Lộc Môn Tự Giác (zh: 鹿門自覺, ja:Rokumon Jikaku, ?-1117),Thiền sư Trung Quốc, từng sống dưới thời nhà Tống, đời thứ 9 Tông Tào Động. Sư là pháp tử của Thiền sư Phù Dung Đạo Khải, và có đệ tử nối pháp là Thiền sư Phổ Chiếu Nhất Biện.

Lộc Môn Tự Giác
鹿門自覺
Thiền Sư Lộc Môn Tự Giác.jpg
Thiền sư Lộc Môn Tự Giác
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh?
Mất1117
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmPhù Dung Đạo Khải
Kế nhiệmPhổ Chiếu Nhất Biện
Hoạt động tôn giáo
Sư phụPhù Dung Đạo Khải
Đồ đệPhổ Chiếu Nhất Biện

Vấn đề tranh cãi về pháp hệSửa đổi

Thời Minh, Thanh, có nhiều Thiền sư thuộc hai Tông Lâm TếTào Động quan tâm đến tính chính thống trong pháp hê truyền thừa và bắt đầu khảo cứu, xác định rõ sự truyên thừa các thế hệ của tông phái.

Lộc Môn Tự Giác (?-1117) là vấn đề gây tranh cãi nhất trong pháp hệ của Tông Tào Động. Trong một số bản ghi pháp hệ truyền thừa, Thiền sư Trạm Nhiên Viên Trừng, thiền sư Tào Động thời Minh, thuộc đời pháp thứ 27, nhưng trong bản pháp hệ khác là đời thứ 32. Đối chiếu hai bản pháp hệ truyền thừa này, có thể thấy 5 đời pháp khác nhau, một bản ghi Lộc Môn là đệ tử nối pháp trực tiếp của Phù Dung Đạo Khải, một bản cho rằng Lộc Môn Tự Giác là đệ tử của Thiên Đồng Như Tịnh và đưa ra sự truyền thừa từ Đan Hà Tử Thuần (1064-1119) ( Môn đệ đắc pháp của Phù Dung Đạo Khải) -> Chân Yết Thanh Liễu(1090-1151) -> Đại Hưu Tông Giác(1091-1162) -> Túc Am Trí Giám(1105-1192) -> Thiên Đồng Như Tịnh (1162-1228) -> Lộc Môn Tự Giác (?-1117). Điều này đã tạo ra một cuộc tranh luận lớn về vấn đề pháp hệ Tào Động về 5 thế hệ này vào thế kỷ 17.

Ý kiến Lộc Môn Tự Giác là đệ tử Thiên Đồng Như Tịnh được một số Thiền sư như Vĩnh Giác Nguyên Hiền, Vi Lâm Đạo Bái dòng Tào Động, núi Cổ Sơn ủng hộ.

Phía lập trường khác như của Thiền sư Vị Trung Tịnh Phù, trong cuốn Phật Tổ Biên Thống thì cho rằng vốn có hai người cùng mang hiệu là Lộc Môn, một người là Lộc Môn Tịnh Nhân, đệ tử của Phù Dung Đạo Khải, một là Lộc Môn Tự Giác. , đệ tử nối pháp của Thiên Đồng Như Tịnh, cả hai từng trụ trì tại cùng một ngôi chùa nhưng sống vào thời gian khác nhau. Nhưng thực chất cả hai người vốn chỉ là một Lộc Môn Tự Giác và nối pháp Phù Dung Đạo Khải. Vị Trung cho rằng chính sử liệu về đệ tử đắc pháp của Lộc Môn Tự Giác là Phổ Chiếu Nhất Biện(1081-1149) đã làm sáng tỏ điều này:

Niên hiệu Trịnh Hòa (1111-1118), Phổ Chiếu Nhất Biện tham học với Lộc Môn Tự Giác tại Hương Châu, Lộc Môn Tự Giác khuyến khích sư đến tham vấn với thầy của Lộc Môn là Phù Dung Đạo Giai, Qua thành phố Đặng Châu, Phổ Chiếu đã có cơ hội đến yết kiến Đan Hà Tử Thuần. Từ 1119-1126, Phổ Chiếu trụ trì tại chùa Thiên Ninh, Thanh Châu, sau đó đến trụ trì tại Hoa Nghiêm tự.....Niên hiệu Hoàng Thống (1141 – 1149), Phổ Chiếu soạn hành trạng cuộc đời và viết phó chúc cho môn đệ và đến ngày thứ 20 thì viên tịch.

