2017 Giải thưởng Japan Gold Disc lần thứ 31[57] Nghệ sĩ triển vọng của năm Đoạt giải
Giải thưởng V Chart lần thứ 5[58][59] Giải thưởng nghệ sĩ triển vọng xuất sắc (Nhật Bản) Đoạt giải
Giải thưởng Yahoo Japan Search Grand Prix[60] Giải thưởng Idol Group Đoạt giải
Giải thưởng Japan Record lần thứ 59 Giải thưởng sản phẩm âm nhạc xuất sắc Kaze ni Fukarete mo Đoạt giải
Giải thưởng Japan Cable lần thứ 50 Giải thưởng âm nhạc xuất sắc Đoạt giải
MTV VMAJ[61] Giải thưởng Best Buzz (giải đặc biệt) Đoạt giải
2018 Giải thưởng Japan Record lần thứ 60 Giải thưởng sản phẩm âm nhạc xuất sắc Ambivalent Đoạt giải
MTV VMAJ[62] Giải thưởng MV xuất sắc nhất của các nhóm nhạc Nhật Bản Đoạt giải
Giải thưởng CD shop lần thứ 10[63] Giải thưởng xuất sắc nhất Masshiro na Mono wa Yogoshitaku naru Đoạt giải
Giải thưởng Shogakukan DIME Trend lần thứ 31[64] Giải thưởng nhân vật xuất sắc nhất Đoạt giải
2019 MTV VMAJ[65] Giải thưởng MV xuất sắc nhất của các nhóm nhạc Nhật Bản Kuroi Hitsuji Đoạt giải
Giải thưởng Japan Record lần thứ 61 Giải thưởng sản phẩm âm nhạc xuất sắc Đoạt giải

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Toriizaka46's 1st generation members chosen, but changes its name to Keyakizaka46”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  2. ^ 乃木坂46、新グループ「欅坂(けやきざか)46」1期生メンバー決定 「鳥居坂46」からチーム名変更 (bằng tiếng Nhật). modelpress. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  3. ^ 乃木坂46、昇格や新舞台など続々発表!"新プロジェクト" メンバー募集も (bằng tiếng Nhật). Natasha,Inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  4. ^ 乃木坂46、新グループは"鳥居坂" 坂道シリーズ第2弾1期生募集開始 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  5. ^ 鳥居坂46、いきなり「欅坂46」に改名 初代22人決定 ORICON STYLE (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  6. ^ a ă “欅坂46冠番組「欅って、書けない?」放送決定”. nikkansports.com (bằng tiếng Nhật) (Nikkan Sports). Ngày 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016. 
  7. ^ 欅坂46早くも新メンバーを発表!オーディション当日、母親に連れ戻された「長濱ねる」が加入 (bằng tiếng Nhật). modelpress. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  8. ^ 欅坂46に新メンバー・長濱ねるが加入 「けやき坂46」オーディション開催も発表 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  9. ^ “欅坂46、FNS歌謡祭で初パフォーマンス披露”. nikkansports.com (bằng tiếng Nhật). Nikkan Sports. Ngày 16 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016. 
  10. ^ “Keyakizaka46 to release their debut single on April 6”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  11. ^ “Keyakizaka46's debut single to be titled 'Silent Majority'. tokyohive. 6Theory Media, LLC. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2016. 
  12. ^ “欅坂46 緊張しすぎで表情硬く「怒ってるんですか?」の質問も”. Tokyo Sports. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  13. ^ 欅坂46、平手友梨奈が2作連続センター 長濱ねるが初選抜 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  14. ^ 4/18付週間シングルランキング1位は欅坂46の「サイレントマジョリティー」 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  15. ^ 【オリコン】欅坂46“女性歴代最高”デビュー 乃木坂46、HKT48超え ORICON STYLE (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  16. ^ 欅坂46“随一の長身”土生瑞穂「ガルアワ」で堂々初ランウェイ<GirlsAward 2016 S/S> (bằng tiếng Nhật). modelpress. Ngày 9 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2016. 
