Mở trình đơn chính

Khang Huệ Thục phi (chữ Hán: 康惠淑妃), Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị, tương truyền có tên Ba Đặc Mã Tảo (巴特瑪璪), trước là thiếp của Lâm Đan hãn, sau trở thành phi tần của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực.

Khang Huệ Thục phi
康惠淑妃
Thanh Thái Tông phi
Thông tin chung
Phu quânLâm Đan hãn
Thanh Thái Tông
Tước hiệuĐậu Thổ Môn phúc tấn
(竇土门福晋)
Đông Trắc phúc tấn
(東侧福晉)
Diễn Khánh cung Thục phi
(衍慶宮淑妃)
Thân phụBác Đệ Tắc Sở Hỗ Nhĩ
Sinh?
A Bá Cai, Mông Cổ
Mất?
Từ Ninh cung, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh

Tiểu sửSửa đổi

Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị người A BÁ Cai (阿巴噶部) của Mông Cổ, con gái Bố nhan Bác Đệ Tắc Sở Hỗ Nhĩ (博第塞楚祜尔), ban đầu làm thiếp của Lâm Đan hãn - thủ lĩnh của Sát Cáp Nhĩ, Mạc Nam của Mông Cổ. Bà quản lý Oát nhi đóa (斡耳朵) có tới vạn hộ tên Đậu Thổ Môn (竇土门), do vậy có danh xưng [Đậu Thổ Môn phúc tấn; 竇土门福晋].

Năm Thiên Thông thứ 8 (1634), Lâm Đan hãn bệnh chết, cùng năm ngày 28 tháng 8 (âm lịch), Đậu Thổ Môn phúc tấn được tộc nhân hộ tống mà quy phụ Hậu Kim[1]. Trong Mãn văn đương án dịch biên (满文档案译编) có ghi lại, Đậu Thổ Môn phúc tấn cùng cô của Lâm Đan hãn được chào đón nhiệt liệt bởi Hoàng Thái Cực, thực hiện lễ ["Bão kiến lễ"; 抱见礼] và tế , thiết yến. Bà được vị trí Phúc tấn ở phía Đông, là [Đông Trắc phúc tấn; 東侧福晉].

Sùng Đức nguyên niên (1636), tháng 4, Hoàng Thái Cực ở Thịnh Kinh cử hành lễ đăng cơ, sửa quốc hiệu làm Đại Thanh. Cùng năm, ngày 10 tháng 7 (âm lịch), Hoàng Thái Cực chính thức định danh vị của 5 vị Phúc tấn chính thức của mình, Đông Trắc Phúc tấn Bát Nhĩ Tế Cát Đặc thị được phong [Đông cung Diễn Khánh cung Trắc Phúc tấn; 東宮衍慶宮侧福晋], Hán ngữ gọi Thục phi (淑妃)[2]. Bà có tự mình nuôi một cô gái, tên [Thục Sài; 淑儕], Hoàng Thái Cực lệnh cho Duệ Thân vương Đa Nhĩ Cổn dùng lễ nghênh cưới.

Thời điểm Hoàng Thái Cực qua đời, bà không sinh cho Hoàng Thái Cực người con nào, cũng không thấy bà có con với Lâm Đan hãn. Khi hoàng thất nhà Thanh đến Bắc Kinh, nhóm góa phụ của Hoàng Thái Cực đều được an bài cư trú ở Cảnh Phúc cung (景福宮), bên khu vực Tây Thành, Bắc Kinh. Tại đây, Thái hậu Triết Triết, Diễn Khánh cung Thục phi cùng nhóm các góa phụ không có tước vị.

Tôn vị Thục phiSửa đổi

Năm Thuận Trị thứ 9 (1652), Năm Thuận Trị thứ 9 (1652), tháng 10, Thuận Trị Đế quyết định dâng tôn huy hiệu cho hai vị Quý phi và Thục phi của Tiên Đế. Vậy là, Diễn Khánh cung Thục phi Bát Nhĩ Tể Cát Đặc thị được dâng tôn hiệu [Khang Huệ Thục phi; 康惠淑妃][3].

Sách văn viết:

Năm Khang Hi thứ 2 (1663), Khang Huệ Thục phi cùng Ý Tĩnh Đại Quý phi ở tại hai bên điện phía Bắc của Từ Ninh cung. Còn các thị Thứ phi khác của Hoàng Thái Cực cùng Hiếu Trang Hoàng thái hậu ở tại bên trong sân viện của Từ Ninh cung. Không rõ thời gian bà qua đời, song có thể là trước Ý Tĩnh Đại Quý phi.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《清史稿 卷二 本纪二》:辛亥,察哈尔寨桑噶尔马济农等率其国人六千奉豆土门福金来归。
  2. ^ 《满文老档·第二十册》崇德元年七月......册封国君福晋、东大福晋、西大福晋、东侧福晋、西侧福晋典礼。七月初十日......系蒙古科尔泌部博尔济吉特氏,特赐尔册宝,位出诸福晋之上,命为清宁宫中宫国君福晋。尔务以清廉端庄仁孝谦恭之义训诲诸福晋......系蒙古科尔沁部博尔济吉特氏,特赐尔册文,命为东宫关睢宫大福晋宸妃。尔务尽......系蒙古阿鲁大土门部博尔济吉特氏,特赐尔册文,命为西宫麟趾宫大福晋贵妃。尔务尽......系蒙古阿鲁大土门部塔布囊阿巴盖博第赛楚虎尔之女,特赐尔册文,命为东宫衍庆宫侧福晋淑妃。尔务尽......系蒙古科尔沁部博尔济克特氏,特赐尔册文,命为西宫永福宫侧福晋庄妃。尔务尽......
  3. ^ 《清实录·世祖实录·卷之六十九》○丙寅。以尊上懿靖大贵妃、康惠淑妃尊号、祭告太庙,遣内大臣伯索尼行礼......○丁卯。上诣懿靖大贵妃、康惠淑妃两宫、奉册上尊号、行礼。......康惠淑妃册文曰。柔嘉维则、赞襄彰坤教之隆。义问攸崇、典册展懿亲之奉。庆谐宫壸。礼具彝章。皇考淑妃秉德安贞。持身恭慎珩璜中节、著昧旦之良规。图史端仪、佐承乾之令矩。既行臻于备美、宜颂协于臧嘉。爰晋荣称、用昭徽范。谨以金册尊为皇考康惠淑妃、庆从善积式凝康豫之祥。位以德升、弥笃显融之祜谨言......○戊辰。以二太妃尊号礼成。上御太和殿诸王群臣、行庆贺礼。