Mở trình đơn chính

Thân thếSửa đổi

Lai Kim Bảng sinh năm 1502,[1] là người làng Kim Lan[2] (có nguồn cho là Kim Quan),[1][3] huyện Cẩm Giàng,[2][4] nay thuộc thôn Kim Quan, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, Việt Nam.[5]

Sự nghiệpSửa đổi

Ông đậu hoàng giáp[5][6][7][8] khoa Mậu Dần[9] năm Quang Thiệu thứ 3 (1518). Ông làm quan đến chức giám sát ngự sử.[1][2][10] Khi nhà Mạc giành ngôi nhà Lê sơ, ông phẫn uất và xuống sông Tức Mặc (Nam Định) tự tử.[2]

Vinh danhSửa đổi

Đến thời Lê trung hưng, ông được khen là có tiết nghĩa và được phong phúc thần.[2]

Nhận địnhSửa đổi

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, ở "Nhân vật chí", Phan Huy Chú có viết một mục về ông tại phần "Bề tôi tiết nghĩa".[2]

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Thư mụcSửa đổi

  1. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2004), Danh nhân Thanh Hóa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh Hóa 
  2. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2006), Làng Hội Triều, Nhà xuất bản Thanh Hóa 
  3. Bùi Hạnh Cẩn; Minh Nghĩa; Việt Ánh (2002). Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa thông tin. 
  4. Đào Duy Anh; Phạm Trọng Điềm; Quốc sử quán triều Nguyễn; Viện Sử học (Việt Nam) (1992), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nhà xuất bản Thuận Hóa 
  5. Đỗ Văn Ninh; Tạ Ngọc Liễn; Chương Thâu (2008), Almanach lịch sử - văn hóa truyền thống Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh niên 
  6. Nguyễn Mạnh Cường; Nguyễn Thị Hồng Hà (2007), Nho giáo - Đạo học trên đất kinh kỳ: Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin & Viện văn hóa 
  7. Trần Công Hiến; Viện nghiên cứu Hán Nôm (Việt Nam) (2009), Hải Dương phong vật chí, tập 1, Nhà xuất bản Lao động 
  8. Phan Huy Chú (2014), Nguyễn Minh Nhựt; Nguyễn Thế Truật; Trần Đình Việt; Đào Thị Tú Uyên; Võ Thị Ngọc Phượng, biên tập, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Nhân vật chí, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ, ISBN 978-604-1-03015-2 
  9. Viện Sử học (Việt Nam) (2004), Nghiên cứu lịch sử, số 338-343, Viện Sử học