  17. ^ けやき坂46(ひらがなけやき)、SHOWROOMで新メンバーオーディションを配信. realsound.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  18. ^ “Keyakizaka46 announce 11 new under group members”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016. 
  19. ^ 「けやき坂46」合格者11人発表 欅坂46が総勢32人に (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  20. ^ 2ndシングル詳細 (bằng tiếng Nhật). Keyakizaka46 Official Website. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2016. 
  21. ^ 欅坂46初主演ドラマ、7・16スタート 主題歌タイトル決定 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  22. ^ 今野浩喜が欅坂46出演の学園ドラマで用務員役、現場は「女子校感丸出し」 (bằng tiếng Nhật). Natasha,Inc. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  23. ^ “Keyakizaka46's new single to be used in their starring drama”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  24. ^ 欅坂46、新冠番組「KEYABINGO!」決定 平手友梨奈、バラエティの洗礼を浴びる (bằng tiếng Nhật). modelpress. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  25. ^ 欅坂46の新番組『KEYABINGO!』初回で放送終了? 原田葵「もう来たくない」と号泣. realsound.jp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  26. ^ 欅坂46、4人がモデルとしてランウェイ登場「GirlsAward 2016 A/W」 (bằng tiếng Nhật). modelpress. Ngày 28 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2016. 
  27. ^ 欅坂46、初単独公演で涙の決意表明「私たちは坂道を上り続ける」 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Ngày 25 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2016. 
  28. ^ 【紅白リハ】欅坂46、21人で『サイマジョ』披露「先輩たちに感謝」 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Ngày 29 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017. 
  29. ^ “紅白 欅坂の異常発生は3人 NHK「過呼吸。体調回復」…平手友梨奈、志田愛佳、鈴本美愉” (bằng tiếng Nhật). Ngày 31 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2017. 
  30. ^ “欅坂46今泉佑唯、ブログで卒業発表「心苦しい決断」("Keyakizaka46's Yui Imaizumi announces her graduation in a blog post, calling it a 'heartbreaking decision'")”. Oricon News (bằng tiếng Nhật) (Oricon). Ngày 7 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2018. 
  31. ^ “平假名欅坂46改名「日向坂46」 成員喜極而泣”. Epoch Times. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019. 
  32. ^ “3月27日(水)日向坂46 デビューシングル『タイトル未定』発売決定!!”. Hinatazaka46. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2019. 
  33. ^ “長濱ねる、欅坂46を卒業”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 7 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2019. 
  34. ^ Mallinson, Harriet (26 tháng 10 năm 2016). “Japanese girl band cause outrage by dressing in NAZI-style outfits” [Nhóm nhạc nữ Nhật Bản gây phẫn nộ vì vận trang phục kiểu phát xít]. Daily Mail (bằng tiếng Anh). DMG Media. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  35. ^ a ă 欅坂46、キャプテンに菅井友香&副キャプテンに守屋茜を発表 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Ngày 21 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2017. 
  36. ^ “Keyakizaka46's Harada Mayu withdraws from the group”. tokyohive. 6Theory Media, LLC. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  37. ^ “🎓🎓🎓 | 欅坂46 今泉 佑唯 公式ブログ”. 欅坂46公式サイト. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2018. 
  38. ^ “志田愛佳に関しまして”. 欅坂46公式サイト. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2018. 
  39. ^ “米谷奈々未 活動最終日に関するご案内”. 欅坂46公式サイト. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2018. 
  40. ^ a ă â b c d “Certifications Search Results: Keyakizaka46 (Physical Format)” (Enter "欅坂46" into the "アーティスト" (Artist) field) (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018. 
  41. ^ a ă â b “Certifications Search Results: Keyakizaka46 (Digital Platform)” (Enter "欅坂46" into the "アーティスト" (Artist) field) (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2018. 
