Lai Châu là một thành phố trực thuộc tỉnh Lai Châu, Việt Nam.

Lai Châu

Thành phố trực thuộc tỉnh
Laichautown.jpg
Quảng trường Nhân dân
thành phố Lai Châu
Hành chính
VùngTây Bắc Bộ
TỉnhLai Châu
Phân chia hành chính5 phường, 2
Thành lập
  • 10/10/2004: thành lập thị xã Lai Châu[1]
  • 27/12/2013: thành lập thành phố Lai Châu[2]
Loại đô thịLoại III
Năm công nhận2013
Địa lý
Dân số (2019)
Dân tộcThái, Kinh...
Khác
Biển số xe25-B1

Thành phố nằm ở phía đông tỉnh Lai Châu. Đây là thành phố có dân số chỉ thấp thứ hai tại Việt Nam, xếp trên thành phố Bắc Kạn.

Địa lýSửa đổi

Vị trí địa lýSửa đổi

Thành phố Lai Châu nằm tại toạ độ địa lý 20°20' đến 20°27' vĩ độ Bắc, 103°20' đến 103°32' kinh độ Đông, giáp với huyện Phong Thổ và huyện Tam Đường về phía bắc, giáp huyện Tam Đường ở phía nam, phía đông; giáp huyện Sìn Hồ ở phía tây. Thành phố cách cửa khẩu Ma Lù Thàng (cửa khẩu quốc gia với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) 50 km, cách thị xã Sa Pa (tỉnh Lào Cai) khoảng 70 km, cách Hà Nội khoảng 380 km (qua Thành phố Lào Cai và Thị xã Sa Pa).

Địa hình, địa chấtSửa đổi

 
Hồ Thủy Sơn

Thành phố Lai Châu là một cao nguyên đá vôi có độ cao trung bình gần 1.000 m (điểm thấp nhất gần 895 m, điểm cao nhất gần 1.300 m). Đây là trung tâm tỉnh lỵ có độ cao lớn nhất miền Bắc và thứ hai Việt Nam (sau thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng), chạy dài theo hướng tây bắc xuống đông nam và nằm trong vùng có độ cao lớn nhất cả nước - từ 900 đến trên 2.000 m giữa 2 dãy núi lớn Hoàng Liên Sơn (phía đông) và Pu Sam Cáp (phía tây) dọc theo Quốc lộ 4D. Trong khu vực thành phố Lai Châu và vùng lân cận có nhiều ngọn núi cao từ 1.500 m đến trên 3.000 m, tiêu biểu là đỉnh Bạch Mộc Lương Tử cao 3045m ở phía Bắc và Pu Ta Leng (hay Phu Ta Leng - đỉnh núi cao thứ 2 tại Việt Nam với độ cao 3.096 m. Vào những ngày đẹp trời từ trung tâm thành phố có thể quan sát được khu vực này. Ngoài ra còn rất nhiều đỉn núi cao từ 2000 ~ 3000m.

Địa chất của khu vực thành phố Lai Châu gồm ba tầng đá chính là tầng Vân Nam, tầng Điệp Vân Lục và tầng Điệp Đồng Giao. Trong khu vực thành phố có nhiều hang động karst và các dòng chảy ngầm, thường xảy ra sụt lún, không thuận lợi cho việc xây dựng các công trình cao tầng.

Khí hậuSửa đổi

Thành phố Lai Châu nằm trong vùng Tây Bắc, tuy nhiên do ảnh hưởng nhiều của địa hình và hoàn lưu khí quyển nên nhiệt độ có những nét khác biệt so với khí hậu vùng Tây Bắc nói chung. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 18 °C-19 °C thấp hơn nhiệt độ trung bình của tỉnh Lai Châu (gần 23 °C) và vùng Tây Bắc (khoảng 21 °C-23,5 °C). Vào mùa đông nhiệt độ tương đối thấp nhiều ngày xuống dưới 7 °C, thậm chí dưới 3 °C, nhiệt độ thấp nhất đo được -2 °C (1981). Với lượng mưa khá lớn khoảng 2.600 mm/năm - 2.800 mm/năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 - tháng 8 nên nhiệt độ mùa hè tương đối mát mẻ khoảng 20 °C-29 °C (so với vùng Tây Bắc là 24-35 °C).

