Mở trình đơn chính

Liverpool F.C.

câu lạc bộ bóng đá có trụ sở tại Liverpool, Anh
(đổi hướng từ Liverpool FC)

Câu lạc bộ bóng đá Liverpool (tiếng Anh Liverpool Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh, có trụ sở tại thành phố Liverpool, hạt Merseyside; hiện đang chơi tại giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Liverpool là một trong những câu lạc bộ thành công nhất nước Anh, họ đã 18 lần vô địch nước Anh, giành được 7 Cúp FA, 8 Cúp Liên đoàn Anh, 15 Siêu cúp Anh, 6 UEFA Champions League (Cúp C1), 3 UEFA Europa League (Cúp C2) và 4 Siêu cúp châu Âu.

Liverpool
Dòng chữ "Liverpool Football Club" ở trung tâm nền cờ với hai ngọn lửa hai bên. Dòng chữ màu xanh "You'll Never Walk Alone" trang hoàng ở phía trên biểu tượng, "EST 1892" ở dưới cùng
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Liverpool
Biệt danhLữ đoàn đỏ (tiếng Anh: The Reds)
Tên ngắn gọnLFC
Thành lập3 tháng 6, 1892; 127 năm trước[1]
Sân vận độngSân vận động Anfield
Sức chứa sân54.074[2]
Chủ sở hữuTập đoàn Thể thao Fenway
Chủ tịch điều hànhTom Werner
Người quản lýJürgen Klopp
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2018–19Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, 2 trên 20
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách
Màu áo thứ ba
Mùa giải hiện nay

Liverpool được thành lập vào năm 1892 và lên chơi ở giải cấp quốc gia trong năm kế tiếp. Đội đã sử dụng sân nhà Anfield từ khi thành lập cho đến nay. Đội thi đấu rất thành công trong thập niên 70 và 80, dưới thời các huấn luyện viên Bill ShanklyBob Paisley, họ đã giành được 11 chức vô địch quốc gia cùng 7 danh hiệu châu Âu.

Liverpool có lượng cổ động viên hùng hậu và rất trung thành. Những kình địch lâu đời của họ là đội bóng hàng xóm Everton và đội Manchester United. Bài hát truyền thống của đội là "You'll Never Walk Alone" (tạm dịch: "Bạn sẽ không bao giờ bước đi đơn độc"). Cầu thủ Liverpool lần đầu mặc trang phục thi đấu toàn bộ đỏ vào năm 1964, khi huấn luyện viên Bill Shankly cho rằng màu đỏ sẽ gây tác động đến tâm lý đối phương.

Đội bóng có mặt trong hai sự kiện đáng buồn của bóng đá châu Âu. Đầu tiên là thảm họa tại sân Heysel vào năm 1985, nhiều cổ động viên Liverpool quá khích đã tấn công cổ động viên Juventus khiến một bức tường khán đài sập xuống, gây ra cái chết của 39 người. Năm 1989, đến lượt thảm họa thứ hai là Hillsborough khi 96 cổ động viên Liverpool đã thiệt mạng do bị xô đẩy dồn ép vào dải rào ngăn cách giữa khán đài và sân cỏ.

Mục lục

Lịch sử

Những mùa giải đầu tiên

Câu lạc bộ bóng đá Liverpool được thành lập sau một cuộc tranh cãi trong nội bộ ủy ban câu lạc bộ Everton. Everton thuê sân Anfield trong 8 năm bắt đầu từ năm 1884. Tới năm 1891, John Houlding, chủ tịch Everton đồng thời là người đứng tên hợp đồng thuê sân Anfield, mua lại và làm chủ sân này. Sau đó, vì có bất đồng với Houlding nên các thành viên còn lại của Everton đành di chuyển đến một sân vận động khác là Goodison Park, nằm ở phía bắc công viên Stanley. Chỉ còn lại ba cầu thủ và một sân bóng trống không, John Houlding quyết định tự thành lập cho mình một đội bóng vào ngày 15 tháng 3 năm 1892.[3]

Câu lạc bộ Liverpool được thành lập và chơi tại sân Anfield đang bỏ trống. Tên ban đầu là Everton F.C. and Athletic Grounds, Ltd (gọi tắt là Everton Athletic), nhưng sau đó được đổi thành Liverpool Football Club vào tháng 3 năm 1892 do Liên đoàn bóng đá Anh từ chối công nhận cái tên Everton và được công nhận chính thức ba tháng sau đó.[4]

Liverpool đã lọt vào chung kết FA Cup đầu tiên vào năm 1914, thua 1-0 trước Burnley. Câu lạc bộ vô địch Giải Hạng nhất hai năm liên tiếp vào các mùa 1921-221922-23, nhưng sau đó không vô địch danh hiệu nào cho tới 1946-47, khi họ vô địch giải quốc gia lần thứ năm.[5] Câu lạc bộ vào đến trận chung kết Cúp FA 1950 nhưng thua Arsenal.[6] Liverpool bị xuống hạng Nhì vào mùa giải 1953-54.[7] Trong giai đoạn này họ đã phải chịu một trận thua 2-1 ở Cúp FA trước đội bóng ít tên tuổi Worcester City, mùa 1958-59 thì Bill Shankly được bổ nhiệm làm HLV trưởng.

Đội bóng vô địch Giải Lancashire trong mùa giải đầu tiên, và được lên chơi ở Giải bóng đá Hạng nhì Anh trong mùa giải sau đó. Họ tiếp tục vô địch và được thăng hạng lên Giải bóng đá Hạng nhất Anh (hay còn được gọi là giải vô địch quốc gia; từ năm 1992 đến nay, tên chính thức là Giải bóng đá Ngoại hạng Anh). Họ vô địch Giải Hạng nhất lần đầu vào mùa giải 1900-01, và vô địch lần nữa vào mùa 1905-06.[8] Họ vào tới trận chung kết Cúp FA 1914 nhưng thua 1-0 trước Burnley.

Dưới thời Bill Shankly và Bob Paisley

 
Bức tượng đài Bill Shankly bên ngoài Anfield

Không lâu sau kết quả mất mặt này, Bill Shankly được bổ nhiệm làm huấn luyện viên, lúc này Liverpool đang suy yếu, với trang thiết bị luyện tập cũ nát, đội ngũ ban huấn luyện kém cỏi. Ông đã sa thải 24 cầu thủ và thay đổi một phòng ở Anfield, ban đầu được dùng để khởi động thành một phòng gọi là Boot Room, nơi các cầu thủ cùng huấn luyện viên có thể bàn bạc chiến thuật và uống trà. Tại đây, Shankly cùng các thành viên ban đầu của Boot Room, gồm Joe Fagan, Reuben BennettBob Paisley, bắt đầu cải tổ lại đội bóng.[9]

Lên lại Giải Hạng nhất vào mùa giải 1961-62, và vô địch lần đầu tiên sau 17 năm vào mùa 1963-64. Mùa 1965-66, họ vô địch Giải Hạng nhất rồi đoạt Cúp FA đầu tiên, nhưng sau đó thua trước Borussia Dortmund trong trận chung kết Cúp các đội đoạt cúp.[10] Mùa giải 1972-73 đội bóng vô địch Giải Hạng nhất, đoạt Cúp UEFA - đây là cúp châu Âu đầu tiên trong lịch sử đội bóng, và tiếp đó 1973-74 đoạt Cúp FA. Sau 15 năm dẫn dắt đạt được nhiều thành công, đưa Liverpool trở thành một trong những câu lạc bộ hàng đầu châu Âu, tháng 7 năm 1974, Shankly tuyên bố nghỉ hưu, ông rời đội bóng và trợ lý Bob Paisley lên thay.[11]

Paisley thậm chí còn đạt được nhiều thành công hơn Shankly khi giúp đội bóng vô địch Giải Hạng nhất và Cúp UEFA ngay trong mùa giải 1975-76 - mùa thứ hai ông làm huấn luyện viên. Mùa tiếp đó, họ bảo vệ thành công danh hiệu vô địch Giải Hạng nhất, đoạt được cúp vô địch châu Âu (Cúp C1) đầu tiên trong lịch sử đội bóng, nhưng để thua trong trận chung kết Cúp FA, bỏ lỡ cơ hội đoạt cú ăn ba. Mùa 1977-78, Liverpool bảo vệ thành công ngôi vô địch Cúp C1 và vô địch Giải Hạng nhất lần nữa với số điểm 68, chỉ để thủng lưới 16 bàn trong 42 trận.[12]

Trong 9 mùa bóng Paisley dẫn dắt đội bóng, Liverpool đã vô địch 21 danh hiệu, bao gồm: 3 Cúp C1, 1 Cúp UEFA, 6 chức vô địch Giải Hạng nhất, 3 Cúp Liên đoàn cùng nhiều danh hiệu khác. Danh hiệu duy nhất ông không giành được là Cúp FA.[13] Kỉ nguyên của Paisley là kỉ nguyên của các ngôi sao lớn: Graeme Souness, Ian Rush, Alan HansenKenny Dalglish.

Paisley rời băng ghế huấn luyện vào năm 1983 và (cũng giống như Shankly đã làm) để lại chiếc ghế huấn luyện cho thành viên của Boot Room, trợ lý huấn luyện viên Joe Fagan.[14] Liverpool có được ngay 3 danh hiệu trong mùa giải 1983-84 - mùa đầu tiên Fagan tiếp quản, gồm: Giải Hạng nhất, Cúp Liên Đoàn và Cúp C1, trở thành đội bóng Anh đầu tiên giành được cú ăn ba trong một mùa giải.[15] Liverpool chơi trận chung kết Cúp C1 lần nữa vào ngày 29 tháng 5 năm 1985, trận gặp Juventus trên sân vận động Heysel, thành phố Brussels, nước Bỉ.

Những thảm họa

 
Thảm họa Hillsborough.

Trước khi trận chung kết bắt đầu, nhiều cổ động viên Liverpool chủ động tấn công cổ động viên Juventus bằng chai lọ rồi tràn qua phần khán đài của họ. Kết quả nhiều cổ động viên Juventus bị dồn vào một bức tường khiến bức tường này đổ sập, giết chết 39 người trong số họ, hầu hết là cổ động viên người Ý. Trận đấu sau đó vẫn diễn ra và Liverpool thua 1-0 bởi bàn thắng phạt đền của Michel Platini ở phút 57. Các đội bóng Anh sau đó đã bị cấm thi đấu ở các giải châu Âu trong 5 năm, Liverpool nhận mức phạt 10 năm, sau đó được giảm xuống còn 6 năm. 14 cổ động viên Liverpool phải nhận mức án 3 năm tù cho tội ngộ sát.[16] Thảm họa này được gọi là "Giờ đen tối nhất trong lịch sử các cuộc đấu UEFA".[17]

 
Đài tưởng niệm Hillsborough khắc tên 96 người đã chết trong thảm họa Hillsborough.

Fagan từ chức ngay sau thảm hoạ và Kenny Dalglish được bổ nhiệm trên cương vị huấn luyện viên kiêm cầu thủ.[18] Trong thời gian ông nắm quyền, đội bóng 3 lần vô địch Giải Hạng nhất và đoạt 2 Cúp FA, bao gồm một cú ăn hai vào mùa giải 1985-86.

Chỉ 4 năm sau thảm họa Heysel, năm 1989, thêm một thảm họa khác liên quan đến cổ động viên của Liverpool xảy ra. Trong trận bán kết Cúp FA gặp Nottingham Forest tại sân Hillsborough ngày 15 tháng 4 năm 1989, sân quá tải khiến nhiều người bị dồn ép vào hàng rào ngăn cách giữa khán đài và sân cỏ, giẫm đạp lên nhau trong vô vọng.[19] 94 cổ động viên đã thiệt mạng vào ngày hôm đó. Bốn ngày sau, số người thiệt mạng là 95 khi một cậu bé 14 tuổi qua đời. Bốn năm sau, tới lượt cổ động viên thứ 96 qua đời trên giường bệnh sau một thời gian dài sống thực vật.[20] Sau thảm họa này, chính quyền đã phải kiểm tra mức độ an toàn của các sân bóng. Theo như Báo cáo Taylor (Taylor Report), nguyên nhân chính của thảm hoạ là do sự quá tải dẫn tới việc cảnh sát không thể kiểm soát được tình hình.[21]

Một luật lệ đã được ban hành và mọi sân vận động ở giải đấu vô địch nước Anh phải dỡ bỏ hàng rào ngăn cách giữa khán đài và sân cỏ, các khán đài phải được phủ kín bởi ghế ngồi. Mùa giải 1988-89 cũng chứng kiến Liverpool bị mất chức vô địch Hạng nhất một cách bất ngờ nhất kể từ khi giải đấu ra đời, khi câu lạc bộ mất danh hiệu bởi hiệu số bàn thắng-thua vào đúng phút cuối của mùa giải, trong trận thua trước chính nhà vô địch mùa đó là Arsenal.[22]

Dưới thời Souness và Houllier

Ngày 22 tháng 2 năm 1991, Dalglish bất ngờ tuyên bố từ chức, người thay thế ông là Graeme Souness.[23] Ngoại trừ Cúp FA vào năm 1992, Souness không giành thêm được thành công nào và bị thay thế bởi cựu thành viên Boot Room Roy Evans. Evans đạt được một chút thành công: chức vô địch Cúp Liên đoàn năm 1995 là danh hiệu duy nhất của ông. Điểm sáng nữa là chiến thắng 4-3 trước Newcastle United ở Anfield ngày 3 tháng 4 năm 1996 được đánh giá là trận đấu hay nhất của Giải Ngoại hạng trong 10 năm.

Trong giai đoạn này, Liverpool sử dụng nhiều cầu thủ trẻ do họ tự đào tạo và xây dựng một lối chơi tấn công đẹp mắt. Đặc biệt là bộ ba Spice Boys gồm: Steve McManaman, Jamie RedknappRobbie Fowler, sau đó được bổ sung thêm các nhân tố tấn công như Patrik Berger, Stan Collymore và đặc biệt là tiền đạo trẻ tuổi Michael Owen.

Trong khi họ thực hiện một số thách thức danh hiệu dưới thời Evans, kết thúc ở vị trí thứ ba vào năm 1996 và 1998 là điều tốt nhất họ có thể thực hiện, Gérard Houllier được bổ nhiệm là đồng huấn luyện viên cùng Roy Evans vào mùa giải 1998-99, nhưng được toàn quyền dẫn dắt sau khi Evans từ chức vào tháng 11 năm 1998.[24] Trong năm 2001, Liverpool giành được giành được cú ăn ba gồm: Cúp FA, Cúp Liên đoàn và Cúp UEFA; cùng 2 danh hiệu khác là Siêu cúp châu ÂuSiêu cúp Anh.[25] Houllier phải thực hiện một ca phẫu thuật tim trong mùa giải 2001-02 và Liverpool về đích vị trí thứ nhì tại Giải Ngoại hạng, sau Arsenal.[26] Mùa 2002-03, họ giành được thêm Cúp Liên đoàn nhưng tới mùa sau đó thì không đoạt bất kì danh hiệu nào, và lối chơi trong giai đoạn này cũng không thuyết phục.

Thời hoàng kim Benitez và sau đó

Khi Benitez lên dẫn dắt đội bóng, hàng loạt cầu thủ Tây Ban Nha đã đến Anfield chơi bóng, có thể kể đến những tên tuổi như Xabi Alonso, Luis García. Tại Giải ngoại hạng Anh, Liverpool thi đấu không thực sự tốt, họ xếp thứ 5 chung cuộc trên bảng xếp hạng vào cuối mùa. Ở cúp FA, câu lạc bộ cũng lọt đến trận chung kết gặp Chelsea, nhưng thất bại 2-3 sau 120 phút thi đấu. Câu lạc bộ cũng sớm bị loại khỏi Cúp liên đoàn sau khi bất ngờ để thua Burnley với tỉ số 0-1. Cúp châu Âu là danh hiệu duy nhất mà họ giành được trong mùa giải. Ở vòng bảng Lữ đoàn Đỏ xếp thứ 2 sau câu lạc bộ AS Monaco. Sau đó Liverpool lần lượt vượt qua các đối thủ Bayer Leverkusen, Juventus, và trả được món nợ tại trận chung kết Cúp FA khi loại Chelsea để tiến vào trận chung kết gặp AC Milan. Trận chung kết diễn ra trên đất Thổ Nhĩ Kỳ. Đây được xem là đêm Istanbul huyền thoại, khi chỉ trong hiệp 1, Liverpool đã để lọt lưới 3 bàn, và trong hiệp 2, Đội bóng đến từ thành phố cảng đã gỡ hòa 3-3, qua đó cầm chân Milan vào loạt sút luân lưu. Trên chấm luân lưu, Liverpool đã giành chiến thắng với tỉ số 3-2, qua đó lần thứ 5 lên ngôi vô địch châu Âu.

Mùa tiếp theo, Liverpool đứng vị trí thứ 3 với 82 điểm, số điểm cao nhất mà họ giành được kể từ năm 1988. Họ vô địch Cúp FA bằng việc đánh bại West Ham United trên chấm luân lưu sau khi hiệp chính kết thúc với tỉ số 3-3.

Benitez đã thực hiện những cuộc cải cách khi giảm dần nhân tố Đông Âu trong đội hình của Liverpool bằng việc loại bỏ những cầu thủ như Milan Baros, Dudek, Vladimír Šmicer... thay vào đó ông chiêu mộ nhiều cầu thủ gốc La-tinh như Luis Garcia, Fabio Aurelio, Javier Mascherano, Xabi Alonso.... và đặc biệt là tiền đạo Fernando Torres; xây dựng lối chơi tấn công dựa trên bộ đôi Gerrard-Torres. Sự thay đổi này đã được báo giới đặt tên là Rafalution, một cách chơi chữ của từ revolution, nghĩa là cuộc cách mạng của Rafa.

Mùa giải 2006-07, đội bóng tìm kiếm những nguồn đầu tư mới và hai doanh nhân người Mĩ là George GilletTom Hicks đã tới mua lại đội bóng với mức giá 218,9 triệu bảng.[27] Năm đó, họ cũng vào tới trận chung kết Cúp C1, nhưng thua 2-1 trước đội bóng mà họ đã đánh bại trong trận chung kết Cúp C1 2005 AC Milan.[28] Kết thúc mùa giải 2008-09, Liverpool đứng ở vị trí thứ nhì sau Manchester United, giành được 86 điểm - số điểm cao nhất mà họ từng giành được kể từ khi giải đấu mang tên Giải Ngoại hạng.[29]

Giai đoạn này, Liverpool tuy không giành được nhiều danh hiệu nhưng họ đã chơi tốt tại đấu trường châu Âu. Họ có những trận đấu đẹp, kịch tích và những chiến thắng thuyết phục trước các đội bóng lớn của châu Âunước Anh, làm mưa làm gió trong giai đoạn này. Báo chí thường nhắc đến họ với cái tên "Vua đấu cúp".

Mùa giải 2009-10, câu lạc bộ không đoạt được bất kì danh hiệu nào và thất bại trong việc tìm một suất dự cúp C1 với vị trí thứ 7 Giải Ngoại hạng. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự ra đi của Rafael Benitez vào sau mùa giải này.[30] Roy Hodgson lên dẫn dắt, nhưng chiến thuật của ông không phù hợp khiến đội bóng liên tục nằm ở nửa dưới bảng xếp hạng và các chủ nợ của câu lạc bộ đã yêu cầu Tòa án tối cao cho phép bán câu lạc bộ, vượt qua mong muốn của Hicks và Gillett. Tháng 10 năm 2010 cũng đánh dấu các sự kiện: chia tay với nhà tài trợ Carlsberg sau nhiều năm hợp tác và John W. Henry chủ sở hữu của Boston Red Sox và của Fenway Sports Group mua lại câu lạc bộ.

Ngày 8 tháng 1 năm 2011, Roy Hodgson rời Liverpool bằng "thoả thuận đôi bên", người thay thế ông là Kenny Dalglish, đúng như nguyện vọng của nhiều cổ động viên. Dalglish giúp Liverpool chấm dứt chuỗi 6 năm không danh hiệu với việc vô địch Cúp Liên đoàn 2012. Tuy nhiên, sau khi đội bóng kết thúc Giải Ngoại hạng 2011-12 ở vị trí thứ 8, tệ nhất trong 18 năm, Dalglish bị sa thải vào tháng 5 năm 2012.[31] Kết thúc cuộc tìm kiếm vị huấn luyện viên trưởng thay thế Kenny Dalglish, Brendan Rodgers được lựa chọn. Ông rất thành công với Swansea City mùa giải trước đó và hứa hẹn sẽ đưa lối chơi Tiqui-Taca dựa trên khả năng cầm giữ bóng tốt đến Liverpool. Mùa giải đầu tiên ông dẫn dắt, Liverpool kết thúc ở vị trí thứ bảy giải Ngoại hạng và vào được vòng 32 đội ở đấu trường Europa League. Mùa tiếp đó, Liverpool có được bước tiến vượt bậc về thứ hạng khi họ cán đích chỉ ở sau nhà vô địch Manchester City và ghi được 101 bàn thắng, tốt nhất kể từ mùa giải 1895-1896 với 106 bàn, đồng thời họ có được suất dự cúp C1 lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi.[32]

Mùa giải 2014-15 là mùa giải thứ ba của Brendan Rodgers, Liverpool thi đấu không thật sự tốt khi bị loại ở vòng bảng UEFA Champions League khi kết thúc với vị trí thứ 3 và xuống chơi ở Europa League, câu lạc bộ cũng không mấy thành công. Còn ở giải ngoại hạng, Liverpool đứng ở vị trí thứ 8, đây là năm trắng tay thứ 3 liên tiếp. Niềm an ủi duy nhất với Lữ đoàn đỏ là chiếc vé dự Europa League thay cho nỗi buồn về thành tích thi đấu hay sự ra đi của huyền thoại đội trưởng Steven Gerrard.

Mùa giải 2015-16, mặc dù đã đổ vào thị trường chuyển nhượng hàng chục triệu bảng đem về những tân binh chất lượng như Roberto Firmino, Christian Benteke, nhưng kết quả vẫn nối tiếp sự thất vọng của mùa trước với những thành tích bạc nhược, sau 10 trận gần nhất chỉ thắng được 1, Brendan Rodgers đã bị sa thải ngay sau khi kết thúc trận đấu derby Merseyside ở vòng 8 với Everton. Thay thế ông là cựu huấn luyện viên của Dortmund, ông Jürgen Klopp.

"Kỷ nguyên" Jürgen Klopp

Ngày 9 tháng 10 năm 2015, trang chủ của Liverpool thông báo đội bóng đã bổ nhiệm chiến lược gia người Đức, Jürgen Klopp làm huấn luyện viên trưởng sau khi sa thải HLV Brendan Rodgers. Liverpool đã có những dấu hiệu khởi sắc dưới thời tân HLV người Đức. Họ có những chiến thắng hủy diệt trước Chelsea (3-1), Manchester City (4-1) ở EPL và Southampton (6-1) ở Cúp liên đoàn Anh trong mùa giải 2015-16.

Ngày 15 tháng 4 năm 2016, Liverpool tiếp đón Dortmund trong khuôn khổ lượt về tứ kết Europa League với lợi thế trận hòa 1-1 ở lượt đi. Trận đấu đầy cảm xúc làm gợi lại đêm Istanbul huyền diệu khi Liverpool đã lội ngược dòng thành công với tỉ số 4-3 sau khi bị dẫn trước 2-0 từ rất sớm, nhưng kể từ phút thứ 57, thời điểm Marco Reus nâng tỉ số lên thành 3-1 The Kop đã chơi một thứ bóng đá đầy cảm xúc, một trận đấu xứng đáng được ghi vào lịch sử CLB. Tại bán kết Liverpool gặp câu lạc bộ đến từ Tây Ban Nha, Villarreal. Tại trận lượt đi mặc dù thi đấu tốt nhưng The Kop phải đón nhận bàn thua ở những phút chót và đành chấp nhận thất bại 0-1. Tuy nhiên ở trận lượt về, Liverpool của Klopp đã thi đấu xuất sắc để lật ngược tình thế với chiến thắng cách biệt 3-0 để tiến vào trận chung kết trước khi để thua một câu lạc bộ khác của Tây Ban Nha là Sevilla với tỉ số 1-3. Dù thất bại ở 2 trận chung kết, nhưng Jürgen Klopp đã chiếm nhiều cảm tình từ phía người hâm mộ bằng một lối chơi kỷ luật và đầy máu lửa.

Vào tháng 7 năm 2016, Liverpool thông báo đã gia hạn với huấn luyện viên Jürgen Klopp thêm 6 năm, hợp đồng sẽ mãn hạn vào hè năm 2022. Trước đó, CLB đã sở hữu bản hợp đồng trị giá 30 triệu bảng từ Southampton, tiền đạo Sadio Mané.

Tháng 6 năm 2017, câu lạc bộ đã chiêu mộ thành công cầu thủ người Ai Cập Mohamed Salah từ A.S. Roma với mức giá chuyển nhượng 42 triệu Euro. Mùa giải 2017-18, nhờ sự xuất sắc của bộ ba Salah - Firmino - Mané, Liverpool đứng thứ tư chung cuộc ở giải ngoại hạng. Còn ở đấu trường Champions League, đội bóng đã lần lượt vượt qua Porto, Man CityA.S. Roma để vào đến trận chung kết gặp đối thủ là Real Madrid. Tuy nhiên, The Kop lại để thua trong một trận chung kết cúp châu Âu trước một đại diện đến từ La Liga với tỉ số 1-3. Người ghi bàn thắng duy nhất cho Liverpool là Sadio Mané.

Đến mùa giải 2018-2019, Liverpool xuất sắc sau khi bỏ xa Manchester City tận 7 điểm để nắm chắc ngôi đầu nhưng sau đó là hàng loạt cú sẩy chân trong tháng 3 khiến họ rơi xuống vị trí thứ 2. Liverpool về nhì với 97 điểm, số điểm cao nhất trong lịch sử của đội bóng này nhưng vẫn ít hơn đội vô địch là Manchester City với 98 điểm. Tại Champions League, đội bóng lần lượt vượt qua Bayern Munich, Porto và Barcelona. Trận gặp Barcelona tại lượt về bán kết Champions League là một trong những trận đấu ngược dòng kinh điển của lịch sử Champions League. Sau khi để thua lượt đi tại Nou Camp với tỉ số (3-0). Đội bóng đã ngược dòng không tưởng tại trận lượt về tại Anfield với tỉ số (4-0), bởi cú đúp của OrigiGeorginio Wijnaldum để vào đến trận chung kết gặp đối thủ cùng quốc gia là Tottenham. Ở trận chung kết diễn ra tại thành phố Madrid, với hai pha lập công của Salah (phút thứ 2) và Origi (phút thứ 87) đã giúp Liverpool đánh bại đối thủ, qua đó mang về danh hiệu đầu tiên dưới thời Jürgen Klopp và là danh hiệu thứ 6 cho đội bóng tại đấu trường này.[33][34]

Tóm tắt hoạt động

 
Tóm tắt lịch sử Liverpool

Màu áo và biểu trưng

 
Áo sân nhà của Liverpool giai đoạn 1892–1896, bên cạnh là giấy chứng nhận đổi tên đội bóng[35]

Vào thời kì đầu, khi đội bóng tiếp quản sân Anfield từ tay Everton, họ dùng màu áo của Everton là xanhtrắng. Năm 1896, Liverpool chọn trang phục thi đấu chính thức là áo đỏ và quần trắng.[3] Họ vẫn sử dụng nó trong hơn 60 năm tiếp theo. Màu tất đã được thay đổi nhiều lần trong những năm đó: từ đỏ, sang đen, tới trắng rồi trở lại đỏ. Biểu trưng Liver bird bắt đầu được gắn trên ngực trái áo đấu vào năm 1955. Tới năm 1964, huấn luyện viên Bill Shankly quyết định để các cầu thủ mặc trang phục toàn bộ đỏ lần đầu tiên trong trận gặp R.S.C Anderlecht,[36] và Ian St. John đã nói lại điều này trong cuốn tự truyện của ông: Shankly nghĩ rằng màu sắc sẽ tác động tới tâm lý - màu đỏ cho nguy hiểm, màu đỏ cho sức mạnh.

"Trận đấu đối đầu với Anderlecht tại Anfield đúng là một đêm đáng nhớ. Chúng ta đã lần đầu tiên được mang bộ đồng phục đỏ. Chúa ơi, những cầu thủ lớn. Và chúng ta cũng chơi theo kiểu cầu thủ lớn".[37]

Trang phục sân khách từng được sử dụng nhiều hơn cả là áo trắng hoặc vàng với quần đen, nhưng cũng có một vài ngoại lệ. Bộ trang phục màu xám được giới thiệu lần đầu vào năm 1987, và họ sử dụng nó cho tới mùa giải kỉ niệm 100 năm thành lập câu lạc bộ 1991–92, nó bị thay thế bởi bộ trang phục kết hợp giữa hai màu xanh lá cây và trắng. Sau nhiều lần thay đổi màu sắc trong những năm 1990, bao gồm vàng và màu hải quân, vàng sáng, đen và xám, và xám - vàng nhạt. Câu lạc bộ đã luân phiên sử dụng những bộ trang phục sân khách màu vàng và trắng cho tới mùa giải 2008–09, khi trang phục màu xám được sử dụng lại. Trang phục phụ được thiết kế dành cho các giải châu Âu, nhưng đôi khi được dùng tại các giải đấu quốc nội khi màu trang phục sân khách trùng với màu của đội chủ sân. Tháng 1 năm 2012, câu lạc bộ công bố bản hợp đồng với hãng thể thao Warrior Sports để được nhận tài trợ 25 triệu £/1 mùa và sản xuất trang phục thi đấu trong vòng 6 năm, bắt đầu từ mùa giải 2012-13. Vào tháng 2 năm 2015, công ty mẹ của Warrior, New Balance tuyên bố sẽ tham gia vào thị trường bóng đá toàn cầu, với các đội được Warrior tài trợ hiện đang được New Balance trang bị. Trước đó, tài trợ trang phục là hãng Adidas từ năm 2006 đến năm 2012, hãng này cũng đã tài trợ trong giai đoạn 1985-1996.[38] Giai đoạn 1973-1985, trang phục tài trợ bởi Umbro và giai đoạn 1996-2006 bởi Reebok.[39]

 
Một phiên bản huy hiệu Liverpool treo trên cổng Shankly.

Biểu trưng của Liverpool gồm hình con chim Liver bird (biểu trưng thành phố Liverpool, được chọn làm biểu trưng đội bóng vào năm 1901), được đặt bên trong hình một tấm khiên. Năm 1992, để kỉ niệm 100 năm thành lập, câu lạc bộ giới thiệu mẫu biểu trưng mới, thêm vào ở phía trên tấm khiên hình tượng trưng cho cánh cổng Shankly với dòng chữ "YOU'LL NEVER WALK ALONE" ("Bạn sẽ không bao giờ bước đi đơn độc"). Hai ngọn lửa tượng trưng cho đài tưởng niệm Hillsborough được thêm trong năm tiếp đó.[40] Năm 2012, biểu trưng trên bộ trang phục mới do hãng Warrior Sports thiết kế đã loại bỏ tấm khiên và cánh cổng Shankly, trở về hình Liver bird giống những năm 1970; hai ngọn lửa được chuyển ra sau cổ áo, ở hai bên số 96, số người chết do thảm họa Hillsborough.[41]

Nhà tài trợ

Liverpool là đội bóng chuyên nghiệp đầu tiên ở Anh in biểu trưng nhà tài trợ trên áo, sau khi họ đồng ý in tên hãng Hitachi vào năm 1979.[42] Kể từ đó họ được tài trợ bởi Crown Paints, Candy, Carlsberg và hiện nay là ngân hàng Standard Chartered. Hợp đồng với Carlsberg được ký vào năm 1992 và kết thúc năm 2010 - là bản hợp đồng lâu nhất trong lịch sử bóng đá Anh.[43]

 
Nhà tài trợ

Nhà tài trợ chính

Nhà tài trợ trang phục (ngực áo)

Nhà tài trợ trang phục (tay áo)

Khoản tiền tài trợ trang phục

Nhà tài trợ trang phục Ký kết hợp đồng Thời gian hợp đồng Gia trị Ghi chú
Warrior Sports
18/01/2012
2012–2015 (3 năm) 25 triệu bảng một năm Hạn hợp đồng ban đầu: 2012-2018 (6 năm)

Nhưng đã được New Balance tiếp quản vào cuối mùa giải 2014-2015.

