Lê Nguyên Vỹ

Chuẩn tướng Bộ binh của Quân lực VNCH

Lê Nguyên Vỹ (1933 - 1975), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ một trường Võ bị Địa phương do Chính phủ Quốc gia mở ra ở Trung phần. Ra trường được điều về đơn vị Bộ binh, sau chuyển qua phục vụ đơn vị Nhảy dù một thời gian ngắn. Sau đó lại trở về Bộ binh tuần tự giữ nhiều chức vụ cho đến năm 1973, ông được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy một Sư đoàn Bộ binh (cũng là Chỉ huy cuối cùng của đơn vị này). Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.[1]

Lê Nguyên Vỹ
LeNguyenVy.jpg
Cố Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ
Chức vụ
ARVN 5th Division SSI.svg
Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh
Nhiệm kỳ7/1973 – 30/4/1975
Cấp bậc-Đại tá (6/1970)
-Chuẩn tướng (11/1974)
Tiền nhiệm-Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch
Kế nhiệmSau cùng
Vị tríQuân khu III
Tư lệnh phó
Tham mưu trưởng
-Đại tá Trần Văn Thoàn
-Đại tá Từ Vấn
21st Division.jpg
Tư lệnh phó Sư đoàn 21 Bộ binh
Nhiệm kỳ6/1973 – 11/1973
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu IV
Tư lệnh-Chuẩn tướng Lê Văn Hưng
QD III VNCH.jpg
Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy
Chiến thuật Quân đoàn III
Nhiệm kỳ7/1972 – 6/1973
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu III
Tư lệnh Quân đoàn-Trung tướng Nguyễn Văn Minh
Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh
Nhiệm kỳ6/1971 – 7/1972
Cấp bậc-Đại tá
Vị tríQuân khu III
Tư lệnh-Đại tá Lê Văn Hưng
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8
Sư đoàn 5 Bộ binh
Nhiệm kỳ8/1968 – 8/1970
Cấp bậc-Trung tá (8/1968)
-Đại tá
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Tư lệnh-Thiếu tướng Phạm Quốc Thuần
Trung đoàn phó Trung đoàn 8
Nhiệm kỳ6/1965 – 8/1968
Cấp bậc-Thiếu tá (1/1961)
-Trung tá
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Tư lệnh-Đại tá Trần Thanh Phong
Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2
thuộc Trung đoàn 8
Nhiệm kỳ1/1961 – 6/1965
Cấp bậc-Thiếu tá
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Tư lệnh-Thiếu tướng Trần Ngọc Tám
Quận trưởng Bến Cát, Bình Dương
Nhiệm kỳ1/1957 – 1/1961
Cấp bậc-Đại úy (6/1956)
-Thiếu tá
Vị tríVùng 3 chiến thuật
Thông tin chung
Quốc tịch Việt Nam Cộng hòa
Sinh22 tháng 8 năm 1933
Sơn Tây, Liên bang Đông Dương
Mất30 tháng 4 năm 1975
(42 tuổi)
Bình Dương, Việt Nam Cộng hòa
Nguyên nhân mấtTự sát
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
VợPhan Thị Kim Yến
Gia quyếnLê Nguyên Hoàng (anh con bác)
Các em:
Lê Thị Diễn
Lê Thị Khánh
Lê Nguyên Quốc
ChaLê Nguyên Liên
MẹLê Thị Huệ
Con cái4 người con (3 trai, 1 gái):
Lê Nguyên Quang
Lê Nguyên Minh
Lê Nguyên Chính
Lê Thị Tường Vy
Học vấnTú tài bán phần
Học sinh trường-Trường Trung học Phổ thông tại Hà Nội
-Trường Võ bị Địa phương Trung Việt, Huế
-Trung tâm Huấn luyện Biệt Động đội, Vạt Cháy (Bãi Cháy), Hòn Gai, Quảng Yên
-Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ
Quê quánBắc Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ1951 - 1975
Cấp bậcUS-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vịVietnamese Airborne Division 's Insignia.svg Binh chủng Nhảy dù
21st Division.jpg Sư đoàn 21 Bộ binh
ARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Commander BAR.png Bảo quốc Huân chương đệ Tam đẳng

