Kinh tế Hàn Quốc

Nền Kinh Tế Hạng 11 Thế Giới (sau Canada)(SEOUL)

Kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phát triển với kỹ nghệ cùng mức độ công nghiệp hóa cao, đây là quốc gia châu Á thứ hai trong lịch sử của châu lục này có nền kinh tế đạt tới ngưỡng phát triển chỉ sau Nhật Bản. Hàn Quốc là một trong 4 con Rồng kinh tế của châu Á cùng với Hồng Kông, Đài LoanSingapore.

Kinh tế Hàn Quốc
Seoul (175734251).jpeg
Seoul, thủ phủ kinh tế lớn nhất của Hàn Quốc
Tiền tệWon Hàn Quốc (KRW, ₩)
1,100.7 KRW = 1 USD
Năm tài chính1 tháng 1 – 31 tháng 12
Tổ chức kinh tếAPEC, WTO, OECD, G-20, Paris Club, IEA, WB/WBG, IMF, UNIDO, EAC và nhiều tổ chức khác.
Số liệu thống kê
Dân sốTăng 51,635,256 (2018)[1]
GDP
  • Tăng $1.720 nghìn tỷ (danh nghĩa, 2018)[2]
  • Tăng $2.235 nghìn tỷ (PPP, 2018)[2]
Xếp hạng GDP
Tăng trưởng GDP
  • 2.9% (2016) 3.2% (2017)
  • 2.7% (2018) 2.0% (2019e)[2]
GDP đầu người
  • Tăng $33,320 (danh nghĩa, 2018)[2]
  • Tăng $43,290 (PPP, 2018)[2]
GDP theo lĩnh vực
Lạm phát (CPI)1.476% (2018 est.)[2]
Tỷ lệ nghèo14.4% (2016 est.)[3]
Hệ số GiniTăng theo hướng tiêu cực 35.7 trung bình (2016 est.)[3]
Chỉ số phát triển con người
Lực lượng lao động
Cơ cấu lao động theo nghề
Thất nghiệpGiữ nguyên 3.7% (2017 est.)[3]
Các ngành chính
Xếp hạng thuận lợi kinh doanhGiữ nguyên 5th (rất thuận lợi, (2020)[8]
Thương mại quốc tế
Xuất khẩuTăng $577.4 tỷ (2017 est.)[3]
Mặt hàng XKLinh kiện bán dẫn, hóa dầu, ô tô/phụ tùng, tàu thuyền, thiết bị viễn thông không dây, màn hình TV phẳng, thép, đồ điện tử, nhựa, máy tính.
Đối tác XK
Nhập khẩuTăng $457.5 tỷ (2017 est.)[3]
Mặt hàng NKCác sản phẩm từ dầu/dầu thô, linh kiện bán dẫn, khí thiên nhiên, than, thép, máy tính, thiết bị viễn thông không dây, ô tô, hóa chất tinh chế, vải may.
Đối tác NK
FDI
  • Tăng $230.6 tỷ (31 tháng 12 năm 2017 est.)[3]
  • Giảm Nước ngoài: $344.7 tỷ (31 tháng 12 năm 2017 est.)[3]
Tài khoản vãng laiGiảm $78.46 tỷ (2017 est.)[3]
Tổng nợ nước ngoàiTăng theo hướng tiêu cực $384.6 tỷ (31 tháng 12 năm 2017 est.)[3]
Tài chính công
Nợ côngGiảm theo hướng tích cực 39.5% GDP (2017 est.)[3]
Thu$357.1 tỷ (2017 est.)[3]
Chi$335.8 tỷ (2017 est.)[3]
Viện trợODA, $2.4 tỷ (2018) chưa tính viện trợ cho CHDCND Triều Tiên
Dự trữ ngoại hốiTăng $389.2 tỷ (31 tháng 12 năm 2017 est.)[3]
Nguồn dữ liệu: CIA.gov
Tất cả giá trị đều tính bằng đô la Mỹ, trừ khi được chú thích.

Khái quát, số liệu thống kê & xếp hạngSửa đổi

Năm 2020, quy mô tổng sản phẩm nội địa (GDP) tính theo thước đo GDP danh nghĩa của Hàn Quốc với hơn 51 triệu dân[9] được xếp hạng là nền kinh tế lớn thứ 4 ở khu vực châu Á, sau nền kinh tế của các quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ hoặc thứ 5 sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Indonesia xét theo dân số đi kèm sức mua tương đương (PPP)[10][11], đứng thứ 9 hoặc 10 (tuỳ theo phương pháp tính) trên toàn cầu (danh nghĩa)[11][12][13] hoặc xếp hạng 14 nếu xét theo GDP quy đổi sức mua tương đương (PPP)[14]. Thu nhập bình quân đầu người đạt mức 30,644 USD/người theo danh nghĩa[15] hoặc 44,292 USD/người theo sức mua[16], lần lượt xếp hạng 26[15] và 24 thế giới[16] (2020) - theo các số liệu thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Liên Hợp Quốc, OECDCIA. Quốc gia này cũng là một thực thể thương mại lớn, đứng thứ 7 thế giới về kim ngạch xuất khẩu[17], hạng 9 về nhập khẩu[18] (2019). Đứng thứ 20 toàn cầu trong bảng xếp hạng về chỉ số thương hiệu quốc gia công bố bởi Future Brand[19]. Hạng 4 châu Á, 13 thế giới trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2019 theo công bố, đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum)[20]. Năm 2020, Brand Finance - đơn vị chuyên định giá thương hiệu và tư vấn chiến lược độc lập hàng đầu Vương quốc Anh công bố báo cáo về thương hiệu quốc gia, theo đó, tổng giá trị của các thương hiệu Hàn Quốc xếp thứ 4 châu Á sau Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, đồng thời đứng thứ 10 toàn cầu (giảm 1 hạng so với năm 2019).[21] Về chỉ sốtính tự do trong nền kinh tế, Hàn Quốc xếp thứ 6 châu Á, hạng 25 thế giới (theo The Heritage Foundation) hoặc thứ 7 châu Á, hạng 26 toàn cầu (theo Global Finance Magazine). Về chỉ số nhận thức tham nhũng, quốc gia này xếp hạng 8 châu Á và thứ 33 toàn cầu (theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế)[22]. Năm 2021, số lượng tỷ phú tại quốc gia này là 43 người (tăng 15 người so với năm 2020)[23], xếp thứ 6 tại châu Á và đứng hạng 14 toàn cầu[23] đồng thời, tầng lớp tỷ phú tự thân (những doanh nhân không có mối liên hện, nguồn gốc hay xuất thân từ các Chaebol) đang gia tăng mạnh mẽ[24]. Thủ đô Seoul là nơi đặt trụ sở chính của 14 công ty được xếp hạng trong danh sách Fortune Global 500 (top những doanh nghiệp lớn nhất trên quy mô toàn cầu).[25]

Đặc điểm & dự báoSửa đổi

Những đặc điểm chính của nền kinh tế Hàn Quốc là: rất ít hoặc thậm chí gần như không có sự can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế từ phía chính phủ, mang tính chất hỗn hợp, có mức độ cạnh tranh, tự do rất cao và đồng thời được các nhà kinh tế học như Milton FriedmanViện Cato (Hoa Kỳ) xem như là một ví dụ tiêu biểu về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành. Kể từ sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã được phục hồi và phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trở thành một trong những cường quốc kinh tế phát triển nhất, rũ bỏ hình ảnh của một quốc gia nghèo đói và phụ thuộc trong suốt chiều dài lịch sử để gia nhập, tiến vào hàng ngũ các nước tiên tiến. Trong giai đoạn cuối của thế kỷ 20, Hàn Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước này đã nhảy vọt từ mức chỉ khoảng dưới 100 USD vào năm 1963 lên mức hơn 10.000 USD vào năm 1995 và hơn 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp những ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á (1997), quốc gia này đã khôi phục lại cỗ máy kinh tế một cách rất nhanh chóng và vững chắc, tiếp tục giữ vững được tư cách của một quốc gia tiên tiến. Người ta thường nhắc đến giai thoại về sự hồi phục và phát triển thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc như là "Huyền thoại sông Hán".

Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có được sự duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại, với mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm là hơn 10% mỗi năm trong vòng gần một nửa thế kỷ, một báo cáo phân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs vào năm 2007 đã chỉ ra rằng[26][27]:

   Nếu có thể tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng này, Hàn Quốc sẽ trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ 7 trên thế giới vào năm 2025 với GDP bình quân đầu người đạt hơn 52.000 USD và tiếp 25 năm sau nữa sẽ vượt qua tất cả các nước ngoại trừ Hoa Kỳ để trở thành nước có GDP đầu người cao thứ hai trên thế giới với GDP bình quân đầu người được ước tính sẽ đạt vào khoảng hơn 90.000 USD.

