Lịch sử Đức (1945–1990)

Thời kỳ hậu chiến đến khi đi tái thống nhất.

Lịch sử Đức giai đoạn 1945 đến 1990 là giai đoạn kể từ khi Hội nghị Potsdam sinh ra hiệp ước chung vào ngày 1 tháng 8 năm 1945, đất nước và dân tộc Đức cuối cùng đã bị ba nước chiến thắng lớn nhất (Mỹ, Anh, Liên Xô) tự ý chia cắt thành hai miền riêng biệt theo hai ý thức hệ chính trị đối lập; kéo dài cho đến khi tái thống nhất hòa bình vào ngày 3 tháng 10 năm 1990. Đức bị tước bỏ mọi quyền lợi mà họ giành được trước và trong Thế chiến, các vùng lãnh thổ phía Đông bị Ba LanLiên Xô sáp nhập. Vào cuối cuộc chiến, có khoảng 8 triệu người nước ngoài ở Đức,[1] chủ yếu là tù nhân và lao động cưỡng bức, trong đó có hơn 400.000 người từ phần hệ thống Trại tập trung của Đức Quốc xã toàn hầu khắp châu Âu,[2] chỉ một phần ở trong số đó là sống sót, còn phần nhiều đã bị chết do đói, điều kiện thời tiết khắc nghiệt hoặc bị giết hay bị bắt bị ép làm việc đến chết. Hơn 10 triệu người tị nạn nói tiếng Đức đã di cư đến Đức từ các quốc gia ở TrungĐông Âu. Khoảng 9 triệu người Đức là tù nhân chiến tranh, phần đông bị buộc phải làm lao động cưỡng bức trong nhiều năm, nhằm tái thiết rất nhiều các quốc gia bị thiệt hại trong chiến tranh bởi Đức gây ra. Đức bị Pháp sáp nhập Saarland năm 1946 nhưng được nước Tây Đức thu hồi hoàn toàn sau 1956 nhờ hòa bìnhngoại giao.

Quan hệ liên Đức
Map indicating locations of Đông Đức and Tây Đức

Đông Đức

Tây Đức

Trong Chiến tranh Lạnh, nước Đức bị chiếm đóng bởi quân Đồng minh phương Tây (Hoa Kỳ - dẫn đầu, AnhPháp) ở miền tây lãnh thổ và Liên Xô chiếm miền đông. Chế độ quân quản của khối Đồng minh phương Tây và Liên Xô kéo dài cho đến khi thành lập hai nước ở hai miền vào năm 1949:

  •  Đông Đức, tên đầy đủ là Cộng hòa Dân chủ Đức với nền chính trị Marx-Lenin do toàn bộ bên Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức lãnh đạo tuyệt đối hoàn toàn; trong vòng ảnh hưởng của Liên Xô và là quốc gia vệ tinh của họ, có quan hệ thân thiết với khối Cộng sản và xã hội chủ nghĩa; có 1 nền kinh tế tập trung có sự bao cấp kiểu Stalin cộng thêm ý thức hệ của các lãnh đạo có phần bảo thủ duy ý chí cũng như không bao giờ chấp nhận cải cách và sự ôn hòa (ngay cả có lúc có các sự thúc giục mạnh mẽ của Liên Xô) như Tổng bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Erich Honecker khiến cho một bộ phận lớn người dân bất mãn nghiêm trọng khiến cả nhà nước Đông Đức cũ là mất lòng dân.[3]
  •  Tây Đức, tên đầy đủ là Cộng hòa Liên bang Đức với nền chế độ dân chủ tự do nghị viện và hệ thống kinh tế tư bản với sự hỗn hợp xã hội hóa; kết luận lại là cộng hòa liên bang có kinh tế-xã hội phát triển cao, hiện đại, pháp quyềntư duy cởi mở (hơn người anh em đồng bào miền Đông).

Sau phục hồi; bắt đầu Kỳ tích sông Rhine ở 1955, Tây Đức phát triển nhanh chóng và rất mạnh, trở thành nền kinh tế thịnh vượng nhất toàn châu Âu. Dưới sự lãnh đạo của Konrad Adenauer; Tây Đức đã thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với Pháp, Israel, và đặc biệt là Hoa Kỳ. Tây Đức cũng gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) cùng Cộng đồng kinh tế châu Âu (sau này trở thành Liên minh châu Âu). Còn Đông Đức bị đình trệ vì nền kinh tế của quốc gia này được tổ chức cơ bản để đáp ứng các nhu cầu kinh tế của Liên Xô, cảnh sát mật (stasi) kiểm soát chặt chẽ cuộc sống hàng ngày và Bức tường Berlin ngăn chặn dòng người tị nạn chạy về phía Tây Đức. Sau 1 cuộc "Die Wende" hay còn gọi là cuộc Cách mạng hòa bình góp phần lớn khiến khối Cộng sản do Liên Xô dẫn đầu đã bị sụp đổ hẳn, Đức tái thống nhất vào năm 1990 sau khi được 4 cường quốc thắng trận cho phép độc lập hoàn toàn, kể từ đó đến nay luôn luôn duy trì là một đại cường quốc trên thế giới.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Stragart, Nicholas (2015). The German War; a nation under arms, 1939-45. Bodley Head. tr. 549.
  2. ^ Wachsmann, Nikolaus (2015). KL; A History of the Nazi Concentration Camps. Little, Brown. tr. 544.
  3. ^ Knowles, Chris (ngày 29 tháng 1 năm 2014). “Germany 1945-1949: a case study in post-conflict reconstruction”. History & Policy. History & Policy. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2016.

Liên kết ngoàiSửa đổi