Sir Lewis Carl Davidson Hamilton[1] (sinh ngày 7 tháng 1 năm 1985[2] tại Stevenage, Hertfordshire, Anh) là tay đua Công thức 1 người Anh. Hamilton là một trong những tay đua vĩ đại nhất trong lịch sử giải đua Công thức 1. Anh đang giữ kỷ lục 7 lần vô địch bằng với huyền thoại Michael Schumacher và độc chiếm những kỷ lục như 100 chiến thắng chặng, 101 pole cùng rất nhiều kỷ lục khác. Mùa giải 2021, Hamilton thi đấu cho đội đua Mercedes.


Lewis Hamilton

MBE 
Lewis Hamilton 2016 Malaysia 2.jpg
Hamilton ở chặng đua 2016 Malaysian Grand Prix
SinhLewis Carl Davidson Hamilton[1]
7 tháng 1, 1985 (36 tuổi)[2]
Stevenage, Hertfordshire, Vương Quốc Anh
Nghề nghiệp
Cha mẹ
  • Anthony Hamilton
  • Carmen Larbalestier
Gia đìnhNicolas Hamilton (em trai)
Sự nghiệp đua xe Công thức 1
Quốc tịchVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland British
Số xe44[note 1]
Số chặng đua tham gia282 (282 starts)
Vô địch7 (2008, 2014, 2015, 2017, 2018, 2019, 2020)
Chiến thắng100
Podium176
Điểm4034.5
Pole101
Fastest lap57
Chặng đua đầu tiên2007 Australian Grand Prix
Chiến thắng đầu tiên2007 Canadian Grand Prix
Chiến thắng cuối cùng2021 Russian Grand Prix
Chặng đua cuối cùngChặng đua GP Thổ Nhĩ Kỳ 2021
Kết quả 20201st (347 pts)
Websitelewishamilton.com
Chữ ký
Signature de Lewis Hamilton png.png

Sự nghiệpSửa đổi

Năm 2007Sửa đổi

Anh tham dự Công thức 1 lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 3 năm 2007 trong đội đua McLaren và giành ngay vị trí thứ 3 chung cuộc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Công thức 1 có một tay đua da màu và hơn nữa còn giành podium.

Năm 2008Sửa đổi

 
Hamilton ăn mừng chức vô địch tại Brasil

Hamilton vô địch thế giới năm 2008 với chỉ 1 điểm nhiều hơn người về nhì Felipe Massa (98 so với 97), là nhà vô địch trẻ nhất (23 tuổi 300 ngày), phá kỉ lục trước đó của Fernando Alonso, cho tới khi kỉ lục này thuộc về Sebastian Vettel vào năm 2010. Chặng đua cuối cùng mùa giải 2008 Grand Prix Brazil chứng kiến những tình huống nghẹt thở chưa từng có trong lịch sử F1. Trước chặng đua này, đối thủ duy nhất tranh chấp chức vô địch với Hamilton, Felipe Massa, kém anh 7 điểm. Nếu Hamilton cán đích ở vị trí thứ 5 trở lên thì chắc chắn anh sẽ vô địch, và anh đã duy trì được vị trí thứ 4 cho đến gần hết cuộc đua, kịch tính xảy ra khi ở vòng 66 trời bắt đầu đổ mưa, lúc này vị trí 4, 5, 6 lần lượt là Hamilton, Sebastian Vettel (Toro Rosso), Timo Glock (Toyota). Các tay đua lần lượt vào pit để thay lốp cho đường ướt, nhưng Glock thì không, nhờ vậy anh đã vươn lên vị trí thứ 4, Hamilton thứ 5, Vettel thứ 6 sau khi ra khỏi pit. Nhưng bất ngờ ở vòng 69 Hamilton đã để Vettel vượt qua, đẩy anh xuống thứ 6, nếu thứ tự này giữ nguyên thì Massa sẽ vô địch chứ không phải Hamilton vì tay đua Brazil đang chạy đầu (bằng điểm nhưng Massa thắng chặng nhiều hơn). Mọi thứ tưởng như đã kết thúc với Hamilton thế nhưng khi chỉ còn cách đích vài trăm mét thì lần lượt Vettel rồi Hamilton lại vượt lên trên Glock (đang chạy thứ 4), kết quả là Hamilton cán đích thứ 5, vừa đủ để vô địch. Việc Glock bị vượt qua là vì anh đã sử dụng lốp khô khi lúc đó trời đã mưa nặng hạt, tay đua của Toyota buộc phải chạy chậm để tránh bị trượt. Massa đã khóc khi tưởng như đã giành được chức vô địch thì lại bị mất trong vài giây cuối cùng của mùa giải.

Năm 2009Sửa đổi

 
Hamilton giành pole tại Valencia năm 2009

Hamilton tiến hành bảo vệ chức vô địch của mình với chiếc xe có nhiều thay đổi do các quy định mới của FIA. Nửa đầu mùa giải là chuỗi thành tích nghèo nàn của Hamilton, khi không một lần anh có mặt trên podium. Mặc dù anh vẫn duy trì phong cách thi đấu máu lửa, nhưng chiếc MP4-24 của McLaren đã không có được sức cạnh tranh trong năm đó, điều đó khiến Hamilton chỉ giành được 2 chiến thắng tại HungarySingapore. Chung cuộc toàn mùa, Hamilton đứng thứ 5 và giành được 49 điểm.

Năm 2010Sửa đổi

 
Hamilton tại Malaysia năm 2010

Một lần nữa, chiếc xe MP4-25 của McLaren dùng trong mùa giải 2010 đã không nhanh bằng chiếc RB6 của đội Red Bull. Những cải tiến liên tục trong suốt mùa giải phần nào giúp nó thu hẹp khoảng cách so với đối thủ, nhưng điều đó cũng chỉ giúp Hamilton có được 3 chiến thắng tại Thổ Nhĩ Kỳ, CanadaBỉ, mặc dù có lúc anh đã dẫn đầu bảng thành tích cá nhân, và vẫn có mặt trong nhóm 4 tay đua cạnh tranh chức vô địch cho tới chặng cuối cùng tại Abu Dhabi. Thành tích toàn mùa của anh là ghi được 240 điểm, xếp thứ 4.

Năm 2011Sửa đổi

 
Chiếc MP4-26 của Hamilton trong mùa giải 2011

Năm thứ hai Hamilton thi đấu bên cạnh tay đua đồng hương Jenson Button. Những thành tích sau vài chặng đầu tiên của mùa giải 2011 đã chứng tỏ chiếc xe mới - MP4-26 - của McLaren đã có bước phát triển khá tốt, hơn hẳn hai năm trước đó, mặc dù đã có rất nhiều lo lắng về tốc độ của nó ở những đợt chạy thử trước mùa giải.

Hamilton đã giành chiến thắng đầu tiên của mùa giải tại chặng đua thứ ba diễn ra tại Trung Quốc, khi anh vượt qua hàng loạt tay đua mạnh trước khi tấn công Sebastian Vettel ở những vòng cuối cùng để bước lên bục cao nhất. Trước đó, tay đua người Anh đã về nhì và tám lần lượt ở AustraliaMalaysia.

Tại chặng đua tiếp theo diễn ra ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hamilton chỉ về đích thứ tư. Ở chặng này, mặc dù xuất phát thứ 4 nhưng anh đã bị Alonso và Button vượt qua ở vòng đầu tiên do mắc lỗi tại cua số 3. Lần vào pit thứ 3 anh lại gặp sự cố khi thay bánh nên tụt xuống thứ 7, nhưng sau đó nhờ chiến thuật 4 lần vào pit giúp anh có bộ lốp mới nên anh đã giành lại vị trí thứ 4 từ tay Button đến khi về đích.

Vòng đua tại Tây Ban Nha sau đó hai tuần chứng kiến sự tiến bộ của chiếc MP4-26 khi Hamilton liên tục bám sát người dẫn đầu Vettel trong nửa sau cuộc đua, nhưng đối thủ của anh đã bảo vệ vững chắc vị trí với một chiếc xe cực mạnh và buộc Hamilton phải về đích thứ hai.

Monaco GP diễn ra sau chặng Tây Ban Nha là một cuộc đua khó khăn cho Hamilton, khi anh không thể thực hiện vòng chạy trong Q3 vì cờ đỏ được phất lên sau pha tai nạn của Perez (Sauber) khi vòng phân hạng còn lại hơn 2 phút, thành tích sau đó của anh cũng không được công nhận do lỗi cắt cua sau khi ra khỏi đường hầm. Hamilton xuất phát thứ 9 ngày Chủ Nhật, anh đã tấn công quyết liệt các tay đua phía trên và đã va chạm với Massa và Maldonaldo khiến hai tay đua này bỏ cuộc. FIA đã phạt Hamilton phải chạy qua pitlane (sự cố với Massa) và cộng thêm 20 giây vào thành tích cuối (sự cố với Maldonaldo), kết quả anh đứng thứ 6 chung cuộc.

Cuộc sống cá nhânSửa đổi

Hamilton sinh ngày 7 tháng 1 năm 1985 ở Stevenage, Hertfordshire, Vương quốc Anh. Anh là con của Anthony Hamilton, một người đàn ông da đen và Carmen Larbalestier một phụ nữ da trắng. Vì thế Hamilton là người có màu da hỗn hợp. Tuy nhiên anh xem mình là một người da đen.

Bố mẹ Hamilton đã ly dị khi anh ấy được 2 tuổi. Sau đó thì anh sống với mẹ và hai người chị em cùng mẹ khác cha tên Samantha và Nicola. Đến năm 12 tuổi, Hamilton chuyển sang sống với bố và mẹ kế Linda cùng người em cùng cha khác mẹ tên Nicolas. Nicolas cũng theo nghiệp đua xe như Hamilton. Hamilton lớn lên với đức tin Giáo hội Công giáo.

Hamilton hiện vẫn chưa lập gia đình. Ở những năm đầu sự nghiệp F1 Hamilton cặp kè với ca sỹ Nicole Scherzinger.

Đầu năm 2021, Hamilton được Nữ hoàng Anh phong tước vị Hiệp Sỹ.

Thống kê thành tíchSửa đổi

Kết quả tổng hợpSửa đổi

Năm Giải đua Đội đua Số chặng Thắng Pole F/lap Podium Điểm Hạng
2001 Formula Renault UK Winter Series Manor Motorsport 4 0 0 0 0 48 7th
2002 Formula Renault UK Manor Motorsport 13 3 3 5 7 274 3rd
Formula Renault 2000 Eurocup 4 1 1 2 3 92 5th
2003 Formula Renault UK Manor Motorsport 15 10 11 9 13 419 1st
British Formula 3 Championship 2 0 0 0 0 0 NC
Formula Renault 2000 Masters 2 0 0 0 1 24 12th
Formula Renault 2000 Germany 2 0 0 0 0 25 27th
Korea Super Prix 1 0 1 0 0 N/A NC
Macau Grand Prix 1 0 0 0 0 N/A NC
2004 Formula 3 Euro Series Manor Motorsport 20 1 1 2 5 69 5th
Bahrain Superprix 1 1 0 0 1 N/A 1st
Macau Grand Prix 1 0 1 0 0 N/A 14th
Masters of Formula 3 1 0 0 0 0 N/A 7th
2005 Formula 3 Euro Series ASM Formule 3 20 15 13 10 17 172 1st
Masters of Formula 3 1 1 1 1 1 N/A 1st
2006 GP2 Series ART Grand Prix 21 5 1 7 14 114 1st
2007 Formula One Vodafone McLaren Mercedes 17 4 6 2 12 109 2nd
2008 Formula One Vodafone McLaren Mercedes 18 5 7 1 10 98 1st
2009 Formula One Vodafone McLaren Mercedes 17 2 4 0 5 49 5th
2010 Formula One Vodafone McLaren Mercedes 19 3 1 5 9 240 4th
2011 Formula One Vodafone McLaren Mercedes 19 3 1 3 6 227 5th
2012 Formula One Vodafone McLaren Mercedes 20 4 7 1 7 190 4th
2013 Formula One Mercedes AMG Petronas F1 Team 19 1 5 1 5 189 4th
2014 Formula One Mercedes AMG Petronas F1 Team 19 11 7 7 16 384 1st
2015 Formula One Mercedes AMG Petronas F1 Team 19 10 11 8 17 381 1st
2016 Formula One Mercedes AMG Petronas F1 Team 21 10 12 3 17 380 2nd
2017 Formula One Mercedes AMG Petronas Motorsport 20 9 11 7 13 363 1st
2018 Formula One Mercedes AMG Petronas Motorsport 21 11 11 3 17 408 1st
2019 Formula One Mercedes AMG Petronas Motorsport 21 11 5 6 17 413 1st
2020 Formula One Mercedes-AMG Petronas F1 Team 16 11 10 6 14 347 1st
2021 Formula One Mercedes-AMG Petronas F1 Team 16 5 3 4 11 256.5* 2nd*
Nguồn:[6][7]

* Mùa giải đang diễn ra.

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Hamilton was the first reigning world champion to decline to run the No. 1, deciding to stay with his old karting No. 44 from 2014.[3] He briefly ran the number 1 on the nose of his car in practice for the 2018 and 2019 Abu Dhabi Grand Prix after winning his fifth and sixth World Championships respectively, but was still officially entered under the number 44 and that figure still appeared on the engine cover.[4][5]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a b Hamilton, Lewis (2007). Lewis Hamilton: My Story. HarperSport. tr. 33. ISBN 978-0-00-727005-7. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Hamilton” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  2. ^ a b Kelso, Paul (20 tháng 4 năm 2007). “Profile: Lewis Hamilton”. The Guardian. London. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2008. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “Kelso” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ “Hamilton to keep 44 as car number”. GP Update. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014.
  4. ^ “World champion Hamilton runs number 1 on his Mercedes in Abu Dhabi”. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2018.
  5. ^ Horton, Phillip (29 tháng 11 năm 2019). “Lewis Hamilton sports #1 during Abu Dhabi GP FP1”. motorsportweek.com. Motorsport Week. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019.
  6. ^ “Career overview – years in numbers”. driverdb.com. Driver Database. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2019.
  7. ^ “Lewis Hamilton – Biography”. MotorSportMagazine. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2019.

Liên kết ngoàiSửa đổi