Bảy Viễn

tướng cướp Việt Nam
(đổi hướng từ Lê Văn Viễn)

Lê Văn Viễn (1904 - 1972) tức Bảy Viễn, nguyên là một tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức Lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp của Việt Minh, rồi ly khai trở về hợp tác với chính phủ Quốc gia Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại làm Quốc trưởng, rồi được phong Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cũng là thủ lĩnh của Lực lượng Bình Xuyên kiêm Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn. Năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy lực lượng này chống chính phủ và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan, nên phải đào thoát và lưu vong sang Pháp.

Lê Văn Viễn
Bảy Viễn
Flag of South Vietnam.svg
Bảy Viễn.jpg
Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn
Chức vụ
Flag of South Vietnam.svg
Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn
kiêm Giám đốc ngành An ninh-Cảnh sát
Nhiệm kỳ4/1952 – 3/1955
Cấp bậc-Thiếu tướng (4/1952)
Vị tríSài Gòn-Chợ Lớn
Tư lệnh Lực lượng Bình Xuyên
(Hợp tác với Chính phủ Quốc Gia)
kiêm Khu trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn
Nhiệm kỳ6/1948 – 4/1952
Cấp bậc-Đại tá (8/1948)
Vị tríSài Gòn-Chợ lớn
Tư lệnh phó Khu 7
(Thời kỳ hợp tác với Việt Minh)
Nhiệm kỳ12/1946 – 6/1948
Vị tríSài Gòn-Chợ Lớn
Khu bộ phó Chiến khu 7
Nhiệm kỳ7/1946 – 12/1946
Vị tríSài Gòn-Chợ Lớn
Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến
Khu vực Sài Gòn và Chợ Lớn
Nhiệm kỳ11/1945 – 7/1946
Vị tríSài Gòn-Chợ Lớn
Chi đội trưởng Chi đội 9 Liên khu Bình Xuyên
Nhiệm kỳ8/1945 – 10/1945
Tổng chỉ huyDương Văn Dương
(Ba Dương)
Vị tríSài Gòn-Chợ Lớn
Thông tin chung
Danh hiệuBảy Viễn
Quốc tịchFlag of South Vietnam.svg Quốc gia Việt Nam
Flag of France.svg Cộng hòa Pháp
Sinh1904
Chợ Lớn, Liên bang Đông Dương
Mất1972
(68 tuổi)
Paris, Pháp
Nguyên nhân mấtTuổi già
Nơi ởParis, Pháp
Nghề nghiệp-Tướng cướp
-Quân nhân
-Chính khách
Dân tộcHán (Người Hoa (Việt Nam))
ChaLê Văn Dậu
Quê quánTriều Châu (Quảng Đông,Trung Quốc)
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Quốc gia Việt Nam
ThuộcFlag of Binh Xuyen Army.svg Bộ đội Bình Xuyên
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Năm tại ngũ1948 - 1955
Cấp bậcUS-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vịFlag of Binh Xuyen Army.svg Bộ đội Bình Xuyên
Tham chiến

Thân thế và cuộc đờiSửa đổi

Thân thếSửa đổi

Bảy Viễn sinh năm Giáp Thìn 1904 tại Chợ Lớn (Sau thuộc Đô thành Sài Gòn) trong một gia đình điền chủ trung lưu gốc Hoa.

Tuy sinh ra trong gia đình điền chủ khá giả, nhưng vì cảm thấy thiệt thòi trong việc chia gia tài, Viễn bỏ nhà đi bụi, tự lực cánh sinh, rồi thọ giáo ở nhiều võ đường khác nhau, nên ông rất giỏi võ.

Về hình thể, Bảy Viễn cao trên một mét bảy, dáng to vạm vỡ, trên khắp cơ thể đều có hình xăm (Cả một con Rồng đỏ chiếm trọn tấm lưng, đầu Rồng trên cổ, đuôi Rồng tận hậu môn, hai vai xăm hình Đầm trần truồng, bùa và đầu Rắn xăm ở đầu dương vật). Vì xăm cùng mình và là dân anh chị nên khi trở thành quân nhân và đạt đến vị thế cao trong xã hội, Bảy Viễn ăn mặc chỉnh tề để khoác lên vẻ ngoài lịch lãm và uy nghiêm, che đi một cách tối đa những hình xăm của mình. Về diện mạo, Bảy Viễn khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm, tóc cứng và dày, đen nhánh, được cắt ngắn gọn gàng, tuy dân giang hồ nhưng ông rất điển trai.

Tuổi trẻSửa đổi

Năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp (Thời bấy giờ, xe đạp là tài sản có giá trị rất lớn, nhưng thật ra chiếc xe đạp ấy vốn của gia đình Viễn, nhưng vì bà mẹ đem bán cho nhà bà con mà ông không biết, khi phát hiện chiếc xe đang nằm ở nhà người ta thì ông mang về, nên bị hàm oan).

Ban đầu Bảy Viễn là dân anh chị ở chợ Bình Đông, sau mới vào trung tâm thành phố Chợ Lớn làm bảo kê cho mấy tay xì thẩu. Đến năm 1927 thì Viễn phạm tội hành hung người khác, rồi bị bắt khi đang tá túc tại nhà tình nhân nên bị phạt giam 2 tháng tù (Lúc ấy Viễn đang làm cho một ông chủ sòng bạc người Tàu, nhưng vì mâu thuẫn mà "nện" tên chủ ấy một trận).

Năm 1936, Bảy Viễn bị chính quyền Nam Kỳ tuyên án 12 năm khổ sai đày đi Côn Đảo do tội cướp có vũ trang ở trung tâm thành phố Sài Gòn, tuy nhiên, đến năm 1940, Viễn vượt ngục thành công về đất liền. Trong khoảng thời gian ngồi khám lần đầu này, Bảy Viễn đã hạ được một tay trùm du đãng gốc Khmer để trở thành ông vua du đãng mới, rồi còn quyến rũ và dan díu với cô vợ của một tên Thầy chú (Cai ngục), cô này rất mê Viễn nên sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ ông.

Năm 1941, Bảy Viễn bị bắt cùng Mười Trí (Tức Huỳnh Văn Trí), một người bạn mới quen trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu. Mười Trí cũng là "Dân giang hồ", giỏi võ, vì bất mãn xã hội mà lập nên một nhóm cướp gây chấn động cả Sài Gòn-Chợ Lớn, vì vậy cả hai có duyên gặp và kết thân. Tòa án tuyên phạt Bảy Viễn 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây thành 20 năm. Sau đó Viễn lại vượt ngục thành công nhưng máu "Đi hát" (Tức đi cướp) vẫn âm ỉ nên Bảy Viễn và Mười Trí lại tổ chức đi cướp lần nữa, rồi lại bị bắt đày ra Côn Đảo lần thứ 3. Sau khoảng thời gian chuẩn bị chu đáo nhưng dài hơi vì vợ chồng Thầy chú đã được triệu hồi về đất liền, Bảy Viễn và Mười Trí cùng vài người bạn thân lại tổ chức vượt ngục thành công lần cuối cùng. Lịch sử nhà tù Côn Đảo chỉ khoảng 10 cuộc vượt ngục thành công mà Bảy Viễn đã chiếm đến 3, cũng là do số mệnh.

Tham gia kháng chiếnSửa đổi

Tháng 8 năm 1945, Bảy Viễn cùng Mười Trí tập hợp lực lượng du đãng tại Sài Gòn hợp tác với Trần Văn Giàu tham gia Kháng chiến chống Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu Bình Xuyên, bản doanh đặt tại Phú Lâm (Chợ Lớn) do Ba Dương (Tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy. Đơn vị của Bảy Viễn tuy tuân thủ chỉ thị quân sự của cấp trên nhưng lại từ chối tiếp nhận những chính trị viên do cấp trên cử xuống.[1] Tháng 10 cùng năm, Bảy Viễn đưa đơn vị rời Phú Lâm rút về mật khu Rừng Sác. Cuối tháng 11, ông được Ủy ban Hành chính lâm thời cử làm Tư lệnh tối cao các Lực lượng Kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn kiêm Chỉ huy trưởng khu Sài Gòn-Chợ Lớn.

Ngày 20 tháng 2 năm 1946, Tổng chỉ huy Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre, khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sác về cứu nguy cho mặt trận An Hóa-Giao Hòa. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ Chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên không tán thành.

Ngày 12 tháng 4 năm 1946, tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Nam Bộ ký quyết định phong Năm Hà (Tức Dương Văn Hà, em cùng cha khác mẹ với Dương Văn Dương) làm Tư lệnh lực lượng Bình Xuyên thay cho Ba Dương. Tháng 7 cùng năm, Nguyễn Bình ký quyết định phong Bảy Viễn làm Khu bộ phó Chiến khu 7 với ý định tách Viễn ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy Lực lượng Bình Xuyên và để ông không từ bỏ kháng chiến về hợp tác với PhápCộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Trung tuần tháng 12 cuối năm, Bảy Viễn chính thức giữ chức Tư lệnh phó Khu 7, đồng thời cũng trong tháng này Đại úy Savani (Thuộc Phòng nhì Pháp, một cơ quan tình báo quốc phòng hải ngoại của Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sác.

Đầu năm 1948, Bảy Viễn đồng ý đi Đồng Tháp theo lời mời của Nguyễn Bình (Nguyễn Bình nhờ Huỳnh Văn Nghệ hay còn gọi là Tám Nghệ đi Rừng Sác thuyết phục Bảy Viễn vì biết Viễn rất nể trọng Tám Nghệ dù ông tướng này không phải dân giang hồ) để tham gia cuộc họp quan trọng do Nguyễn Bình chủ trì với mục đích phong Bảy Viễn chức Khu trưởng Khu 7, đồng thời giải quyết những mâu thuẫn đang tồn tại giữa Bộ đội Bình Xuyên của Bảy Viễn và Bộ đội Nguyễn Bình. Tại cuộc họp, Bảy Viễn đã trả lời rắn chắc và đanh thép các chất vấn của Nguyễn Bình về những mâu thuẫn nội bộ và tỏ ý nghi ngờ, lưỡng lự trong việc nhận chức Khu trưởng Khu 7 mà trước đó Viễn cho rằng người xứng đáng nhận chức này hơn phải là Huỳnh Văn Nghệ vì theo Viễn chiến công của Bộ đội Tám Nghệ vượt xa những chiến công của Bộ đội Bảy Viễn. Sau vì Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng Khu 7 và tỏ vẻ bất hợp tác nên Nguyễn Bình quyết định giải tán các đơn vị Bình Xuyên, phiên chế thành các đơn vị Vệ quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ các Lực lượng kháng chiến và Việt Minh của Phòng nhì Pháp, mặc cho nhiều lãnh đạo chủ chốt bên phía Bình Xuyên phản đối quyết định này (Bao gồm cả Mười Trí, một trong những thủ lĩnh). Bảy Viễn phản đối quyết liệt đồng thời tố cáo Nguyễn Bình muốn thiết lập chế độ Đảng trị và củng cố uy quyền cá nhân nên đã sát hại Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và hai lần ám sát Viễn nhưng bất thành.[1] Bảy Viễn nói với Nguyễn Bình:

"Chúng tôi không hài lòng về cung cách đồng chí đối xử với chúng tôi. Bình Xuyên đã chiến đấu từ trước khi đồng chí vào tới Nam Bộ, đồng chí không hề đề nghị giúp đỡ gì chúng tôi, mà đồng chí chỉ hạ lịnh bắt chúng tôi phải thi hành...
Chúng tôi nghĩ rằng các chánh trị viên không có gì để dạy dỗ chúng tôi. Chúng tôi đã ý thức cầm súng chiến đấu vì nền độc lập của Tổ quốc, và để đòi tự do. Chúng tôi không chiến đấu cho một chế độ Đảng trị, hay để củng cố uy quyền lãnh đạo đã nhẫn tâm tàn sát đồng đội một cách tàn độc hơn là đối với quân thù..."

Bảy Viễn chất vấn Nguyễn Bình vì sao giết Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ thì được Nguyễn Bình trả lời:

"Đó là kẻ lúc nào cũng mưu tính diệt Cộng Sản và cá nhân tôi, cho nên phải tiêu diệt."

Bảy Viễn từ chối chức Khu trưởng Khu 7 và không còn muốn hợp tác với Việt Minh. Trên đường từ Đồng Tháp về Rừng Sác, Bảy Viễn và đoàn tùy tùng bị Trung đoàn 306 của Nguyễn Bình phục kích trong đêm nhưng vì đã đề phòng nên họ thoát khỏi vòng vây.[2]

Về thànhSửa đổi

Tuy cũng phản đối quyết định giải tán các đơn vị Lực lượng Bình Xuyên, nhưng Mười Trí vẫn trung thành và ở lại quân kháng chiến Việt Minh. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, sau khi Bảy Viễn âm thầm rút quân rời chiến khu Đồng Tháp đã được Mười Trí mời đến Tổng hành dinh đồng thời cũng là nhà của ông ở Đông Thành (Chi đội 4) tá túc, nhằm thuyết phục Bảy Viễn quyết định cho kỹ trước khi quá muộn. Đêm ấy, bà vợ Mười Trí đãi hai anh em bữa cơm thịnh soạn. Mười Trí vì tình bạn, tình anh em từng cùng nhau vào sinh ra tử, từ đi cướp, vô tù đến chiến đấu trên mặt trận, đã khuyên Bảy Viễn nên suy nghĩ thấu đáo và nhất là nên ở lại vì còn nước còn tát, nếu xảy ra chuyện thì Mười Trí sẽ đứng ra bảo lãnh, bất kể sau đó có bị nghi ngờ, kiểm điểm hay thậm chí là bị kiểm soát thì Mười Trí vẫn chịu đựng được. Cảm động trước tấm chân tình, Bảy Viễn tuy vẫn chưa phục, nhưng hứa hẹn sẽ suy nghĩ kỹ càng.

 
Bảy Viễn trước khi đọc diễn văn

Cùng đêm, khi Bảy Viễn đang say giấc, Mười Trí cho gọi thuộc cấp đến, ra lệnh thông báo rằng các lực lượng Bộ đội Bình Xuyên khác ai ở đâu thì ở yên đấy, không được tự ý rời đi khi không có lệnh của ông, nhằm làm giảm tối đa sự thiệt hại cho quân kháng chiến.

Sáng hôm sau, khi hai người cùng nhau dùng bữa cơm gia đình thân mật cuối cùng, Bảy Viễn thông báo đã suy nghĩ kỹ, ông quyết định dứt áo ra đi, trở về Sài Gòn vì không thể sống chung với những người mà ông xem là xảo quyệt và bất công. Mười Trí đã tiên liệu trước, nên dù rất thất vọng về Bảy Viễn và về sự bất lực của mình, vẫn đồng ý tiễn Viễn đi một đoạn dài đến tận xã Hưng Long (Bình Chánh), kể từ đó, hai người thuộc hai chiến tuyến khác nhau. Mười Trí có làm một bài thơ cảm động về hoàn cảnh trên, có thể Bảy Viễn biết bài thơ này. Điều đặc biệt, bài thơ vẫn được lan truyền từ đó đến nay, gần thị trấn Cái Tàu Hạ, nhiều cụ cao niên vẫn thuộc bài thơ ly biệt mà Mười Trí để lại.

 
Bảy Viễn đọc diễn văn

Vào lúc 13 giờ trưa ngày 12 tháng 6 năm 1948, qua sự trung gian móc nối của Đại úy Savani Trưởng phòng nhì Pháp cùng Thiếu úy Cistisni, Bảy Viễn và người cố vấn Lại Hữu Tài của ông đến một địa điểm cách đồn An Phú khoảng 2 cây số thuộc quận Cần Giuộc họp với 2 sĩ quan Pháp bàn việc trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia. Ngày 13 tháng 6, Bảy Viễn mở cuộc hành quân tái chiếm Rừng Sác nhưng bất thành vì tướng Nguyễn Bình đã đánh chiếm vào ngày 19 tháng 5 trước đó và đã cho củng cố chiến khu này rất chặt chẽ.

Ngày 17 tháng 6, Bảy Viễn tuyên bố Lực lượng Bình Xuyên trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia, cùng mang theo 280 vũ khí đủ loại đặt bản doanh tại số 31 đường Canton. Sau khi về hợp tác với Pháp và Chính phủ Quốc gia, ngày 1 tháng 8 cùng năm Bảy Viễn được Tướng Pierre Boyer de Latour gắn lon Đại tá và thuộc quyền Tổng trấn Nam Phần.

Sau khi Bảy Viễn về thành, phần lớn Lực lượng Bình Xuyên được tổ chức lại và phiên chế thành các Vệ quốc đoàn, bộ phận còn lại do Bảy Viễn chỉ huy ly khai Việt Minh để tham gia chính quyền Quốc gia Việt Nam đã trở thành lực lượng Bình Xuyên được biết đến nhiều nhất vào thập niên 1950. Nhóm Bình Xuyên ly khai còn là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp dưới danh xưng "Công an xung phong", nắm quyền kiểm soát toàn vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.

 
Bảy Viễn và quân đội của ông đứng gần Tổng hành dinh ngay Cầu chữ Y

Sau khi về thành, năm 1949, Bảy Viễn cho xây Tổng hành dinh phía bên kia Cầu chữ Y (Hướng quận 8 ngày nay, vị trí sát dạ cầu, bị phá hủy sau khi tướng Dương Văn Minh đánh bại quân Bình Xuyên). Sau đó Bảy Viễn trở thành người bảo trợ cho ngôi chùa Bảo Quốc gần đấy (Bảo Quốc tự, nay cải danh là chùa Linh Phước, tọa lạc tại số 139 đường Dạ Nam, quận 8).

 
Bảy Viễn tại tư gia

Theo báo Người Lao Động thì Bảy Viễn sở hữu một ngôi biệt thự bề thế ngay trung tâm thành phố Đà Lạt, tọa lạc tại số 10 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, mà ngày nay, một phần diện tích bên phải trong khuôn viên biệt thự được sử dụng làm trụ sở của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng, những phần còn lại được giữ nguyên vẹn.[3]

Ngày 1 tháng 1 năm 1951, Bảy Viễn đứng ra mở sòng bạc Casino Cloche d'Or (Sau cải danh Kim Chung). Sau đó, Bảy Viễn được Quốc trưởng Bảo Đại phong Nam tước của Hoàng gia và nhận làm em nuôi dù Bảo Đại nhỏ tuổi hơn ông nhiều. Thời đó, người ta nói rằng đấy là niềm vinh hạnh lớn cho Bảy Viễn, khi mà một tướng cướp võ biền gốc giang hồ lại được một cựu Hoàng đế nhận làm em nuôi và kết giao, nhưng ai cũng biết, Bảo Đại tiêu tiền như nước, không bao giờ là đủ khi đồng lương Pháp trả không là gì so với cuộc sống Đế vương của ông ta, mà Bảy Viễn đã trở thành bậc đại tư sản nhờ việc kinh doanh các sòng bạc lớn, một người vì tiền, người kia vì quyền.

 
Nhà báo người Pháp Jacques Chancel trong một lần phỏng vấn Bảy Viễn tại Tổng hành dinh năm 1953

Ngày 22 tháng 4 năm 1952, Quốc trưởng Bảo Đại phong Bảy Viễn lên cấp Thiếu tướng (Major-général) Quân đội Quốc gia và bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Chợ Lớn[4] kiêm nhiệm vụ trông coi ngành An ninh - Cảnh sát, nên sau đó Bảy Viễn giao lại chức Giám đốc Công an Ðô thành cho thuộc cấp Lại Văn Sang (Anh ruột Lại Hữu Tài, cố vấn của Bảy Viễn).

Bằng thế lực của mình, Bảy Viễn thâu tóm sòng bạc Đại Thế giới (Casino grand Monde), đồng thời làm ngơ cho khu mại dâm Bình Khang hoạt động công khai. Có tài liệu còn cho thấy Bảy Viễn móc nối với tên trùm Franchini người đảo Corse (Pháp) - và cũng là chủ sở hữu đương thời của Khách sạn Continental - để buôn thuốc phiện và ma túy. Theo các tài liệu trong Trung tâm Lưu trữ quốc gia thì Lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn có mặt trong hầu hết các ngành khai thác và kinh doanh béo bở khắp Nam Kỳ, nhưng Lực lượng Bình Xuyên do ông thủ lĩnh vẫn là một đơn vị độc lập.

 
Bảy Viễn trò chuyện với tướng Nguyễn Văn Hinh trong một cuộc gặp

Trong khoảng thời gian huy hoàng, vàng son khi nắm trong tay quyền lực to lớn, thao túng nhiều hoạt động kinh doanh-buôn bán, Bảy Viễn trở thành một trong những ông trùm giàu có và quyền lực nhất miền Nam Việt Nam. Trong giới giang hồ miền Nam trước 1975 thì Bảy Viễn là người thành công nhất về quyền lực, sự giàu sang cũng như đạt đến đỉnh cao danh vọng.

Tháng 9 năm 1954, Bảy Viễn vào Dinh Độc Lập cùng tướng Nguyễn Văn Hinh và tướng Nguyễn Văn Xuân để hội kiến Thủ tướng đương nhiệm Ngô Đình Diệm, nhưng rồi từ chối lời mời của vị Thủ tướng về việc sáp nhập Lực lượng Bình Xuyên vào Quân đội Quốc gia. Ngoài ra, Bảy Viễn còn yêu cầu được tham chính và đưa ra yêu sách lập nội các mới, nên sau đó Diệm cương quyết từ chối không cho Bảy Viễn tham gia chính phủ, vì theo ý của Bảo Đại, ông cựu Hoàng đế này muốn Viễn nhậm chức Bộ trưởng Nội vụ, Bảo Đại thậm chí còn muốn đưa Bảy Viễn lên làm Thủ tướng trong trường hợp loại bỏ Ngô Đình Diệm khi mâu thuẫn giữa Diệm và ông cựu Hoàng lên đến đỉnh điểm.

Tình hình ngày càng gay cấn, Bình Xuyên và các giáo phái khác như Cao Đài, Hòa Hảo muốn giữ nguyên lực lượng riêng của mình với lý do là quân đội họ có lối đánh riêng, nếu sáp nhập vào Quân đội Quốc gia, e là sẽ mất đi hiệu năng chiến đấu. Nhưng vì Thủ tướng Diệm không nhượng bộ, nên cả Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo cùng một số lực lượng khác đã cùng họp bàn ra quyết định thành lập Mặt trận Thống nhứt Toàn lực Quốc gia vào ngày 4 tháng 3 năm 1955 với chủ tịch là Hộ pháp Phạm Công Tắc nhằm chống đối chính phủ mà Thủ tướng Diệm điều hành thay Quốc trưởng Bảo Đại đang công du ở Pháp.

Bị trấn áp và lưu vongSửa đổi

Ngày 28 tháng 3 năm 1955, Bảy Viễn chỉ huy quân Bình Xuyên tấn công vào các lực lượng của Chính phủ Quốc gia nhưng bị các đơn vị Nhảy dù Quân đội Quốc gia do Đại tá Đỗ Cao Trí chỉ huy sau năm ngày đã đánh bật ra khỏi Sài Gòn-Chợ Lớn. Sau đó, Thủ tướng Diệm quyết định đóng cửa các sòng bạc do Bình Xuyên điều hành, giải tán khu mại dâm Bình Khang, cho quân đội tấn công quân Bình Xuyên và các giáo phái, đồng thời đặt Bảy Viễn và các thuộc cấp là Lại Văn Sang và Lại Hữu Tài ra ngoài vòng pháp luật. Bảy Viễn cùng các thuộc cấp thân tín rút về mật khu Rừng Sác. Ngày 21 tháng 5, Bảy Viễn và các thuộc cấp bị truy tố trước Tòa án Quân sự về các tội danh phá hoại và phản quốc. Ngày 21 tháng 9, Thủ tướng Diệm tổ chức Chiến dịch Hoàng Diệu (1955) do Đại tá Dương Văn Minh chỉ huy để truy kích tàn quân Bình Xuyên đang cố thủ tại mật khu Rừng Sác. Bảy Viễn may mắn được Pháp giúp giải thoát và đưa sang Pháp bằng phi cơ, kể từ đây Viễn bắt đầu cuộc sống lưu vong.

Ngày 13 tháng 1 năm 1956, Bảy Viễn và các thuộc cấp (Đã lưu vong) bị Tòa án Quân sự tuyên án tử hình khiếm diện về tội danh phá hoại và phản quốc, tước binh quyền và tịch thu tài sản.

Sau khi lưu vong, dù phải sống nơi xứ người, Bảy Viễn vẫn luôn dõi theo tình hình chiến sự ở Việt Nam. Theo các tài liệu và thư từ còn lưu giữ hiện được bảo tồn ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia hiện nay, thì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, từ năm 1964 đến năm 1970, Bảy Viễn liên tục gửi nhiều bức thư cho chính quyền mới ở Nam Việt Nam, phần lớn mang nội dung rằng Viễn xin được cùng gia đình hồi hương, trở về Việt Nam cũng như xin được giao hoàn một phần tài sản nhất định để sinh sống như những công dân bình thường, và cam đoan không can hệ gì đến chuyện quốc sự của chính phủ, nhưng nếu chính quyền mới có thiện ý mời ông làm cố vấn để tiếp tục công cuộc đối kháng với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoàmiền Bắc, thì dù có tuổi cao sức yếu, Viễn vẫn vui lòng góp sức. Tuy nhiên, những bức thư với lời lẽ trang trọng ấy lại không được đón nhận, và Bộ nội vụ chính quyền Sài Gòn cũ thậm chí còn xếp xó vào kho lưu trữ tư liệu dưới dạng tuyệt mật thư. Ngoài thư từ ra, có hẳn một công văn của Bộ nội vụ Việt Nam Cộng Hòa đề cập đến vấn đề lo ngại việc ông Lê Văn Viễn giữa các năm 1965 và 1968 đã thực hiện những chuyến du lịch đến các quốc gia láng giềng lân cận như Thái Lan và Campuchia, nhưng thực chất là đến tham dự các cuộc họp của những nhóm chính trị lưu vong ở hải ngoại.

Năm 1972, Bảy Viễn từ trần tại Paris, Pháp, hưởng thọ 68 tuổi.

Gia đình và giai thoạiSửa đổi

Bảy Viễn là người Hoa lai (Cha người Trung Hoa, mẹ người Việt). Thân phụ là cụ Lê Văn Dậu (Người gốc Triều Châu, Trung Quốc). Cụ Dậu vốn là một trong những đàn anh lớn của tổ chức Thiên Địa hội chi nhánh Chợ Lớn-Việt Nam (Mang tinh thần phù Minh diệt Thanh), thuộc nhóm Nghĩa Hòa Đoàn (Triều Châu) ở Chợ Lớn thời đó, kể từ khi cụ di cư sang Việt Nam lập nghiệp. Tuy là tay anh chị giang hồ nhưng cụ tánh tình cương trực, nghĩa hiệp, luôn giúp đỡ bà con làng xóm và những người khốn khó nên rất được kính nể. Bảy Viễn lúc nhỏ ương ngạnh nên thường bị cụ Dậu rầy la và dạy dỗ nghiêm khắc, tánh giang hồ hảo hán của cụ Dậu có ảnh hưởng rất lớn đến ông.

Bảy Viễn có năm người vợ, đều được ông đón sang Pháp cùng các con. Hậu duệ và con cháu Bảy Viễn hiện vẫn ở Pháp.

Từng tồn tại tin đồn rằng Bảy Viễn có không ít kho báu (Tiền, vàng) vẫn còn được cất giấu tại Rừng Sác nên ngay sau khi đánh thắng quân Bình Xuyên, chính phủ Ngô Đình Diệm, dưới sự điều hành của cố vấn Ngô Đình Nhu cùng lực lượng hỗ trợ Hoa Kỳ, đã nhanh chóng săn lùng số kho báu ấy. Nhiều khả năng điều này đã dẫn đến cái chết của người con trai trưởng 27 tuổi của Bảy Viễn. Có thuyết cho rằng mặc dù đã theo cha chạy sang Pháp vào năm 1955, nhưng vì số kho báu kể trên, anh này đã liều lĩnh trở về Việt Nam vào năm 1956, và ngay khi tìm được số kho báu, anh ta đụng độ với nhóm binh sĩ Hoa Kỳ vốn đang đồn trú canh gác tại chỗ, để rồi thiệt mạng trong trận đánh ấy vào cùng năm. Thuyết còn lại thì nói trong lúc giao tranh với quân đội chính phủ, anh này đã bị bắt năm 1955 và bị tử hình theo lệnh của Ngô Đình Nhu vào năm sau.

Một số tác phẩm viết về Bảy Viễn và Bảo Đại có kể một câu chuyện thú vị giữa Bảy Viễn và Lê Văn Giáo. Năm 1949, Bảo Đại mời một số chính khách lên biệt điện Đà Lạt để bàn thảo về việc chọn Tham mưu trưởng cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Theo hiệp ước Bảo Ðại - Vincent Auriol, Pháp nhìn nhận Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền riêng, có quân đội riêng. Quân đội đã có rồi, chỉ còn chọn Tham mưu trưởng nữa thôi. Trong các nhân vật được Quốc trưởng đề cử có tên Bảy Viễn. Khách sạn Langbian Palace là nơi các chính khách ngụ trong thời điểm này.

Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giáo là người đã kích Bảy Viễn mạnh hơn ai hết khi cho rằng Viễn vốn xuất thân trộm cướp, không xứng đáng đảm nhiệm quyền cao chức trọng. Không may cho ông ta là đã chê Bảy Viễn trước mặt Lại Văn Sang, đại diện Bảy Viễn tại cuộc họp. Tư Sang điện khẩn và báo cáo về Chợ Lớn cho Bảy Viễn. Viễn tức sôi máu, nhảy lên chiếc Jaguar (Loại xe đua mới xuất xưởng) chạy một mạch lên Đà Lạt. Ðường Sài Gòn - Ðà Lạt nhiều đèo cao chạy vòng vèo kế bên vực thẳm, lại nhiều khúc cua có am nhỏ thờ cô hồn những người tử nạn, vậy mà Bảy Viễn vẫn phóng chiếc Jaguar với tốc độ gần 100 km/h. Xe vừa tới khách sạn Langbian Palace, nơi có khách quan đến ở dự phiên họp với Quốc trưởng, Bảy Viễn xông đến lớn tiếng hỏi:

"Thằng chó đẻ Phan Văn Giáo là thằng nào mà dám nói xấu Bảy Viễn này?"

Thủ hiến Phan Văn Giáo là thượng khách thường xuyên của khách sạn, nên một người bồi nhanh chân báo động. Phan Văn Giáo dông ra cửa sau đón taxi lên biệt điện cầu cứu Bảo Đại. Bảy Viễn và Tư Sang cũng phóng xe lên biệt điện. Phan Văn Giáo trốn biệt, Bảo Đại phải đứng ra dàn xếp.

Theo một nguồn khả tín, cố nghệ sĩ cải lương Út Bạch Lan lúc nhỏ từng là con nuôi Bảy Viễn. Cố nghệ sĩ cải lương Ba Xây (Người gốc Hoa) cũng từng là thông dịch viên tiếng Hoa cho Bảy Viễn (Có thể Bảy Viễn chỉ biết chút ít tiếng Triều Châu và tiếng Quảng Đông, nên cần có thông dịch viên kề cận khi giao hảo với các đại phú gốc Quảng Đông ở Chợ Lớn, hay từ Hồng Kông mới đến)[5]

  • Trong phim truyền hình dài tập Dưới cờ đại nghĩa được chuyển thể từ tác phẩm "Người Bình Xuyên" của nhà văn Nguyên Hùng, người thủ vai Bảy Viễn là nam diễn viên Trương Minh Quốc Thái.

Tham khảoSửa đổi

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2001). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Nguyễn Long Thành Nam, Phật giáo Hòa Hảo trong lòng lịch sử dân tộc, Phần 4: Phật giáo Hòa Hảo và cách mạng, Chương 10: Sơ lược diễn tiến đấu tranh tại miền Nam Việt Nam, Phần 12: Những mẩu chuyện trong chiến khu, Tập san Đuốc Từ Bi, năm 1991.
  2. ^ Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc, Chương 10, Những Mẩu Chuyện Trong Chiến Khu, Nguyễn Long Thành Nam, Tập san Đuốc Từ Bi, 1991.
  3. ^ [1]
  4. ^ Cái chết âm thầm của trùm du đãng Bảy Viễn, Vietnamnet
  5. ^ http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/truong-minh-quoc-thai-toi-tap-lam-bay-vien-55408.htm

Thư mụcSửa đổi

  • Người Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • Bảy Viễn, Thủ lĩnh Bình Xuyên, tác giả Nguyên Hùng
  • BayVien, Le Maître de Cholon, tác giả Pierre Darcourt
  • Dưới cờ đại nghĩa, Hãng phim TFS

Xem thêmSửa đổi