Suy luận từ sử liệu này, nếu như Lộc Môn Tự Giác là môn đệ của Thiên Đồng Như Tịnh, thì pháp tử của Lộc Môn là Phổ Chiếu phải sống vào khoảng giữa hoặc cuối thế kỷ 13., vì Thiên Đồng Như Tịnh sống cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13. Theo sử liệu cuộc đời của mình do Phổ Chiếu soạn cho môn đệ trước khi viên tịch, thì Phổ Chiếu từng sống vào đầu hoặc giữa thế kỷ 12, theo như dòng đầu của bản tiểu sử này đề cập. Thì Lộc Môn Tự Giác từng khuyến khích Phổ Chiếu Nhất Biện đến tham học với Phù Dung Đạo Khải, nghĩa là lúc đó Phù Dung vẫn còn sống. Điều này cho thấy rằng Lộc Môn Tự Giác, Phổ Chiếu Nhất Biện, Phù Dung Đạo Khải sống khoảng cùng thời gian này. Vì vậy Vị Trung Tịnh Phù cho rằng Lộc Môn là pháp tử của Phù Dung vì sống cùng một thời gian. Và nếu khảo cứu thêm thời gian của các thế hệ truyền thừa của Phổ Chiếu Nhất Biện-> Đại Minh Tăng Bảo(1114-1171) -> Vương Sơn Tăng Thế -> Tuyết Nham Như Mãn (?-1206)-> Vạn Tùng Hành Tú (1166-1246) ( tác giả Thung Dung Lục, từng là thầy của chính khách đế chế Mông Cổ, Gia Luật Sở Tài) 1190-1243) -> Tuyết Đình Phúc Dụ (1203-1275, từng làm lãnh đạo Phật Giáo, Đạo giáo dưới thời nhà Nguyên) thì càng chứng minh được việc nhận định Lộc Môn Tự Giác là đệ tử của Thiên Đồng Như Tịnh là sai về thời gian, và nếu Lộc Môn là đệ tử của Như Tịnh thì sẽ không xuất hiện các thế hệ sau như Phổ Chiếu Nhất Biện, Đại Minh Tăng Bảo, Vạn Tùng Hành Tú... Nên 5 đời pháp hệ từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh là bị thừa và sai nên được loại bỏ khỏi pháp hệ của Lộc Môn Tự Giác., Lộc Môn Tự Giác chính là đời thứ 9 Tông Tào Động chứ không phải đời thứ 14. Và nếu sửa chữa sự sai lầm này đối với sự truyền thừa Tào Động tại Việt Nam, thì Thiền sư Thông Giác Thủy NguyệtChân Dung Tông Diễn là đời pháp thứ 31 và 32 chứ không phải đời thứ 36, 37 như Thiền sư Việt Nam của HT Thanh Từ, Kế Đăng Lục của Từ Sơn... nhận định.

Cơ DuyênSửa đổi

họ Vương vốn quê ở vùng Thanh Châu, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

Trong khoảng niên hiệu vua Chiêu Thánh nhà Tống (1094-1098), sư đến yết kiết và xuất gia với Thiền sư Phù Dung Đạo Khải

Sau nhiều năm tham học, sư đại ngộ. Cơ duyên ngộ đạo của sư được ghi lại như sau:

Một hôm Thiền sư Phù Dung thăng tòa thuyết pháp và làm bài kệ nêu lại cơ duyên ngộ đạo của Thiền sư Linh Vân Chí Cần:

Ô mai một quả hiện nguyên hình

Chú nhện giăng tơ bắt thanh đình

Thanh đình mắc bẫy rơi đôi cánh

Nực cười ô mai cứng như đinh

Sư nghe xong bất giác khai ngộ, mỉm cười và nói:

Nếu sớm biết ngay đèn là lửa Chắc rằng cơm chín đã từ lâu.

Sau sư được Thiền Sư Phù Dung ấn khả chứng minh. Sau đó, đến năm thứ 4 (1105) niên hiệu Sùng Ninh , sư đến trú trì Phổ Nghiêm Tự ở núi Đại Thừa, Dụ Châu, Phủ Nam Dương,Tỉnh Hà Nam,Trung Quốc.

Sư rời đến Thập Phương Tịnh Nhân Thiền Viện. Vào năm thứ 5 (1115) niên hiệu Chính Hòa, sư dời đến núi Lộc Môn và trụ trì cho đến ngày viên tịch.

Một hôm sư thăng tòa dạy chúng:

Tất cả đại địa là một quyển kinh của người học, hết thảy càn khôn là một con mắt của học nhân, dùng con mắt này đọc kinh ấy, thì nghìn vạn ức kiếp không gián đoạn. Vậy, mọi người hãy xem đã đọc được gì chưa? Nếu ai xem đọc được, lão tăng mời ăn bánh vẽ.

Năm 1117, sư an nhiên thị tịch. Vua ban hiệu là Định Tuệ Thiền Sư.

Tham khảoSửa đổi

  • Phật Tổ Đạo Ảnh(Tập 1,2) do Hoà Thượng Hư Vân và Tuyên Hóa biên soạn.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.