Trong những năm từ 1970 đến 1980, kinh tế Hàn Quốc chuyển hướng sang tập trung vào các ngành công nghiệp nặng và sản xuất xe hơi. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ, POSCO, một công ty sản xuất thép, được thành lập, và trong vòng chỉ gần 3 năm, đã trở thành một trong những xương sống đầu tiên cho nền kinh tế Hàn Quốc trong những năm tiếp theo. Ngày nay, POSCO là nhà sản xuất thép đứng thứ 3 trên thế giới. Hàn Quốc cũng là một trong những nước có ngành công nghiệp đóng tàu lớn nhất trên thế giới với các công ty hoạt động đa quốc gia như Hyundai Heavy IndustriesSamsung Heavy Industries – hai công ty luôn thống trị thị trường đóng tàu toàn cầu. Ngành công nghiệp sản xuất ô tô cũng phát triển một cách nhanh chóng, Hàn Quốc đang cố gắng để trở thành một trong những nước sản xuất–lắp ráp xe hơi đứng hàng đầu thế giới, điển hình là Hyundai-Kia Automotive Group, tập đoàn đã đưa Hàn Quốc trở thành quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất ô tô.[28]

Năm 1996, Hàn Quốc chính thức trở thành thành viên của OECD, đó là một mốc quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế của đất nước. Giống như các quốc gia phát triển khác, ngành dịch vụ đã tăng nhanh, chiếm khoảng hơn 70% GDP.[29] Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống của người dân được nâng cao rất nhanh trở nên ngang bằng các quốc gia phát triển khác ở châu Âu hay Bắc Mỹ. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức rất cao - 0,912 vào năm 2006. Hiện nay, thu nhập và tài sản của Hàn Quốc đang tiếp tục gia tăng một phần là do sự đầu tư lớn và tăng cường xuất khẩu công nghệ cao sang các nước đang phát triển như: Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, cùng các khu vực: Đông Nam Á, Trung Á, Nam MỹTrung Đông.

Tuy nhiên, giống như quốc gia láng giềng Nhật Bản, Hàn Quốc cũng là một nước có số giờ làm việc và làm thêm giờ cao nhất trên thế giới. Xã hội Hàn Quốc hiện đại tạo nên các áp lực, cạnh tranh rất lớn trong cuộc sống, từ học tập, thi cử, kiếm việc làm cho tới kết hôn và nuôi dạy con cái. Do hệ quả của những áp lực này, tỷ lệ tự sát tại Hàn Quốc luôn dẫn đầu trong số các quốc gia thuộc OECD cũng như được xếp loại vào mức rất cao trên thế giới, đồng thời, quốc gia này cũng đang chứng kiến sự bất bình đẳng thu nhập trong xã hội gia tăng nghiêm trọng.

Lịch sử phát triểnSửa đổi

Sau chiến tranh và chính sách kinh tế độc tài khắc khổSửa đổi

 
Sau chiến tranh, quy mô nền kinh tế Hàn Quốc đã tăng trưởng liên tục từ "không có gì" đến mức vài tỷ rồi cán mốc ngàn tỷ USD trong vòng chưa đầy một nửa thế kỷ (1960-2007).
 
Tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên (1950-2016).

Khi Tướng Park Chung-hee lên nắm chính quyền vào năm 1961, Hàn Quốc chỉ có một mức thu nhập bình quân đầu người với ít hơn 80 USD mỗi năm. Trong khoảng thời gian này, Hàn Quốc chưa có nền công nghiệp nặng, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn và nền kinh tế khi đó chỉ có thể tồn tại được chủ yếu là nhờ vào viện trợ nước ngoài, đặc biệt là từ sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ để đổi lấy sự tham gia của Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam.[30][31] Hàn Quốc đã cử khoảng 320.000 quân nhân sang tham chiến cùng quân đội Mỹ và đồng minh (Úc, Thái Lan, New Zealand, Philippines,...) tại chiến trường miền nam Việt Nam để đổi lấy những khoản viện trợ của chính phủ nước này. Khoảng hơn 5.000 lính Hàn Quốc đã chết và hơn 11.000 binh lính khác bị thương tật sau cuộc chiến[30][31]. Đội quân này cũng gây ra một danh sách dài những tội ác chiến tranh, những vụ thảm sát thường dân Việt Nam bị nghi ngờ là Việt Cộng hoặc cán bộ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam khi tham chiến. Đổi lại, chính phủ Hoa Kỳ tài trợ mọi khoản chiến phí và trả tiền lương cho binh lính Hàn Quốc - tổng cộng khoảng 10 tỷ đô la Mỹ (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá năm 2016). Số tiền được Mỹ chuyển thẳng cho chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức trợ cấp, cho vay, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường.[32]

Kế hoạch phát triển kinh tế của Hàn Quốc trong thập niên 1960-1970 dựa vào xuất khẩu nhờ giá thành thấp. Chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng được áp dụng, chi phí sản xuất được cố tình hạ thấp đến mức tối thiểu bằng cách toàn dân phải cam chịu gian khổ, bất kể Tổng thống, quan chức hay dân thường, tiêu dùng hết sức tiết kiệm đồng thời ưu tiên sử dụng hàng hóa nội địa. Các sản phẩm xa xỉ như mỹ phẩm, xe hơi cao cấp, quần áo thời trang, TV màu... bị giới hạn số lượng và hạn chế nhập khẩu ở mức tối đa. Người dân làm việc nặng nhọc và triền miên, cuộc sống rất kham khổ nhưng không được phép tỏ thái độ bất bình hay có hành động phản kháng. Hàng tuần mỗi người dân Hàn Quốc đều phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc lá ngoại nhập, không uống cà phê, không mặc quần áo thời trang đắt tiền,... Thời gian lao động kéo dài đến 12-14 tiếng mỗi ngày. Điều kiện lao động kém, lương rất thấp, các yêu cầu cải thiện đều bị chính phủ Park Chung-hee đàn áp thẳng tay. Các nguồn tài chính có được nhờ chính sách tiết kiệm đến mức tối đa, nguồn vốn không những không bị 'chảy' ra nước ngoài mà lại còn được tái đầu tư vào sản xuất. 'Phong trào Saemaul' (hay còn gọi là Phong trào cộng đồng cư dân mới) của chính phủ tập trung vào phát triển nông thôn Hàn Quốc bằng việc động viên người dân lao động công ích, sau đó tiến hành cải tạo, xây dựng lại toàn bộ những cơ sở hạ tầng đã bị chiến tranh tàn phá mà không cần phải được trả lương.

Nhờ các nhà chính sách quyết đoán và cứng rắn của chính phủ, mặc dù bị chỉ trích là áp đặt nặng tay và phi dân chủ, đã phát huy hiệu quả của lao động giá rẻ như là một chất xúc tác cho nền kinh tế Hàn Quốc phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này.

Trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ, Seoul đã trở thành một thành phố toàn cầu, trung tâm kinh doanh, công nghệ và thương mại hàng đầu ở Đông Bắc Á và là một đô thị với nền kinh tế phát triển cao, tạo nền móng cho các cơ sở hạ tầng công nghệ cao và thông tin liên lạc tiên tiến. Hàn Quốc xem sự tăng trưởng nhanh chóng này là biểu tượng của niềm tự hào quốc gia và tự lập. Bên cạnh phong trào Saemaeul, chính phủ Hàn Quốc cũng thực hiện một kế hoạch phát triển kinh tế táo bạo và hiệu quả được gọi là 'Kế hoạch 5 năm' - lấy kế hoạch 5 năm, vốn đã thành công của Liên Xô trước đây làm hình mẫu. Có hơn 5 kế hoạch được tạo ra tiếp sau đó, và tất cả được thiết kế tối ưu để vực dậy nền kinh tế. Mỗi kế hoạch trong số đó đã góp phần vào quá trình công nghiệp hóa và mở rộng các thị trường nước ngoài của Hàn Quốc, đặc biệt là Nhật Bản và Hoa Kỳ.

Tăng trưởng nhanh từ 1960 đến 1980Sửa đổi

Tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc gia của Hàn Quốc bình quân hàng năm là 10%, từ 3,3 tỷ USD vào năm 1962 đến 204 tỷ USD vào năm 1989. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 87 USD vào năm 1962 lên 4.830 USD vào năm 1989. Tỷ trọng của khu vực chế tạo trong GNP tăng từ 14,3% vào năm 1962 lên 30,3% năm 1987. Tổng khối lượng hàng hoá trao đổi tăng từ 480 triệu USD vào năm 1962 lên 127,9 tỷ USD vào năm 1990. Tỷ lệ tiết kiệm nội địa của GNP tăng từ 3,3% vào năm 1962 lên 35,8% vào năm 1989.

Xu hướng kinh tế vĩ môSửa đổi

Dưới đây là biểu đồ xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc theo giá thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, đơn vị tính bằng triệu Won Hàn Quốc.[33]

Năm Tổng sản phẩm nội địa (triệu Won) Tỷ giá Won/USD Chỉ số lạm phát (Năm 2000=100)
1980 38.774.900 605,85 33
1985 84.061.000 869,51 46
1990 186.690.900 707,59 60
1995 398.837.700 771,27 82
2000 578.664.500 1.130,95 100
2005 812.196.561 1.024,11 117

Để tính theo sức mua tương đương, ta có 1 USD = 841,39 Won.

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Population, total”. data.worldbank.org. World Bank. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2019.
  2. ^ a b c d e f “World Economic Outlook Database, October 2019”. IMF.org. International Monetary Fund. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2019.
  3. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q “CIA World Factbook”. CIA.gov. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2019.
  4. ^ “Human Development Index 2018 Statistical Update”. hdr.undp.org. United Nations Development Programme. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019.
  5. ^ “Inequality-adjusted Human Development Index”. hdr.undp.org. United Nations Development Programme. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2019.
  6. ^ “Labor force, total”. data.worldbank.org. World Bank. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2019.
  7. ^ “Employment to population ratio, 15+, total (%) (national estimate)”. data.worldbank.org. World Bank. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2019.
  8. ^ “Ease of Doing Business in Korea, Rep”. Doingbusiness.org. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2017.
  9. ^ “South Korea Population 2020”. www.worldometers.info. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  10. ^ “List of Asian countries by GDP”. statisticstimes.com. 24 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  11. ^ a b IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  12. ^ “S. Korea tipped to rank 9th in 2020 global GDP rankings”. en.yna.co.kr. 10 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  13. ^ Julie Sohn (10 tháng 8 năm 2020). “S. Korea Forecast To Climb Up 3 Notches To 9th In 2020 Global GDP Rankings”. tbs.seoul.kr.
  14. ^ IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  15. ^ a b IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  16. ^ a b IMF. “World Economic Outlook Database: Report for Selected Countries and Subjects: October 2020”. www.imf.org. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  17. ^ “World's Top Export Countries”. www.worldstopexports.com.
  18. ^ “Leading import countries worldwide in 2019”. www.statista.com.
  19. ^ “Discover the strongest country brands” (PDF).
  20. ^ Schwab, Klaus. “Insight Report: The Global Competitiveness Report 2019” (PDF). World Economic Forum.
  21. ^ Brand Finance. “Brand Finance - Richard Haigh: Nation Brands 2020 Ranking”. brandirectory.com. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2020.
  22. ^ Transparency International. “Corruption Perceptions Index 2020 for South Korea”. www.transparency.org.
  23. ^ a b Giacomo Tognini - Forbes Staff (6 tháng 4 năm 2021). “The Countries With The Most Billionaires 2021”. www.forbes.com.
  24. ^ Đức Minh (theo Bloomberg) (13 tháng 8 năm 2021). “Xu hướng tỷ phú tự thân vượt mặt giới chaebol ở Hàn Quốc”. vnexpress.net.
  25. ^ Thùy Linh (Theo SCMP) (1 tháng 2 năm 2021). “Người trẻ Hàn Quốc rủ nhau rời bỏ thủ đô (dòng 6,7,8,9 - đoạn 3)”. vnexpress.net.
  26. ^ “Korea to become 2nd richest nation by 2050”. Goldman Sachs. ngày 26 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2007.
  27. ^ “Korea expected to be ninth largest economy by 2025”. Goldman Sachs. ngày 26 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2007.
  28. ^ Phạm Trung (13 tháng 6 năm 2020). “Xe hơi Hàn Quốc - thế lực đáng gờm tại châu Á”. vnexpress.net. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2020.
  29. ^ “Country Studies: South Korea”. The Economist. ngày 10 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2006.
  30. ^ a b Cumings, Bruce. Korea's Place in the Sun: a Modern History. New York: Norton, 2005. Print.
  31. ^ a b Korea: A Century of Change By Jürgen Kleiner
  32. ^ “The Legacies of Korean Participation in the Vietnam War: The Rise of Formal Dictatorship”. American Studies Association. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2012.
  33. ^ IMF. “World Economic Outlook (WEO) database”. www.imf.org.

Liên kết ngoàiSửa đổi