  42. ^ a ă “【ビルボード】欅坂46『風に吹かれても』が722,954枚を売り上げシングル・セールス首位獲得” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2017. 
  43. ^ “【ビルボード】欅坂46『アンビバレント』が837,390枚を売り上げ週間シングル・セールス首位” (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2018. 
  44. ^ 欅坂46のアルバム作品 (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập 30 tháng 1 năm 2018. 
  45. ^ 欅坂46のアルバム作品 (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  46. ^ 【ビルボード】欅坂46『真っ白なものは汚したくなる』が277,901枚を売り上げ (bằng tiếng Nhật). Truy cập 24 tháng 7 năm 2017. 
  47. ^ 欅坂46、本格バラエティー挑戦『KEYABINGO!』7・5スタート MCはサンドウィッチマン (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016. 
  48. ^ 欅坂46、早くも連ドラ初主演 センター・平手「きっと面白い作品になる」 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2016. 
  49. ^ 欅坂46の冠番組「KEYABINGO!」シーズン2が放送決定、自前パジャマで反省会も (bằng tiếng Nhật). natalie. Ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2016. 
  50. ^ “Netflix’s ‘Re:Mind’ Embraces The Creepy World Of Japanese Thrillers”. decider.com. Ngày 16 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2018. 
  51. ^ "Ultraman Geed" Tatsuomi Hamada to Star in "Mob Psycho 100" Live-Action TV Drama”. crunchyroll.com. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2018. 
  52. ^ けやき坂46テレビ東京で初冠番組 司会オードリー (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018. 
  53. ^ けやき坂46、単独初のBINGOシリーズ「体を張って、命がけで」 (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018. 
  54. ^ a ă “特番『欅坂46のオールナイトニッポン』 3か月限定『欅坂46のオールナイトニッポンR』放送決定!” (bằng tiếng Nhật). Nippon Broadcasting System, Inc. Ngày 30 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2016. 
  55. ^ 『オールナイトニッポン0』新パーソナリティ5組決定 欅坂46の新番組も (bằng tiếng Nhật). oricon ME inc. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2016. 
  56. ^ maidigitv (ngày 7 tháng 12 năm 2016), 欅坂46、アイドル部門で「Yahoo!検索大賞2016」を受賞! (bằng tiếng Nhật), truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019 
  57. ^ “第31回日本ゴールドディスク大賞|THE GOLD DISC”. www.golddisc.jp (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2019. 
  58. ^ “第五届音悦V榜年度盛典 - 音悦台”. vchart.yinyuetai.com. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019. 
  59. ^ Resti Febrisanti (ngày 12 tháng 4 năm 2017), VTR Yuuka,Akane Keyakizaka46 "VChart Awards 2017", truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019 
  60. ^ maidigitv (ngày 5 tháng 12 năm 2017), 欅坂46菅井友香、今年やり残したのは「バンジージャンプ」 「Yahoo!検索大賞2017」, truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2019 
  61. ^ 株式会社ローソンエンタテインメント. “欅坂46、WANIMA ら熱演「MTV VMAJ 2017」イベント|邦楽・K-POP”. HMV&BOOKS online (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2019. 
  62. ^ “『MTVVMAJ』星野源「アイデア」が2冠 欅坂46、三浦大知らライブで競演”. ORICON NEWS. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2019. 
  63. ^ 株式会社ローソンエンタテインメント. “第10回CDショップ大賞2018 米津玄師が大賞を獲得|邦楽・K-POP”. HMV&BOOKS online (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2019. 
  64. ^ Inc, Natasha. “欅坂46、安室透と共に「DIMEトレンド大賞」ベストキャラクター賞に輝く(写真15枚)”. 音楽ナタリー (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2019. 
  65. ^ “BUMP、サカナクション、欅坂46ら「MTV VMAJ 2019」受賞。「特別賞」にONE OK ROCK、星野源らも”. Rockin'on. Ngày 7 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2019. 

Liên kết ngoàiSửa đổi