Tiểu sử & Binh nghiệpSửa đổi

Ông sinh ngày 22 tháng 8 năm 1933 tại Sơn Tây,[2] miền Bắc Việt Nam trong một gia đình có truyền thống hiếu học thuộc gia tộc "Lê Nguyên" danh giá. Thuở nhỏ ông học Tiểu học tại Sơn Tây. Lên Trung học, ông được gia đình cho ra Hà Nội. Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hà Nội với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt NamSửa đổi

Đầu năm 1951, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/204.567. Theo học khóa 2 Lê Lợi tại trường Võ bị Địa phương Trung Việt ở Huế,[3] khai giảng ngày 1 tháng 2 năm 1951. Ngày 1 tháng 10 cùng năm mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy hiện dịch. Ra trường, ông được chuyển về phục vụ trong Tiểu đoàn 19 Việt Nam thuộc Quân đội Quốc gia là thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp với chức vụ Trung đội trưởng do Đại úy Đỗ Cao Trí làm Tiểu đoàn trưởng. Tháng 4 năm 1952, ông được thăng cấp Thiếu úy tại nhiệm. Đầu năm 1953, ông được cử theo học khóa 1 Biệt kích tại Trung tâm Huấn luyện Biệt động đội tại Vạt Cháy (Bãi Cháy), Hòn Gai, Quảng Yên. Mãn khóa trở về đơn vị gốc (Tiểu đoàn 19) ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức vụ Đại đội trưởng. Ngày 1 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 19 Việt Nam giải tán dùng làm nòng cốt để thành lập Tiểu đoàn 6 Nhảy dù. Cùng năm, ông được tuyển chọn đi du học khóa huấn luyện viên Nhảy dù tại Pau, Pháp.

Quân đội Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Năm 1955, sau khi từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông bị thương trong chiến trận đẩy lui lực lượng Bình Xuyên ra khỏi trường trung học Petrus Ký, Sài Gòn. Tháng 6 năm 1956, ông được thăng cấp Đại úy và được theo học lớp Bộ binh cao cấp. Đầu năm 1957, ông được bổ nhiệm làm Quận trưởng Quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đầu năm 1961, ông được thăng cấp Thiếu tá nhiệm chức. Sau đó trở lại đơn vị Bộ binh, ông được giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh dưới quyền Tư lệnh Sư đoàn là Thiếu tướng Trần Ngọc Tám. Ngày Quân lực đầu tiên, tháng 6 năm 1965, theo quy chế ông được mang cấp Thiếu tá thực thụ và được đề bạt lên đảm nhiệm chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 8. Tư lệnh Sư đoàn thời điểm này là Đại tá Trần Thanh Phong.

Trung tuần tháng 8 năm 1968, sau chiến trận Mậu thân đợt 2, ông được thăng cấp Trung tá lên giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8 Bộ binh, dưới quyền điều động của Thiếu tướng Phạm Quốc Thuân tư lệnh Sư đoàn. Đến giữa năm 1970, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Tháng 8 cùng năm ông được cử đi du học khóa Tham mưu cao cấp (khóa 1970 - 1971) thụ huấn 42 tuần tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ[4]

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1971, ông được cử giữ chức vụ Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ binh, phụ tá cho Tư lệnh Sư đoàn là Đại tá Lê Văn Hưng. Mặt trận Mùa hè đỏ lửa năm 1972, ông trực tiếp tham gia trong Chiến trường An Lộc tử thủ căn cứ chỉ huy. Sau khi chiến thắng, tháng 7 cùng năm ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Chiến thuật Quân đoàn III (Thời điểm này Tư lệnh Quân đoàn III là Trung tướng Nguyễn Văn Minh). Sau đó được cử đi du hành thăm viếng Trung Hoa Quốc gia (Đài Loan).

Tháng 6 năm 1973, ông được chuyển về Quân khu 4 giữ chức Tư lệnh phó Sư đoàn 21 Bộ binh do Chuẩn tướng Lê Văn Hưng làm Tư lệnh. Tháng 8, ông bị tai nạn trực thăng trong lúc thị sát mặt trận tại vùng kinh rạch thuộc địa bàn hành quân của Sư đoàn (trực thăng đụng phải ngọn dừa rớt xuống nước), ông bị gẫy chân phải về Tổng viện Cộng hòa điều trị 2 tháng.[5]. Ngày 7 tháng 11 cùng năm, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch về Quân khu 3 nhận chức Chánh thanh tra trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn III. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1974, ông được thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

Tự sátSửa đổi

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi nghe nhật lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng hòa các cấp buông súng, ai ở đâu thì ở đó và chờ quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đến bàn giao. Ông ra lệnh cho binh sĩ treo cờ trắng trước cổng căn cứ và cho thuộc cấp giải tán. Sau đó ông dùng khẩu Beretta 6.35 bắn vào đầu tự sát tại Bộ Tư lệnh ở Lai Khê. Khi Quân Giải phóng vào tiếp quản căn cứ Lai Khê thấy bên xác tướng Vĩ còn một tờ giấy viết tay của ông ta ghi “nhiều tiền, nhiều của, nhục nhã quá…”. Hưởng dương 42 tuổi.

Thi thể ông được an táng trong rừng cao su gần doanh trại Bộ Tư lệnh. Ngày 2 tháng 5 năm 1975 được thân nhân bốc lên đem về cải táng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Năm 1987, do Nghĩa trang Hạnh Thông Tây có lệnh giải tỏa, hài cốt ông được thân mẫu (đã ngoài 80 tuổi) cùng với người em là Lê Nguyên Quốc từ miền Bắc vào hợp cùng người anh con bác là Trung tá Lê Nguyên Hoàng (mới đi tù về) đến Nghĩa trang Hạnh Thông Tây bốc mộ và hỏa thiêu, đem về thờ ở từ đường họ Lê Nguyên tại nguyên quán số nhà 151 đường Lê Lợi, Thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Sau đó, tái cải táng xây lăng mộ tại Nghĩa trang của gia tộc ở Sơn Tây.

Huy chươngSửa đổi

-Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng
-Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu và một số huy chương quân sự, dân sự khác.

Gia đìnhSửa đổi

  • Thân phụ: Cụ Lê Nguyên Liên
  • Thân mẫu: Cụ Lê Thị Huệ
  • Các em: Lê Thị Diễn, Lê Thị Khánh và Lê Nguyên Quốc
  • Phu nhân: Bà Phan Thị Kim Yến (Hiện nay bà và các con cháu định cư tại Hoa Kỳ)
Ông bà có 4 người con (3 trai, 1 gái):
Lê Nguyên Quang, Lê Nguyên Minh, Lê Nguyên Chính và Lê Thị Tường Vy

Nhận xétSửa đổi

Tướng Lê Nguyên Vỹ được đánh giá là một chiến binh quả cảm, một sĩ quan mẫn cán, năng nổ, có tài tham mưu và là một chỉ huỵ bộc trực, thanh liêm, chống tham nhũng. Ông là một trong những vị tướng hiếm hoi của Quân lực Việt Nam Cộng hòa tinh thần tự lực cánh sinh, tinh thần tự trọng cao độ, không bao giờ ỷ lại vào sự trợ giúp từ phía Hoa Kỳ.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Khi biển cố 30/4/1975 xảy ra, Việt Nam Cộng hòa có 5 tướng lãnh đương nhiệm những chức vụ cao trong Quân lực đã tự sát để đền nợ nước và nêu cao khí tiết là các Thiếu tướng Phạm Văn Phú (Tư lệnh Quân đoàn II), Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh Quân đoàn IV). Các Chuẩn tướng Lê Văn Hưng (Tư lệnh phó Quân đàn IV), Trần Văn Hai (Tư lện Sư đoàn 7 Bộ binh) và Lê Nguyên Vỹ (Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh).
  2. ^ Tỉnh Sơn Tây nay là Thị xã trực thuộc Thành phố Hà Nội.
  3. ^ Trường Võ bị Địa phương Trung Việt còn gọi là trường Sĩ quan Đập Đá được mở trên vị trí và cơ sở trước đó là của trường Võ bị Quốc gia Huế, thường gọi là "Võ bị Huế".
    -Trường Võ bị Huế từ cuối năm 1948 đến giữa năm 1950 đã đào tạo được 2 khóa sĩ quan hiện dịch là khóa 1 Phan Bội Châu và khóa 2 Quang Trung, sau đó chuyển về Đà Lạt (cơ sở cũ của Trường Võ bị Liên quân Viễn Đông, trường này đã dời về Nước Ngọt (Vũng Tàu) đổi tên là trường Võ bị Liên quân Đà Lạt tiếp tục đào tạo sĩ quan từ khóa 3 Trần Hưng Đạo, về sau đổi tên thành Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt.
    -Sau khi tiếp quản cơ sở, trường Võ bị Địa phương Trung Việt, tiếp tục đào tạo được thêm 3 khóa sĩ quan nữa là Khóa 1, khai giảng ngày 1 tháng 8 năm 1950. Khóa 2 nhập học ngày 1 tháng 2 năm 1951, đến ngày 1 tháng 10 cùng năm tổ chức lễ khai giảng cho khóa 3. Khóa sinh tốt nghiệp ở 3 khóa này đều mang cấp bậc Chuẩn úy. Sĩ quan xuất thân từ Võ bị Địa phương Trung Việt, sau này có ba người được lên cấp tướng, ngoài tướng Lê Nguyên Vỹ, còn 2 người nữa là Thiếu tướng Võ Văn Cảnh (Khóa 3) và Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp (Khóa 1).
  4. ^ Tu nghiệp lớp Chỉ huy và Tham mưu cùng với Đại tá Lê Nguyên Vỹ còn có Đại tá Ngô Hán Đồng
    -Trung tá Dương Ngọc Công (Phục vụ trong đơn vị Bộ binh).
    -Đại tá Nguyễn Ngọc Điệp (Sinh năm 1923 tại Sa Đéc, tốt nghiệp khóa 4 Võ bị Đà Lạt, sau cùng là Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bạc Liêu).
    -Đại tá Huỳnh Văn Dụ (Sau cùng là Chỉ huy trưởng Trung đoàn 12, Sư đoàn 7 Bộ binh (1969-1971).
    -Đại tá Nguyễn Hữu Duệ (Sinh năm 1931 tại Hưng Yên, tốt nghiệp khóa 6 Võ bị Đà Lạt, sau cùng là Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Thừa Thiên).
    -Trung tá Võ Đại Khôi (Sinh năm 1932 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt, sau cùng là Đại tá Tổng cục phó Tổng cục Quân huấn).
    -Trung tá Nguyễn Quang Hưng (Sinh năm 1931 tại Hòa Bình, tốt nghiệp khóa 7 Võ bị Đà Lạt, chức vụ sau cùng là Tham mưu trưởng trường Đại học Chiến tranh Chính trị).
    -Trung tá Huỳnh Thiện Kiếm (Phục vụ trong đơn vị Bộ binh).
    -Trung tá Nguyễn Tiến Lộc (Sinh năm 1928 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 5 Võ bị Đà Lạt, sau cùng là Đại tá Tham mưu trưởng Sư đoàn 2 Bộ binh).
    -Trung tá Nguyễn Tuấn Minh (Chỉ huy trưởng căn cứ B.50 thuộc Nha Kỹ thuật Bộ Tổng Tham mưu (cạnh Phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột).
  5. ^ Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1973, ông là một trong bốn sĩ quan được đặc cách ân thưởng Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu. Ba vị còn lại là:
    -Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh
    -Đại tá Nguyễn Trọng Luật (Sinh năm 1929 tại Long Xuyên, tốt nghiệp khóa 1 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, chức vụ sau cùng là Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac).
    -Đại tá Hoàng Đức Ninh (Sinh năm 1931 tại Phan Rang, tốt nghiệp khóa 3 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức, chức vụ sau cùng là Trưởng phòng 3 tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn IV. Bào huynh của Tổng trưởng Dân vận Hoàng Đức Nhã).
  6. ^ Đại tá Trần Văn Thoàn sinh năm 1932 tại Pháp, tốt nghiệp khóa 7 Võ bị Đà Lạt
  7. ^ Đại tá Từ Vấn sinh năm 1936 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 12 Võ bị Đà Lạt
  8. ^ Trung tá Tống Mạnh Hùng sinh năm 1932 tại Hà Nội, tốt nghiệp khóa 5 Võ khoa Thủ Đức
  9. ^ Đại tá Nguyễn Văn Vượng sinh năm 1933, tốt nghiệp Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức
  10. ^ Đại tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng sinh năm 1935, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt, được thăng cấp Đại tá tháng 3/1975
  11. ^ Đại tá Trần Phương Quế sinh năm 1930 tại Hải Dương, tốt nghiệp khóa 10 Võ bị Đà Lạt

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.