Dữ liệu khí hậu của Lai Châu
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 34.3 38.0 39.0 41.0 42.5 39.1 37.5 38.9 38.0 37.0 37.0 34.0 42,5
Trung bình cao °C (°F) 23.4 25.9 29.9 32.4 32.7 31.7 31.3 32.0 31.9 29.9 26.5 23.5 29,3
Trung bình ngày, °C (°F) 17.0 18.7 21.9 24.8 26.4 26.6 26.5 26.6 25.9 23.9 20.4 17.2 23,0
Trung bình thấp, °C (°F) 13.6 14.5 16.7 20.0 22.5 23.9 23.8 23.7 22.6 20.5 17.1 13.9 19,4
Thấp kỉ lục, °C (°F) 3.4 7.1 8.1 12.9 14.1 18.2 20.7 19.1 16.4 10.0 7.5 3.6 3,4
Giáng thủy mm (inch) 27
(1.06)
36
(1.42)
60
(2.36)
135
(5.31)
258
(10.16)
438
(17.24)
467
(18.39)
372
(14.65)
146
(5.75)
91
(3.58)
51
(2.01)
25
(0.98)
2.105
(82,87)
độ ẩm 81.1 76.6 74.7 76.6 80.4 86.2 87.9 86.7 84.5 84.2 84.1 84.0 82,3
Số ngày giáng thủy TB 5.4 5.1 7.4 13.2 19.5 23.8 25.8 22.0 13.0 10.1 6.8 5.7 157,9
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 131 144 186 200 186 120 123 150 164 153 138 131 1.824
Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[3]

Hành chínhSửa đổi

Thành phố Lai Châu có 7 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 5 phường: Đoàn Kết, Đông Phong, Quyết Thắng, Quyết Tiến, Tân Phong và 2 xã: San Thàng, Sùng Phài.

Lịch sửSửa đổi

Trước năm 2002, địa bàn thành phố Lai Châu hiện nay tương ứng với thị trấn Phong Thổ và 3 xã: Nậm Loỏng, Sùng Phài, Tam Đường thuộc huyện Phong Thổ.

Ngày 14 tháng 1 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2002/NĐ-CP chia huyện Phong Thổ thành hai huyện Phong Thổ và Tam Đường[4]. Theo đó, thị trấn Phong Thổ và 3 xã: Nậm Loỏng, Sùng Phài, Tam Đường chuyển sang trực thuộc huyện Tam Đường.

Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11 chia tỉnh Lai Châu cũ thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên[5], huyện Tam Đường thuộc tỉnh Lai Châu mới. Đồng thời, tỉnh lỵ tỉnh Lai Châu đặt tại thị trấn Phong Thổ thuộc huyện Tam Đường.

Ngày 10 tháng 10 năm 2004, Chính phủ ban hành Nghị định 176/2004/NĐ-CP[1]. Theo đó:

  • Thành lập thị xã Lai Châu, thị xã tỉnh lỵ tỉnh Lai Châu trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị trấn Phong Thổ và 2 xã: Nậm Loỏng, Tam Đường; 550 ha diện tích tự nhiên và 1.167 người của xã Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường.
  • Thành lập phường Quyết Thắng trên cơ sở 383,30 ha diện tích tự nhiên và 3.969 người của thị trấn Phong Thổ, 225 ha diện tích tự nhiên và 1.096 người của xã Nậm Loỏng.
  • Thành lập phường Tân Phong trên cơ sở 523 ha diện tích tự nhiên và 4.094 người của thị trấn Phong Thổ, 298 người của xã Nậm Loỏng.
  • Thành lập phường Đoàn Kết trên cơ sở 227,70 ha diện tích tự nhiên và 3.486 người của thị trấn Phong Thổ, 175,30 ha diện tích tự nhiên và 141 người của xã Sùng Phài.
  • Điều chỉnh 374,70 ha diện tích tự nhiên và 1.026 người của xã Sùng Phài về xã Nậm Loỏng quản lý.
  • Đổi tên xã Tam Đường thành xã San Thàng.

Sau khi thành lập, thị xã Lai Châu có 7.083 ha diện tích tự nhiên và 18.089 người với 5 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 3 phường: Đoàn Kết, Quyết Thắng, Tân Phong và 2 xã: Nậm Loỏng, San Thàng.

Lúc này, thị xã Lai Châu cũ (trừ phường Lê Lợi) thuộc địa giới hành chính tỉnh Điện Biên và được đổi tên thành thị xã Mường Lay vào năm 2005.

Ngày 2 tháng 12 năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết 71/NQ-CP[6]. Theo đó:

  • Thành lập phường Đông Phong trên cơ sở 171,26 ha diện tích tự nhiên và 10.211 người của phường Tân Phong; 356,09 ha diện tích tự nhiên và 753 người của xã San Thàng.
  • Thành lập phường Quyết Tiến trên cơ sở 308,66 ha diện tích tự nhiên và 6.834 người của phường Quyết Thắng.

Thị xã Lai Châu có 5 phường và 2 xã trực thuộc.

Ngày 1 tháng 2 năm 2013, thị xã Lai Châu được công nhận là đô thị loại III.[7]

Ngày 27 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 131/NQ-CP thành lập thành phố Lai Châu trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Lai Châu.[2]

Ngày 10 tháng 1 năm 2020, chuyển xã Sùng Phài thuộc huyện Tam Đường về thành phố Lai Châu quản lý và sáp nhập xã Nậm Loỏng vào xã Sùng Phài.

Thành phố Lai Châu có 5 phường và 2 xã như hiện nay.

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi