Lysocline là độ sâu trong đại dương dưới đó tốc độ hòa tan của canxit tăng lên đáng kể.[1]

Nước biển cạn thường được siêu bão hòa trong canxit, CaCO3, như vậy là sinh vật biển (mà thường có vỏ làm bằng canxit hoặc của nó đa hình, aragonit) chết, chúng sẽ có xu hướng rơi xuống mà không hòa tan. Khi độ sâu và áp suất tăng trong cột nước, độ bão hòa canxit tương ứng của nước biển giảm và vỏ bắt đầu tan. Phản ứng liên quan, mặc dù phức tạp hơn, có thể được coi là: CaCO3(s) + H2O + CO2 → Ca 2+ (aq) + 2HCO3- (aq). Tại lysocline, tốc độ hòa tan tăng đáng kể và nồng độ canxit giảm tới 90%.[1] Bên dưới điều này, tồn tại một độ sâu được gọi là độ sâu bù cacbonat (CCD) bên dưới mà tốc độ cung cấp canxit bằng với tốc độ hòa tan, do đó không có calcit được lắng đọng. Độ sâu này tương đương với một dòng tuyết biển và trung bình khoảng 4.500 mét dưới mực nước biển.[1] Do đó, lysocline và CCD không tương đương. Độ sâu lysocline và độ sâu bù xảy ra ở độ sâu lớn hơn trên Đại Tây Dương (5000–6000 m) so với Thái Bình Dương (4000 – 5000 m) và ở độ sâu lớn hơn ở các vùng xích đạo so với các vùng cực.

Độ sâu của CCD thay đổi như một chức năng của thành phần hóa học của nước biển và nhiệt độ của nó. Cụ thể, đó là vùng nước sâu không bão hòa với canxi cacbonat chủ yếu vì độ hòa tan của nó tăng mạnh khi tăng áp suất và độ mặn và giảm nhiệt độ. Hơn nữa, nó không phải là hằng số theo thời gian, đã được nông hơn trong kỷ Phấn trắng đến thế Eocene. Khi nồng độ carbon dioxide trong khí quyển tiếp tục tăng, CCD có thể được dự kiến sẽ giảm độ sâu, vì độ axit của đại dương tăng lên.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â “3.3: The Lysocline and the CCD”. Geosciences LibreTexts (bằng tiếng en-US). 5 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2018. 
  • Butler, JN, 1991: Cân bằng carbon Dioxide và các ứng dụng của chúng, CRC Press, 1982 ISBN 978-0-87371-624-6