New Balance
05/02/2015
2015–2020 (5 năm) 45 triệu bảng một năm

Sân vận động

Bài chi tiết: Anfield

Liverpool đã chơi trên sân Anfield từ khi được thành lập vào năm 1892. Anfield được xây năm 1884 trên mảnh đất gần công viên Stanley, ban đầu được sử dụng bởi Everton nhưng sau đó Everton chuyển câu lạc bộ đến công viên Goodison sau mối bất hòa với chủ sân Anfield. Họ rời khu đất vào năm 1892,[44] rồi người chủ của Anfield là John Houlding, quyết định sẽ thành lập một đội bóng mới chơi trên sân này. Sức chứa của sân lúc đó là khoảng 20.000 người, mặc dù chỉ có khoảng 100 cổ động viên đến xem trận đấu đầu tiên của Liverpool tại sân.[45]

Năm 1906, câu lạc bộ thuê kiến trúc sư Archibald Leitch để thiết kế xây dựng và nâng cấp lại sân Anfield. Khán đài ở cuối sân được đổi tên thành Spion Kop, theo tên một ngọn đồi ở KwaZulu-Natal, Nam Phi,[46] ngọn đồi này là nơi diễn ra trận Spion Kop trong cuộc chiến tranh với người Nam Phi gốc Hà Lan lần thứ hai, khoảng 300 người vùng Lancashire đã tử trận vào ngày 24 tháng 1 năm 1900, phần lớn trong số họ đến từ thành phố Liverpool.[47] Trong lịch sử, khán đài The Kop từng có thể chứa khoảng 28,000 chỗ ngồi và là một trong những khán đài lớn nhất thế giới. Nhiều sân vận động ở Anh khác cũng đặt tên khán đài mình là Spion Kop, nhưng khán đài của Anfield là lớn nhất thời điểm đó, thậm chí có thể chứa được nhiều khán giả hơn cả một số sân vận động.[48] Khán đài này bị cắt giảm sức chứa để đảm bảo an toàn sau thảm hoạ Hillsborough. Nó được chuyển thành khán đài phủ kín chỗ ngồi vào năm 1994, và giảm sức chứa xuống còn 12.390 chỗ ngồi.

Anfield có thể chứa hơn 60.000 cổ động viên ở thời kỳ đỉnh cao và có sức chứa 55.000 cho đến những năm 1990. Báo cáo Taylor và các quy định của Premier League bắt buộc Liverpool phải chuyển Anfield thành một sân vận động với sức chứa xuống còn 45.276 cho mùa giải 1993-1994. Khán đài Anfield Road đối diện với The Kop, là nơi các cổ động viên đội khách ngồi. Được xây lại vào năm 1998 với sức chứa 9,074 chỗ ngồi, đó là khán đài mới nhất của Anfield. Hai khán đài còn lại là Main Stand có sức chứa 12,227 chỗ ngồi và Centenary Stand có sức chứa 11.762 chỗ. Khán đài Main Stand là khán đài cũ kỹ nhất sân Anfield, được hoàn thành vào năm 1982. Nó là nơi đặt phòng thay đồ của cầu thủ và phòng bình luận. Nằm ở phía giữa khán đài này, gần vạch kẻ sân là đường hầm ra sân và khu vực kỹ thuật - nơi ngồi của huấn luyện viên và các cầu thủ dự bị. Khán đài Centenary Stand trước đây là khán đài Kemlyn Road, đổi tên lại như hiện nay sau khi được xây thêm một tầng và đưa vào sử dụng vào ngày 1 tháng 9 năm 1992, nhân kỉ niệm 100 năm thành lập đội bóng. Một loạt các cột đỡ và cột hỗ trợ đã được chèn thêm để tạo thêm sự ổn định cho tầng trên cùng của khán đài sau khi có sự rung lắc được báo cáo vào đầu mùa 1999-2000.

Do hạn chế về sức chứa của Anfield, Liverpool công bố kế hoạch di chuyển đến một sân vận động mới tại công viên Stanley kề đó vào tháng 5 năm 2002.[49] Cấp phép quy hoạch đã được cấp vào tháng 7 năm 2004 và vào ngày 8 tháng 9 năm 2006, Hội đồng thành phố Liverpool chấp thuận việc xây sân, họ cũng đồng ý sẽ cấp cho Liverpool quyền sử dụng khu đất ở công viên Stanley với thời hạn 999 năm.[50] Với việc hai vị đồng chủ tịch George Gillet và Tom Hicks tiếp quản đội bóng vào tháng 2 năm 2007, bản thiết kế của sân vận động mới được thay đổi. Vào tháng 11 năm 2007, bản thiết kế mới được phê chuẩn bởi Hội đồng thành phố, và chuẩn bị bắt đầu vào tháng 6 năm 2008. Tập đoàn HKS được giao nhiệm vụ xây sân mới.[51] Sân dự kiến mở cửa vào tháng 8 năm 2011 với sức chứa 60.000 chỗ ngồi. Song đã không có công trình nào được xây bởi George Gillet và Tom Hicks đã không có đủ khả năng tài chính cho dự án.

Vào tháng 10 năm 2012, BBC Sport tường thuật rằng chủ sở hữu mới của Liverpool là Fenway Sports Group quyết định sẽ nâng cấp sân Anfield thay vì xây dựng sân Stanley Park. Theo kế hoạch đề ra, sức chứa của Anfield sẽ tăng từ 45,276 lên xấp xỉ 60,000 chỗ ngồi, và chi phí ước tính sẽ khoảng 150 triệu bảng Anh.[52] Tháng 9 năm 2016, giai đoạn đầu việc nâng cấp được hoàn thành với việc khánh thành tầng thứ ba của khán đài Main, nâng sức chứa của sân lên 54,047 chỗ và việc này đã tốn chi phí khoảng 100 triệu bảng Anh. Huấn luyện viên Jurgen Klopp đã khen ngợi về sự ấn tượng sau khi nâng cấp khán đài Main. Giai đoạn nâng cấp tiếp theo sắp thực hiện sẽ là thêm 4,800 chỗ ngồi vào khán đài Anfield Road, nâng tổng sức chứa của sân lên khoảng 59,000 chỗ.[53]

Sân tập

Bài chi tiết: Melwood

Melwood ở West Derby đã trở thành sân tập của Liverpool từ năm 1950. Nó không liên quan tới Học viện ở Kirby. Khu đất này trước đây thuộc về trường học địa phương St Francis Xavier.

Cổ động viên

 
Cổ động viên Liverpool.

Liverpool là một trong những câu lạc bộ sở hữu cổ động viên trung thành nhất thế giới, trung bình lượng cổ động viên tới sân thuộc hàng cao nhất châu Âu.[54] Câu lạc bộ có hơn 200 hội cổ động viên chính thức ở hơn 30 quốc gia được Hiệp hội các chi nhánh quốc tế (Association of International Branches) công nhận.[55] Các nhóm đáng chú ý bao gồm Spirit of Shankly. Với lợi thế lượng cổ động viên đông đảo, Liverpool thường xuyên tổ chức các tour du đấu quốc tế vào mùa hè,[56] trong đó bao gồm chơi trước 101.000 cổ động viên ở Michigan, Hoa Kỳ và 95.000 cổ động viên ở Melbourne, Úc. Cổ động viên Liverpool thường thích tự gọi họ là những Kopites, điều này để nói tới những fan lúc đứng, lúc lại ngồi trên khán đài The Kop. Năm 2008, một nhóm người hâm mộ đã quyết định thành lập câu lạc bộ A.F.C. Liverpool.

Bài hát "You'll Never Walk Alone", ban đầu xuất hiện trong vở kịch Carousel của nhà Rodger và nhà Pacemaker, sau đó được thu âm bởi nhạc sĩ Gerry & The Pacemakers và được cổ động viên hát lên ở sân Anfield từ đầu những năm 1960. Nó đã trở nên phổ biến trong số người hâm mộ của các câu lạc bộ khác trên thế giới.Tên bài hát được viết trên cổng Shankly, được dựng lên vào ngày 2 tháng 8 năm 1982 nhằm tưởng nhớ huấn luyện viên huyền thoại Bill Shankly. Hàng chữ "You'll Never Walk Alone" trên cánh cổng Shankly cũng là tiêu ngữ của đội bóng.

 
Cánh cổng Shankly.

Cổ động viên của câu lạc bộ cũng có mặt trong hai sự kiện đáng quên. Đầu tiên là Thảm họa Heysel xảy ra vào năm 1985 khi 39 cổ động viên thiệt mạng, hầu hết là người Ý. Họ bị các cổ động viên Liverpool dồn vào một bức tường, dưới sức ép của nhiều người, bức tường đổ sập. Vì những hành động trên, Liverpool đã bị UEFA cấm thi đấu ở các giải đấu châu Âu trong 5 năm. Liverpool đã bị cấm thêm một năm, ngăn không cho họ tham dự Cúp châu Âu 1990, mặc dù họ đã vô địch Cúp Liên đoàn năm 1990. 27 người đã bị bắt giữ, phần lớn trong số này đến từ Merseyside, một số người từng tham gia vào các vụ bạo lực bóng đá. Năm 1989, sau 5 tháng điều tra ở Bỉ, 14 cổ động viên Liverpool đã phải nhận mức án 3 năm tù vì tội ngộ sát.

Sự kiện đáng buồn thứ hai là trong trận bán kết cúp FA ngày 15 tháng 4 năm 1989, giữa Liverpool và Nottingham Forest trên sân Hillsborough của đội Sheffield WednesdaySheffield. Việc sân quá tải dẫn đến chen lấn xô đẩy đã khiến tổng cộng 96 người thiệt mạng và 766 người bị thương (tất cả đều là cổ động viên Liverpool), đây được biết đến là thảm họa Hillsborough. Bốn ngày sau thảm họa, tờ báo The Sun trong một bài viết mang tiêu đề "Sự thật" đã tố cáo các cổ động viên Liverpool cướp bóc, tấn công cảnh sát và cả nhân viên cứu hộ khi họ đang cố gắng cứu sống các nạn nhân.[57] Điều tra sau đó đã chứng minh những cáo buộc này là sai lầm và điều này đã dẫn đến một cuộc tẩy chay của toàn thành phố đối với tờ báo trong suốt 20 năm.[58] Biên tập viên của The SunKelvin MacKenzie đã phải xin lỗi công chúng. Nhiều tổ chức đã được thành lập như là một kết quả của thảm hoạ ở Sheffield như "Chiến dịch Tư pháp Hillsborough", đại diện cho các gia đình có người chết, người sống sót và những người ủng hộ, vận động công lý cho 96 người chết vì thảm họa.[59]

Bài hát truyền thống

 
Lá cờ của các cổ động viên Liverpool
Bài chi tiết: You'll Never Walk Alone

Bài hát truyền thống của câu lạc bộ là "You'll Never Walk Alone" ("Bạn sẽ không bao giờ bước đi đơn độc"), vốn là một ca khúc được viết cho một vở kịch mang tên Carousel tại sân khấu kịch Broadway vào năm 1945. Oscar Hammerstein II sáng tác phần lời và Richard Rodgers sáng tác phần nhạc.

Bài hát này cũng đã được dùng cho một chương trình ca nhạc cùng tên, nhằm quyên tiền ủng hộ các nạn nhân của thảm hoạ tại sân vận động Bradford vào năm 1985. Nó cũng xuất hiện trong những đợt vận động phòng chống bệnh AIDS tại Hoa Kỳ. Bài hát thường xuyên được người hâm mộ đội Liverpool ca lên khi ủng hộ đội nhà[60] và cũng được hát phổ biến bởi cổ động viên của nhiều câu lạc bộ khác trên thế giới.[61]

Trước "You'll Never Walk Alone", bài hát truyền thống của câu lạc bộ là "Hurrah for the Reds", được sáng tác bởi W.Seddon vào ngày 31 tháng 8 năm 1907, tức 15 năm sau khi câu lạc bộ được thành lập.

Kình địch

 
Một trong những trận derby nước Anh giữa Liverpool và Manchester United

Đối thủ truyền kiếp của Liveprool là đội bóng hàng xóm Everton, đối thủ của họ trong những trận derby Merseyside. Điều này bắt nguồn từ những tranh chấp của ban lãnh đạo Everton và các ông chủ của Anfield. Những trận derby Merseyside luôn được bán hết vé. Các trận derby này có tổng số thẻ đỏ nhiều nhất trong lịch sử Giải Ngoại hạng.[62] Đây là một trong số ít những trận "derby thân thiện" ("friendly derby") vì không bắt buộc tách cổ động viên hai đội ra. Kể từ giữa những năm 1980, sự ganh đua đã tăng cả trong và ngoài sân cỏ và kể từ khi bắt đầu Ngoại hạng Anh năm 1992, trận derby vùng Mershireide đã có nhiều cầu thủ bị đuổi hơn bất kỳ trận đấu nào khác ở Premier League. Nó đã được gọi là "Những trận đấu vô kỷ luật và bùng nổ nhất của Giải Ngoại hạng Anh".

Liverpool cũng có mối thù với Manchester United. Nguyên nhân của điều này chủ yếu do sự thành công của hai đội bóng và sự cạnh tranh thương mại giữa hai thành phố LiverpoolManchester trong cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ XIX.[63] Sự kình địch giữa hai đội tăng lên từ những năm 1960, tuy Liverpool là đội bóng Anh đoạt nhiều cúp vô địch châu Âu nhất nhưng Manchester United lại là đội bóng Anh đoạt cúp này sớm nhất (vào năm 1968). Mặc dù có 38 chức vô địch và tám cúp châu Âu giữa họ, hai đối thủ hiếm khi thành công cùng một lúc - cuộc đua danh hiệu của Liverpool trong những năm 1970 và 1980 trùng với đáy thảm họa 26 năm của Manchester United và thành công của United trong Kỷ nguyên Premier League cũng trùng khớp với thảm họa đang diễn ra của Liverpool. Tuy nhiên, cựu huấn luyện viên của Manchester United, Alex Ferguson, nói vào năm 2002, "Thử thách lớn nhất của tôi là đánh bại Liverpool ngay lập tức" và cầu thủ cuối cùng được chuyển đến giữa hai câu lạc bộ là Phil Chisnall, người chuyển đến Liverpool từ Manchester United vào năm 1964.[64]

Sở hữu và tài chính

 
Chủ sở hữu John W. Henry

Là chủ sở hữu Anfield và là người sáng lập Liverpool, John Houlding trở thành chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ, ông giữ cương vị này từ năm thành lập 1892 đến năm 1904. John McKenna tiếp quản vị trí này sau sự ra đi của Houlding.[65] McKenna sau đó trở thành chủ tịch của giải bóng đá vô địch Anh.[66] Vị trí chủ tịch được thay đổi nhiều lần trước khi John Smith, người có cha là cổ đông đội bóng, lên giữ vào năm 1973. Ông điều hành giai đoạn thi đấu thành công nhất của câu lạc bộ trước khi rời chức năm 1990.[67] Sau đó, David Moores, người có gia đình là chủ sở hữu đội bóng trong hơn 50 năm, tiếp quản vị trí này. Chú ông, John Moores cũng là một cổ đông đội bóng và là chủ tịch của Everton trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1973. Là người sở hữu 51% câu lạc bộ, năm 2004, David Moores bày tỏ việc muốn bán cổ phần của mình.[68]

Ngày 6 tháng 2 năm 2007, Moores bán đội bóng cho hai doanh nhân người MỹGeorge GillettTom Hicks. Thỏa thuận này bao gồm giá trị và khoản nợ chưa thanh toán của câu lạc bộ, tổng cộng là 218,9 triệu £ (Bảng Anh). Bộ đôi này đã trả 5.000 £ cho mỗi cổ phần, hoặc 174,1 triệu £ cho tổng số cổ phần và 44,8 triệu £ để trang trải các khoản nợ.[69] Sau đó vì những bất đồng giữa Gillett và Hicks, cộng thêm sự phản đối từ người hâm mộ, khiến bộ đôi này tìm cách bán đội bóng.[70] Martin Broughton nhận chức chủ tịch vào ngày 16 tháng 4 năm 2010 để giám sát việc bán.[71] Tháng 5 năm 2010, tài khoản câu lạc bộ được công khai, gồm 350 triệu £ tiền nợ cùng 55 triệu £ tiền lỗ, được công ty kiểm toán KPMG xác nhận.[72] Các chủ nợ của Liverpool, trong đó có Ngân hàng hoàng gia Scotland, đã đưa Gillett và Hicks ra tòa để buộc bộ đôi này nhường lại việc bán cho Hội đồng quản trị câu lạc bộ đảm trách. Một thẩm phán của toà án tối cao, ông Christopher Floyd, đã ra phán quyết có lợi cho những chủ nợ, mở đường cho Fenway Sports Group (tên lúc đó là New England Sports Ventures) mua lại đội bóng, dù Gillett và Hicks vẫn còn khả năng kháng cáo.[73] Ngày 15 tháng 10 năm 2010, Liverpool được bán cho Fenway Sports Group với giá 300 triệu £.[74]

Liverpool được xem như là một thương hiệu toàn cầu, một báo cáo năm 2010 định giá các thương hiệu của câu lạc bộ và tài sản trí tuệ liên quan ở mức 141 triệu bảng, tăng 5 triệu bảng vào năm trước. Liverpool được đánh giá hạng AA (Rất mạnh).[75] Trong tháng 4 năm 2010, tạp chí Forbes xếp hạng Liverpool là đội bóng có giá trị thứ 6 thế giới, sau Manchester United, Real Madrid, Arsenal, BarcelonaBayern Munich, giá trị câu lạc bộ vào khoảng 832 triệu $ (Đô la Mỹ), không bao gồm nợ.[76] Kiểm toán Deloitte xếp Liverpool ở vị trí thứ 8 trong Deloitte Football Money League, xếp hạng các câu lạc bộ bóng đá thế giới về doanh thu. Liverpool kiếm được thu nhập 225,3 triệu € (Euro) trong mùa giải 2009-10.[77]

Câu lạc bộ Liverpool đối với văn hoá

 
Đài tưởng niệm Hillsborough

Là một trong những đội bóng thành công nhất trong lịch sử bóng đá Anh, Liverpool là hình tượng trong đời sống văn hoá Anh khi nói về bóng đá và xuất hiện trong nhiều sự kiện đặc biệt của truyền thông. Đội bóng xuất hiện trong số đầu tiên của chương trình "Trận đấu của ngày" (Match of the Day) trên BBC, nói đến trận đấu với ArsenalAnfield vào ngày 22 tháng 4 năm 1964. Liverpool cũng xuất hiện trong buổi truyền hình bóng đá trên vô tuyến màu đầu tiên, đó là lần truyền hình trực tiếp trận gặp West Ham United vào tháng 3 năm 1967.[78] Các cổ động viên Liverpool đã được ban nhạc Pink Floyd nhắc đến trong bài hát "Fearless", bài hát cũng trích một đoạn từ bài "You'll Never Walk Alone".[79] Liverpool cho ra mắt bài hát với tên gọi "Anfield Rap" vào dịp trước trận chung kết Cúp FA gặp Wimbledon năm 1988. Trong bài này, John Barnes đã trình diễn rap cùng một số thành viên khác trong đội hình xuất phát.[80]

Một bộ phim tài liệu về thảm hoạ Hillsborough, viết bởi Jimmy McGovern, đã được trình chiếu vào năm 1996. Diễn viên Christopher Eccleston đã vào vai Trevor Hicks, tâm điểm của những câu truyện được kể lại. Hicks, người đã mất hai cô con gái trong thảm hoạ, đã tham gia vào các hoạt động làm cho những sân vận động an toàn hơn và giúp đỡ những gia đình có người thân thiệt mạng trong thảm hoạ Hillsborough.[81] Câu lạc bộ đã xuất hiện trong bộ phim The 51st State (hoặc Formula 51). Felix DeSouza (Robert Carlyle) là một cổ động viên nhiệt thành của đội bóng và cảnh cuối cùng của bộ phim được thực hiện trong một trận đấu giữa Liverpool và Manchester United.[82] Đội bóng cũng xuất hiện trong một chương trình dành cho trẻ em với tên gọi Scully; nội dung xoay quanh một cậu bé, Francis Scully, người cố gắng để được đá thử một trận cùng Liverpool. Một số người nổi tiếng của Liverpool như Kenny Dalglish đã xuất hiện trong chương trình.[83]

Đội hình

Tính đến 12 tháng 8 năm 2019[84]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1   TM Alisson
2   HV Nathaniel Clyne
3   TV Fabinho
4   HV Virgil van Dijk (đội trưởng thứ 3)[85]
5   TV Georginio Wijnaldum (đội trưởng thứ 4)[85]
6   HV Dejan Lovren
7   TV James Milner (đội phó)[86]
8   TV Naby Keïta
9   Roberto Firmino
10   Sadio Mané
11   Mohamed Salah
12   HV Joe Gomez
13   TM Adrián
14   TV Jordan Henderson (đội trưởng)[87]
Số áo Vị trí Cầu thủ
15   TV Alex Oxlade-Chamberlain
20   TV Adam Lallana
23   TV Xherdan Shaqiri
24   Rhian Brewster
26   HV Andrew Robertson
27   Divock Origi
32   HV Joël Matip
40   TV Ryan Kent
48   TV Curtis Jones
62   TM Caoimhin Kelleher
65   HV Yasser Larouci
66   HV Trent Alexander-Arnold
67   Harvey Elliott
72   HV Sepp van den Berg

Cầu thủ cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
  TV Marko Grujić (tại Hertha BSC đến 30 tháng 6 năm 2020)[88]
  TV Sheyi Ojo (tại Rangers đến 30 tháng 6 năm 2020)[89]
  TM Loris Karius (tại Beşiktaş đến 30 tháng 6 năm 2020)[90]
  TV Allan (tại Fluminense Đến 31 tháng 12 năm 2019)[91]
  TM Kamil Grabara (tại Huddersfield Town đến 30 tháng 6 năm 2020)[92]
  Taiwo Awoniyi (tại Mainz 05 đến 30 tháng 6 năm 2020)[93]
Số áo Vị trí Cầu thủ
  HV Nathaniel Phillips (tại VfB Stuttgart đến 30 tháng 6 năm 2020)[94]
  TV Ben Woodburn (tại Oxford United F.C. đến 30 tháng 6 năm 2020)[95]
  TV Ovie Ejaria (tại Reading F.C. đến 30 tháng 6 năm 2020)[96]
  TV Harry Wilson (tại A.F.C. Bournemouth đến 30 tháng 6 năm 2020)[97]

Đội trẻ và học viện

Các cầu thủ trong lịch sử

Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải

 
Steven Gerrard, 4 lần đoạt giải
 
Luis Suárez, 2 lần đoạt giải
Mùa giải Cầu thủ Quốc tịch Vị trí Ghi chú Ct.
2001–02 Hyypiä, SamiSami Hyypiä   Phần Lan Hậu vệ [98]
2002–03 Murphy, DannyDanny Murphy   Anh Tiền vệ [99]
2003–04 Gerrard, StevenSteven Gerrard   Anh Tiền vệ [100]
2004–05 Carragher, JamieJamie Carragher   Anh Hậu vệ Steven Gerrard được cổ động viên bình chọn Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải [101]
2005–06 Gerrard, StevenSteven Gerrard (2)   Anh Tiền vệ Cũng đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA [102]
2006–07 Gerrard, StevenSteven Gerrard (3)   Anh Tiền vệ [103]
2007–08 Torres, FernandoFernando Torres   Tây Ban Nha Tiền đạo [104]
2008–09 Gerrard, StevenSteven Gerrard (4)   Anh Tiền vệ Cũng đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FWA [105]
2009–10 Reina, PepePepe Reina   Tây Ban Nha Thủ môn [106]
2010–11 Leiva, LucasLucas Leiva   Brasil Tiền vệ [107]
2011–12 Škrtel, MartinMartin Škrtel   Slovakia Hậu vệ [108]
2012–13 Suárez, LuisLuis Suárez   Uruguay Tiền đạo [109]
2013–14 Suárez, LuisLuis Suárez (2)   Uruguay Tiền đạo Cũng đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA, Cầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất mùa giảiCầu thủ xuất sắc nhất năm của FWA [110]
2014–15 Coutinho, PhilippePhilippe Coutinho   Brasil Tiền vệ [111]
2015–16 Coutinho, PhilippePhilippe Coutinho (2)   Brasil Tiền vệ [112]
2016–17 Mané, SadioSadio Mané   Senegal Tiền đạo [113]
2017–18 Salah, MohamedMohamed Salah   Ai Cập Tiền đạo Cũng đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA, Cầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất mùa giải, Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFA do cổ động viên bình chọn, và Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FWA [114]
2018–19 van Dijk, VirgilVirgil van Dijk   Hà Lan Hậu vệ Cũng đoạt giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của PFACầu thủ Ngoại hạng Anh xuất sắc nhất mùa giải [115]

Quan chức, lãnh đạo

 
Huấn luyện viên Jürgen Klopp.

Liverpool Football and Athletics Grounds Limited[116]

Liverpool Football Club

  • Giám đốc: John W. Henry, Tom Werner, David Ginsberg, Michael Gordon, Michael Egan
  • Giám đốc danh dự: Kenny Dalglish
  • Giám đốc hoạt động: Andrew Parkinson
  • Thư ký câu lạc bộ: Ian Silvester
  • Nhân viên trông coi sân chính: Dave McCulloch
  • Quản lý sân vận động: Ged Poynton
  • Giám đốc truyền thông: Susan Black
  • Lãnh đạo văn phòng truyền thông: Matthew Baxter
  • Giám đốc trông coi sân: Dave Fallows
  • Trưởng trông coi sân: Bắc Ireland Barry Hunter
  • Giám đốc kỹ thuật: Anh Michael Edwards

Huấn luyện viên và nhân viên y tế[118]

  • Huấn luyện viên trưởng: Jürgen Klopp
  • Trợ lý huấn luyện viên chính: Pepijn Lijnders, Peter Krawietz
  • Huấn luyện viên thủ môn: John Achterberg
  • Trưởng phòng thể hình & điều dưỡng: Andreas Kornmayer
  • Trợ lý sức lực & phục hồi chức năng: David Rydings
  • Trưởng phòng dịch vụ y tế: Andrew Massey
  • Huấn luyện viên phục hồi thể hình: Philipp Jacobsen
  • Xoa bóp: Paul Small, Sylvan Richardson
  • Chuyên gia vật lý trị liệu: Matt Konopinski, Scott McAuley, Richie Partridge
  • Nhà trị liệu thể thao: Pedro Philippou
  • Chuyên gia tư vấn dinh dưỡng: Mona Nemmer
  • Tư vấn khoa học trong thể thao: Barry Drust
  • Nhà phân tích hiệu suất: James French
  • Nhà phân tích tuyển trạch viên và tuyển dụng: Kyle Wallbanks
  • Điều phối viên quản lý: Lee Radcliffe, Graham Carter
  • Giám đốc học viện: Alex Inglethorpe
  • HLV U-23: Neil Critchley
  • Huấn luyện viên đội dự bị: Rodolfo Borrell

Danh sách huấn luyện viên và những thành tích

Thống kê danh sách HLV và thành tích đạt được (không tính Giải hạng nhất)

Tên Giai đoạn Vô địch Tổng cộng
Quốc nội Quốc tế
EPL FA SS LC C1/CL C3 USC IC
  John McKenna 1892-1896
  Tom Watson 1896-1915
2
2
  David Ashworth 1919-1923
1
1
  Matt McQueen 1923-1928
1
1
  George Patterson 1928-1936
  George Key 1936-1951
1
1
  Don Welsh 1951-1956
  Phil Taylor 1956-1959
  Bill Shankly 1959-1974
3
2
4
1
10
  Bob Paisley 1974-1983
6
5
3
3
1
1
19
  Joe Fagan 1983-1985
1
1
1
3
  Kenny Dalglish 1985-1991
3
2
4
9
  Ronnie Moran 1991
  Graeme Souness 1991-1994
1
1
  Roy Evans 1994-1998
1
1
  Gérard Houllier 1998-2004
1
1
2
1
1
6
  Rafael Benítez 2004-2010
1
1
1
1
4
  Roy Hodgson 2010-2011
  Kenny Dalglish 2011-2012
1
1
  Brendan Rodgers 2012-2015
  Jürgen Klopp 2015-nay
1
1
Tổng thành tích 1892-nay 18 7 15 8 6 3 3 0 60

Thành tích

 
5 chức vô địch châu Âu trong phòng truyền thống của Liverpool

Liverpool là một trong những câu lạc bộ giàu truyền thống nhất nước Anh xét trên bình diện quốc tế. Năm 1901, họ vô địch giải vô địch quốc gia lần đầu tiên, và chiếc cúp FA đầu tiên họ giành được là vào năm 1965. Ở thập niên 80, Liverpool đã gặt hái được rất nhiều thành công, như 6 chức vô địch quốc gia, 2 Cup FA, 4 League Cup, 5 Siêu cúp Anh và 2 chức Vô địch châu Âu.

Liverpool được mệnh danh là “Vua đấu Cúp của nước Anh” bởi số danh hiệu CLB đạt được chỉ trong một mùa giải như cú ăn 2 FA Cup và League Cup năm 1986, vô địch quốc gia lẫn châu Âu vào năm 1977 và 1984. Liverpool cũng có vị trí kết thúc giải đấu trung bình cao nhất (3,3) trong giai đoạn 50 năm đến 2015 và vị trí kết thúc giải đấu trung bình cao thứ hai trong giai đoạn 1900-1999 sau Arsenal, với tỷ lệ trung bình là 8,7. Và đáng nói nhất là cú ăn ba đấu cúp vào năm 2001 khi câu lạc bộ giành chiến thắng ở ba đấu trường Cup FA, League CupUEFA Cup.

Với chức vô địch Champions League vào năm 2019, Hiện Liverpool tiếp tục giữ kỉ lục của nước Anh khi 6 lần vô địch châu Âu.

Câu lạc bộ

Giải đấu

 
Các cầu thủ Liverpool ăn mừng chiếc cúp Liên đoàn lần thứ 8 vào năm 2012

Giải đấu cúp

  •   Cúp FA
    • Vô địch (7): 1965, 1974, 1986, 1989, 1992, 2001, 2006
    • Á quân (2): 1977, 2012
  •   Cúp Liên đoàn Anh
    • Vô địch (8) (kỷ lục): 1981, 1982, 1983, 1984, 1995, 2001, 2003, 2012
  •   Siêu cúp Anh
    • Vô địch (15): 1964*, 1965*, 1966, 1974, 1976, 1977*, 1979, 1980, 1982, 1986, 1988, 1989, 1990*, 2001, 2006* (*: đồng danh hiệu)

Giải châu Âu

 
Liverpool ăn mừng chiếc cúp châu Âu thứ 5 trong lịch sử


Những cú ăn hai và ăn ba

Lưu ý: Không tính những giải ngắn hạn như Siêu cúp AnhSiêu cúp châu Âu.

Kỷ lục, thống kê và chuyển nhượng

Ian Callaghan giữ thành tích là người ra sân nhiều nhất cho Liverpool với 857 trận trong 19 mùa giải, từ năm 1958 tới năm 1978; và giữ kỉ lục ra sân ở giải vô địch quốc gia với 640 lần. Cầu thủ chơi nhiều thứ nhì cho đội bóng là Jamie Carragher, với 737 lần ra sân tính đến cuối tháng 5 năm 2013.

Người ghi nhiều bàn thắng nhất cho Liverpool trong lịch sử đó là Ian Rush, người ghi 346 bàn cho đội bóng trong giai đoạn 1980–1987 và 1988–1996. Rush đồng thời giữ kỉ lục người ghi nhiều bàn nhất trong một mùa giải với thành tích 47 bàn ở mùa 1983-84. Tuy nhiên, Rush không thể vượt qua Roger Hunt về thành tích ghi bàn tại giải vô địch quốc gia cho đội bóng, hiện là 245 bàn (của Rush là 229). Trong mùa giải 1961-62, Hunt ghi 41 bàn, đó là kỉ lục của đội bóng về số bàn ghi tại giải vô địch quốc gia trong một mùa. Gordon Hodgson - người ghi nhiều bàn thứ ba trong lịch sử đội bóng với 241 bàn; ông lập được 17 hattrick - một kỷ lục của đội bóng. Số bàn thắng nhiều nhất mà một cầu thủ ghi trong một trận đấu là 5; John Miller, Andy McGuigan, John Evans, Ian RushRobbie Fowler đều đã đạt được thành tích này. Fowler cũng giữ kỉ lục của đội bóng và Giải Ngoại hạng Anh về thời gian lập một cú hattrick: ông ghi 3 bàn trong 4 phút 32 giây, trong trận gặp Arsenal mùa giải 1994-95. Steven Gerrard là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Liverpool tại đấu trường châu Âu với 38 bàn.[120]

Trận đấu chính thức đầu tiên của Liverpool là chiến thắng 8-0 tại Giải Lancashire League trước đối thủ Higher Walton.[121] Chiến thắng đậm nhất của Liverpool là 11-0 trước Strømsgodset IF vào năm 1974.[122] Trận thắng 10-1 trước Rotherham Town vào năm 1896 là trận thắng đậm nhất của họ tại giải vô địch quốc gia. Khoảng cách này được lập lại trong trận gặp Crystal Palace khi họ thắng 9-0 ở Anfield vào năm 1989. Trận thua đậm nhất của Liverpool là 1-9 trước Birmingham vào năm 1954. Chiến thắng 8-0 của Liverpool trước Beşiktaş J.K.Cúp C1 là chiến thắng đậm nhất trong lịch sử của giải đấu này.[123]

Thống kê

Top 10 cầu thủ ra sân nhiều nhất

STT Tên Giai đoạn Số trận
1 Callaghan, IanIan Callaghan 1960–1978 857
2 Carragher, JamieJamie Carragher 1996–2013 737
3 Gerrard, StevenSteven Gerrard 1998–2015 710
4 Clemence, RayRay Clemence 1967–1981 665
Hughes, EmlynEmlyn Hughes 1967–1979 665
6 Rush, IanIan Rush 1980–1996 660
7 Neal, PhilPhil Neal 1974–1985 650
8 Smith, TommyTommy Smith 1962–1978 638
9 Grobbelaar, BruceBruce Grobbelaar 1980–1994 628
10 Hansen, AlanAlan Hansen 1977–1991 620

Top 10 cầu thủ ghi bàn nhiều nhất

Hạng Tên Giai đoạn Số bàn (số trận)
1 Rush, IanIan Rush 1980–1987
1988–1996
346 (660)
2 Hunt, RogerRoger Hunt 1958–1969 286 (492)
3 Hodgson, GordonGordon Hodgson 1925–1936 241 (377)
4 Liddell, BillyBilly Liddell 1938–1961 228 (534)
5 Gerrard, StevenSteven Gerrard 1998–2015 186 (710)
6 Fowler, RobbieRobbie Fowler 1993–2007 183 (369)
7 Dalglish, KennyKenny Dalglish 1977–1990 172 (515)
8 Owen, MichaelMichael Owen 1996–2004 158 (297)
9 Chambers, HarryHarry Chambers 1915–1928 151 (339)
10 Parkinson, JackJack Parkinson 1903–1914 130 (220)

Chuyển nhượng

Kỷ lục mua cầu thủ

Cầu thủ Phí trả Từ
  Virgil van Dijk £70,000,000 Southampton
  Alisson Becker £67,000,000 A.S. Roma
  Naby Keïta £48,000,000 RB Leipzig
  Alex Chamberlain £40,000,000 Arsenal
  Mohamed Salah £36,900,000 AS Roma
  Andy Carroll £35,000,000 Newcastle United
  Christian Benteke £32,500,000 Aston Villa
  Sadio Mané £30,000,000 Southampton
  Roberto Firmino £29,000,000 Hoffenheim
  Adam Lallana £26,000,000 Southampton
  Georginio Wijnaldum £25,000,000 Newcastle United
  Dejan Lovren £20,000,000 Southampton
  Jordan Henderson £20,000,000 Sunderland
  Stewart Downing £20,000,000 Aston Villa
  Fernando Torres £20,000,000 Atlético Madrid

Kỉ lục bán cầu thủ

Cầu thủ Phí thu Đến
  Philippe Coutinho £145,000,000 Barcelona
  Luis Suárez £75,000,000 Barcelona
  Fernando Torres £50,000,000 Chelsea
  Raheem Sterling £49,000,000 Manchester City
  Xabi Alonso £30,000,000 Real Madrid
  Christian Benteke £27,000,000 Crystal Palace
  Javier Mascherano £20,000,000 Barcelona
  Jordon Ibe £15,000,000 Bournemouth
  Andy Carroll £15,000,000 West Ham
  Joe Allen £13,000,000 Stoke City
  Robbie Keane £12,000,000 Tottenham

Những trận đấu

Những trận đầu tiên

  • Trận đầu tiên: Liverpool 7–1 Rotherham Town, trận giao hữu, 01 tháng 9 năm 1892.[121]
  • Trận đầu tiên tại giải Lancashire League: Liverpool 8–0 Higher Walton, 03 tháng 9 năm 1892.[121]
  • Trận đầu tiên tại giải quốc gia: Liverpool 2–0 Middlesbrough Ironopolis, giải giải hạng nhì Anh, 02 tháng 9 năm 1893.[124]
  • Trận đầu tiên tại cúp FA: Liverpool 3–0 Grimsby Town, vòng 1, 27 tháng 1 năm 1894.[125]
  • Trận đầu tiên tại cúp Liên đoàn Anh: Liverpool 1–1 Luton Town, vòng 2, 19 tháng 10 năm 1960.[125]
  • Trận đầu tiên tại cúp châu Âu: Liverpool 6–0 KR Reykjavik, Cúp C1, vòng 1, 17 tháng 8 năm 1964.[126]

Những trận thắng

  • Kỷ lục thắng đậm: 11–0 trận đấu với Strømsgodset tại cúp C2, 17 tháng 9 năm 1974.[127]
  • Chiến thắng đậm nhất tại giải quốc gia: 10–1 trận đấu với Rotherham Town, giải hạng nhì Anh, 18 tháng 2 năm 1896.[127]
  • Chiến thắng đậm nhất tại cúp C1: 8–0 trận đấu với Beşiktaş, 6 tháng 11 năm 2007.[123][D]
  • Nhiều trận thắng nhất trong 1 mùa giải tại giải vô địch Anh: 30 trận thắng trong 42 trận, mùa giải 1978-79.[128]
  • Ít trận thắng nhất trong 1 mùa giải tại giải vô địch Anh: 7 trận thắng trong tổng số 30 trận, mùa giải 1894-1895.[128]

Những trận thua

  • Trận thua đậm nhất: 1–9 trận đấu với Birmingham City tại giải giải hạng nhì Anh, 11 tháng 12 năm 1954.[129]
  • Trận thua đậm nhất tại Anfield: 2–6 trận đấu với Sunderland tại giải vô địch Anh, 19 tháng 4 năm 1930.[127]
  • Trận thua có nhiều bàn thắng nhất: 2–9 trận đấu với Newcastle United tại giải vô địch Anh, 1 tháng 1 năm 1934.[129]
  • Nhiều trận thua nhất trong một mùa giải: 24 trận thua trên 42 trận đấu, mùa giải 1953-54.[128]
  • Ít trận thua nhất trong một mùa giải: bất bại 37 trận đấu, mùa giải 2018-19.[128]

Những bàn thắng

  • Nhiều bàn thắng nhất tại giải quốc gia: 106 bàn trong 30 trận đấu, giải hạng nhì Anh mùa giải 1895-96.[128]
  • Ít bàn thắng nhất tại giải quốc gia: 42 trong 34 và 42 trận đấu, giải vô địch Anh, mùa giải 1901-02 và 1970-71.[128]
  • Nhiều bàn thua nhất tại giải quốc gia: 97 trong 42 trận đấu, giải vô địch Anh mùa giải 1953-54.[128]
  • Ít bàn thua nhất tại giải quốc gia: 16 trong 42 trận đấu, giải vô địch Anh mùa giải 1978-79.[128]

Những điểm số

  • Nhiều điểm nhất trong 1 mùa giải:
    • 1 chiến thắng giành 2 điểm: 68 trong 42 trận đấu tại giải vô địch Anh, mùa giải 1978-79.[128]
    • 1 chiến thắng giành 3 điểm:
      • 90 trong 42 trận đấu tại giải vô địch Anh, mùa giải 1987-88.[128]
      • 97 trong 38 trận đấu tại giải Ngoại Hạng Anh, mùa giải 2018-19.
  • Ít điểm nhất trong 1 mùa giải:
    • 1 chiến thắng giành 2 điểm: 22 trong 30 trận đấu tại giải vô địch Anh, mùa giải 1894-95.[128]
    • 1 chiến thắng giành 3 điểm:
      • 59 trong 42 trận đấu tại giải vô địch Anh, mùa giải 1992-93.[128]
      • 54 trong 38 trận đấu tại giải Ngoại hạng Anh, mùa giải 1998-99.

Khán giả tại Anfield

  • Lượng khán giả đông nhất trong 1 trận: 61,905 (trận đấu với Wolverhampton Wanderers, FA Cup vòng 5, mùa giải 1951-52).[130][E]
  • Lượng khán giả đông nhất trong 1 trận giải quốc gia: 58,757 (trận đấu với Chelsea, giải vô địch Anh mùa giải 1949-50).[130]
  • Lượng khán giả đông nhất trong 1 trận cúp Liên đoàn Anh: 50,880 (trận đấu với Nottingham Forest, mùa giải 1979-80).[130]
  • Lượng khán giả đông nhất trong 1 trận cúp châu Âu: 55,104 (trận đấu với FC Barcelona, mùa giải 1975-76).[130]
  • Lượng khán giả ít nhất trong 1 trận: 1,000 (trận đấu với Loughborough, giải hạng nhì mùa giải 1895-96).[130][F]
  • Lượng khán giả ít nhất trong 1 trận cúp FA: 4,000 (trận đấu với Newton, mùa giải 1892-93).[130]
  • Lượng khán giả ít nhất trong 1 trận cúp Liên đoàn Anh: 9,902 (trận đấu với Brentford, mùa giải 1983-84).[130]
  • Lượng khán giả ít nhất trong 1 trận cúp châu Âu: 12,021 (trận đấu với Dundalk, mùa giải 1982-83).[130]

Chú thích

  1. ^ “Happy birthday LFC? Not quite yet...”. Liverpool F.C. Truy cập 15 tháng 3 năm 2014. Liverpool F.C. was born on ngày 3 tháng 6 năm 1892. It was at John Houlding's house in Anfield Road that he and his closest friends left from Everton FC, formed a new club. 
  2. ^ Liverpool. “New Anfield capacity confirmed as 54,074”. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ a ă “Liverpool Football Club is formed”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2010. 
  4. ^ Graham (1985). tr. 14.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  5. ^ Graham (1985). tr. 20.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  6. ^ Liversedge (1991). tr. 14.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  7. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 50–51. 
  8. ^ Graham (1985). tr. 16–18.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  9. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 57. 
  10. ^ “1965/66: Stan the man for Dortmund”. Union of European Football Associations (UEFA). 
  11. ^ Kelly (1999). The Boot Room Boys: Inside the Anfield Boot Room. tr. 86. 
  12. ^ Pead (1986). tr. 414.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  13. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 157. 
  14. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 158. 
  15. ^ Cox (2002). tr. 90.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  16. ^ “On This Day – ngày 29 tháng 5 năm 1985: Fans die in Heysel rioting”. BBC. 29/05/1985. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  17. ^ Quote from UEFA Chief Executive Lars-Christer Olsson in 2004, uefa.com
  18. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 172. 
  19. ^ “On This Day – ngày 15 tháng 4 năm 1989: Soccer fans crushed at Hillsborough”. BBC. 15/04/1989. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  20. ^ Pithers, Malcolm (22/12/1993). “Hillsborough victim died 'accidentally': Coroner says withdrawal of treatment not to blame”. The Independent. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  21. ^ “A hard lesson to learn”. BBC. 15/04/1999. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  22. ^ Cowley, Jason (29/03/2009). “The night Football was reborn”. The Observer. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  23. ^ Liversedge (1991). tr. 104–105.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  24. ^ Kelly (1999). The Boot Room Boys: Inside the Anfield Boot Room. tr. 227. 
  25. ^ “Houllier acclaims Euro triumph”. BBC Sport. 16/05/2001. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  26. ^ “Houllier 'satisfactory' after surgery”. BBC Sport. 15/10/2001. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  27. ^ “US pair agree Liverpool takeover”. BBC Sport. 2 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  28. ^ McNulty, Phil (23/05/2007). “AC Milan 2–1 Liverpool”. BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  29. ^ “Liverpool's top-flight record”. LFC History. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011. 
  30. ^ “Rafael Benitez leaves Liverpool: club statement”. The Daily Telegraph. 6 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  31. ^ "Kenny Dalglish sacked as Liverpool manager" BBC Sport ngày 16 tháng 5 năm 2012 Retrieved ngày 16 tháng 5 năm 2012
  32. ^ Ornstein, David (ngày 12 tháng 5 năm 2014). “Liverpool: Premier League near-miss offers hope for the future”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2014. 
  33. ^ “Liverpool beat Spurs to become champions of Europe for sixth time”. BBC. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2019. 
  34. ^ “Real Madrid 3-1 Liverpool” (bằng tiếng en-GB). 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2019. 
  35. ^ “Historical LFC Kits”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  36. ^ “Historical LFC Kits”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  37. ^ “Shankly: the hero who let me down”. Ian St. John's autobiography serialised in The Times (London). Ngày 9 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2006. 
  38. ^ “Back on home turf, as adidas returns to Liverpool”. adidas. Bản gốc lưu trữ 14/03/2007. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |archivedate= (trợ giúp)
  39. ^ Crilly (2007). tr. 28.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  40. ^ “Hillsborough”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2010. 
  41. ^ “Liverpool kit launch sparks anger among Hillsborough families”. BBC Sport. BBC. Ngày 11 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2012. 
  42. ^ Dart, James; Mark Tinklin (7 tháng 6 năm 2005). “Has a streaker ever scored?”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2007. 
  43. ^ Espinoza, Javier (5 tháng 8 năm 2009). “Carlsberg and Liverpool might part ways”. Forbes. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008. 
  44. ^ Liversedge (1991). tr. 112.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  45. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 187. 
  46. ^ Liversedge (1991). tr. 113.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  47. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 188. 
  48. ^ Pearce, James (23/08/2006). “How Kop tuned into glory days”. Liverpool Echo. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  49. ^ “Liverpool unveil new stadium”. BBC Sport. 17/05/2002. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  50. ^ “Liverpool get go-ahead on stadium”. BBC Sport. 9 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2007.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  51. ^ “Liverpool's stadium move granted”. BBC. 11 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010. 
  52. ^ Smith, Ben (15 tháng 10 năm 2012). “Liverpool to redevelop Anfield instead of building on Stanley Park”. BBC Sport (BBC). Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  53. ^ “Liverpool's new Main Stand boosts Anfield capacity to 54,000”. 
  54. ^ Rice, Simon (ngày 6 tháng 11 năm 2009). “Manchester United top of the 25 best supported clubs in Europe”. The Independent. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  55. ^ “Association of international branches (AIB)”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  56. ^ “Asia Tour 2011”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  57. ^ Smith, David (7 tháng 11 năm 2004). “The city that eclipsed the Sun”. The Guardian. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  58. ^ Burrell, Ian (7 tháng 8 năm 2004). “An own goal? Rooney caught in crossfire between 'The Sun' and an unforgiving city”. The Independent. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2008. 
  59. ^ “Hillsbrough Family Support Group”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2011. 
  60. ^ You'll Never Walk Alone BBC Online. ngày 9 tháng 6 năm 2008.
  61. ^ “Liverpool”. Fédération Internationale de Football Association (FIFA). Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2011. 
  62. ^ Smith, Rory (ngày 7 tháng 2 năm 2010). “Liverpool 1 Everton 0: match report”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  63. ^ Rohrer, Finlo (21/08/2007). “Scouse v Manc”. BBC. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  64. ^ Ingle, Sean; Scott Murray (5 tháng 10 năm 2000). “Knowledge Unlimited”. The Guardian. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2008. 
  65. ^ Liversedge (1991). tr. 108.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  66. ^ Liversedge (1991). tr. 109.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  67. ^ Liversedge (1991). tr. 110.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  68. ^ Narayana, Nagesh (ngày 5 tháng 3 năm 2008). “Factbox Soccer who owns Liverpool Football Club”. Reuters. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010. 
  69. ^ Wilson, Bill (ngày 6 tháng 2 năm 2007). “US business duo at Liverpool helm”. BBC. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2008. 
  70. ^ McNulty, Phil (ngày 20 tháng 1 năm 2008). “Liverpool braced for takeover bid”. BBC Sport. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2008. 
  71. ^ Bandini, Paolo (ngày 16 tháng 4 năm 2010). “Liverpool appoint Martin Broughton as chairman to oversee sale of club”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  72. ^ Conn, David (ngày 7 tháng 5 năm 2010). “Auditors cast doubt on future of Liverpool after losses”. The Guardian. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2010. 
  73. ^ “Liverpool takeover to go ahead as owners lose case”. ESPN. Ngày 13 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011. 
  74. ^ “Liverpool takeover completed by US company NESV”. BBC Sport. Ngày 15 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011. 
  75. ^ “Top 25 Football Club Brands” (PDF). Brand Finance. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  76. ^ “Liverpool”. Forbes. Ngày 21 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  77. ^ Wilson, Bill (ngày 10 tháng 2 năm 2011). “Real Madrid top football rich list for sixth year”. BBC. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2011. 
  78. ^ Kelly (1988). You'll Never Walk Alone. tr. 192. 
  79. ^ “The Hillsborough Tragedy”. BBC. 16/06/2000. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  80. ^ “Footballer Barnes for rap return”. BBC. 3 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  81. ^ “Hillsborough's Sad Legacy”. BBC. 14/04/1999. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  82. ^ Ebert, Roger (18/10/2002). “Formula 51”. Chicago Sun Times. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  83. ^ “Scully”. BBC. 20/08/2009. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  84. ^ “First team”. Liverpool F.C. Truy cập 12 tháng 8 năm 2019. 
  85. ^ a ă Shaw, Chris (26 tháng 10 năm 2018). “Klopp explains players' vote for captaincy roles”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2018. 
  86. ^ Shaw, Chris (10 tháng 8 năm 2015). “Milner on vice-captain honour and Coutinho class”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  87. ^ “Henderson appointed Liverpool captain”. Liverpool F.C. 10 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018. 
  88. ^ Carroll, James (1 tháng 7 năm 2019). “Marko Grujic to remain with Hertha for 2019-20”. Liverpool FC. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. 
  89. ^ Price, Glenn (18 tháng 6 năm 2019). “Sheyi Ojo makes Rangers loan switch”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. 
  90. ^ Shaw, Chris (25 tháng 8 năm 2018). “Loris Karius joins Besiktas on two-year loan”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018. 
  91. ^ Carroll, James (1 tháng 7 năm 2019). “Allan extends Fluminense loan spell”. Liverpool FC. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. 
  92. ^ Williams, Sam (15 tháng 7 năm 2019). “Grabara signs new Liverpool contract and joins Huddersfield on loan”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2019. 
  93. ^ Price, Glenn (18 tháng 6 năm 2019). “Sheyi Ojo makes Rangers loan switch”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2019. 
  94. ^ Carroll, James (7 tháng 8 năm 2019). “Nathaniel Phillips signs new Liverpool contract and joins Stuttgart on loan”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2019. 
  95. ^ Carroll, James (30 tháng 7 năm 2019). “Ben Woodburn completes Oxford United loan switch”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2019. 
  96. ^ Shaw, Chris (8 tháng 8 năm 2019). “Ovie Ejaria agrees move to Reading”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2019. 
  97. ^ Williams, Sam (6 tháng 8 năm 2019). “Harry Wilson joins Bournemouth on loan”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2019. 
  98. ^ Eaton, Paul (13 tháng 5 năm 2002). “We speak to YOUR Player of the Season”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  99. ^ Eaton, Paul (7 tháng 5 năm 2003). “Murphy named Reds Player of the Season”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  100. ^ “Gerrard delighted with Player of the Year vote”. Liverpool F.C. 21 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  101. ^ Hunter, Steve (4 tháng 5 năm 2005). “Carra wins.tv player of the season”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  102. ^ Rogers, Paul (23 tháng 5 năm 2006). “It's Official: LFC Player of the Season”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  103. ^ “Gerrard voted fans' player of the season”. Liverpool F.C. 26 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  104. ^ Eaton, Paul (19 tháng 5 năm 2008). “Vote result: LFC Player of the Season”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  105. ^ Carroll, James (4 tháng 6 năm 2009). “LFC Player of the Season: Steven Gerrard”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  106. ^ Rice, Jimmy (11 tháng 5 năm 2010). “Reina crowned Player of 09–10”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  107. ^ Carroll, James (24 tháng 5 năm 2011). “Lucas scoops 2010–11 award”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  108. ^ Carroll, James (14 tháng 5 năm 2012). “Skrtel named LFC Player of Season”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  109. ^ Shaw, Chris (28 tháng 5 năm 2013). “Your player of the season revealed”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  110. ^ Carroll, James (27 tháng 5 năm 2014). “Suarez wins another season award”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  111. ^ Shaw, Chris (19 tháng 5 năm 2015). “Phil wins four prizes at Players' Awards”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  112. ^ “Quartet of accolades for Philippe Coutinho at LFC Players' Awards”. Liverpool FC. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016. 
  113. ^ Shaw, Chris (9 tháng 5 năm 2017). “Sadio Mane takes top prizes at LFC Players' Awards”. Liverpool FC. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2016. 
  114. ^ Shaw, Chris (10 tháng 5 năm 2018). “Mohamed Salah takes top prizes at LFC Players' Awards”. Liverpool FC. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018. 
  115. ^ Shaw, Chris (27 tháng 5 năm 2019). “Revealed: The LFC Players' Awards 2019 winners”. Liverpool FC. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2019. 
  116. ^ “Corporate Information”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2011. 
  117. ^ “Billy Hogan joins Liverpool FC”. Liverpool FC. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  118. ^ “Academy”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2011. 
  119. ^ a ă 2 chức vô địch bất kì trong 1 mùa giải đoạt 3 chức vô địch, như Cúp Liên đoàn bóng đá Anh và Cúp FA mùa giải 2000-01, sẽ không được tính trong phần "Đoạt 2 chức vô địch trong 1 mùa giải".
  120. ^ “Total games played per season by Jamie Carragher”. LFC history. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2008. 
  121. ^ a ă â “Anfield”. LFChistory. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2008. 
  122. ^ “Matches”. Liverpool F.C. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2010. 
  123. ^ a ă “Liverpool revived by record triumph”. UEFA. Ngày 6 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  124. ^ “All the official games for the 1893-1894 season”. LFC history. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2008. 
  125. ^ a ă “Liverpool”. FCHD. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2008. 
  126. ^ Ponting. tr. 22.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  127. ^ a ă â “Liverpool: History”. soccermanager. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011. 
  128. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Pead. tr. 414.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  129. ^ a ă “Reds suffer record defeat”. LFC TV. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2008. 
  130. ^ a ă â b c d đ e “LFC Records”. Liverpool F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2007. 

Đọc thêm

Liên kết ngoài

Trang web chính thức: