Mận hậu

loài thực vật
(đổi hướng từ Mận)

Mận hậu hay còn gọi mận bắc, mận tam hay mận Hà Nội (danh pháp khoa học: Prunus salicina) là một loài cây rụng lá nhỏ bản địa tại miền bắc Việt Nam và Trung Quốc thuộc Chi Mận mơ. Nó cũng được trồng trong các vườn cây ăn quả ở miền bắc Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, Hoa KỳÚc.

Mận hậu
Plums.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Plantae
(không phân hạng)Angiospermae
(không phân hạng)Eudicots
(không phân hạng)Rosids
Bộ (ordo)Rosales
Họ (familia)Rosaceae
Chi (genus)Prunus
Phân chi (subgenus)Prunus
Đoạn (section)Prunus
Loài (species)P. salicina
Danh pháp hai phần
Prunus salicina
Lindl., 1830[2]
Danh pháp đồng nghĩa
  • Cerasus salicina (Lindl.) Loudon, 1830
  • Prunus salicina var. typica Nakai, 1933

Mận hậu thuộc tổ Prunus của phân chi Prunus trong chi Prunus với một số loài khác như mơ ta (cũng được trồng tại miền bắc Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên), mận gai, mận anh đào, mận châu Âu...

Từ nguyênSửa đổi

Tính từ định danh salicina nghĩa là "lá liễu".[3]

Tên gọiSửa đổi

Tại Trung Quốc gọi là 李 (lý).

Miêu tảSửa đổi

Cây gỗ cao 9–12 m; các cành con, cuống lá, cuống hoa, mặt ngoài phần đáy của chén hoa nhẵn hoặc rậm lông tơ. Cành màu nâu ánh tía đến nâu ánh đỏ; cành con màu đỏ ánh vàng. Các chồi mùa đông màu đỏ ánh tía, thường nhẵn hoặc hiếm khi có lông ở mép vảy. Lá kèm thẳng, mép có tuyến, đỉnh nhọn thon. Cuống lá 1–2 cm, đỉnh có 2 tuyến mật; phiến lá thuôn dài-hình trứng ngược, elip hẹp, hoặc hiếm khi thuôn dài-hình trứng, 6–8(–12) × 3–5 cm, màu xanh lục sẫm ở mặt gần trục và bóng, đáy hình nêm, mép có khía tai bèo kép và thường pha trộn với các răng cưa đơn giản có tuyến ở đầu khi non, đỉnh nhọn đến hình đuôi ngắn; gân phụ 6 hoặc 7 ở hai bên của gân giữa, không kéo dài đến mép lá. Hoa thường 3 mọc thành chùm, đường kính 1,5–2,2 cm. Cuống hoa 1-1,5cm. Lá đài thuôn dài-hình trứng, ~5 mm, mặt ngoài nhẵn nhụi, mép có răng cưa lỏng lẻo, đỉnh nhọn đến tù. Cánh hoa màu trắng, thuôn dài-hình trứng ngược, đáy hình nêm, mép khía chữ V không đều ở gần đỉnh. Bầu nhụy nhẵn nhụi. Đầu nhụy hình đĩa. Quả hạch màu vàng hoặc đỏ, đôi khi có màu xanh lục hoặc tía, hình cầu, hình trứng hoặc hình nón, đường kính 3,5–5 cm, nhưng đạt tới 7 cm ở các dạng cây trồng vườn, có phấn xám, và có thịt màu hồng-vàng;[4] vỏ quả trong hình trứng tới thuôn dài, xù xì. Ra hoa tháng 2-4, tạo quả tháng 7-8. Rừng thưa, bìa rừng, bụi rậm, cây bụi, ven đường mòn trong núi, ven suối trong các thung lũng, cũng được gieo trồng; cao độ 200-2.600m.[5] Quả có thể được thu hoạch vào mùa hè. Khi chín, có thể ăn sống quả. Ngoài ra, có thể làm ô mai hoặc ngâm lấy nước uống.

Các thứSửa đổi

  • Prunus salicina var. latifolia Cardot, 1920 (đồng nghĩa: Prunus triflora var. latifolia Cardot, 1920): Miền bắc Việt Nam. Khác với nguyên chủng ở chỗ có lá to hơn (6-7 cm × 3-4 cm) và bền.[6]
  • Prunus salicina var. mandshurica (Skvortsov) Skvortsov & A.I.Baranov, 1955 (đồng nghĩa: Prunus triflora var. mandshurica Skvortsov, 1925, Prunus ussuriensis Kovalev & Kostina, 1935): Viễn Đông Nga, Mãn Châu.
  • Prunus salicina var. pubipes (Koehne) L.H.Bailey, 1916 (đồng nghĩa: Prunus triflora var. pubipes Koehne, 1912): Trung Quốc (các tỉnh Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam). Tên gọi tiếng Trung: 毛梗李 (mao ngạnh lý), do các cành non, cuống lá, mặt xa trục của phiến lá, cuống hoa và mặt ngoài phần đáy chén hoa rậm lông tơ. Môi trường sống là bìa rừng, bụi cây ở cao độ 1.600-2.000 m.[7]
  • Prunus salicina var. salicina: Nguyên chủng. Khu vực phân bố bản địa từ Viễn Đông Nga qua miền đông Trung Quốc, Đài Loan tới miền bắc Việt Nam. Du nhập vào bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản, Australia (New South Wales), Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan. Các cành con, cuống lá, cuống hoa và mặt ngoài phần đáy chén hoa nhẵn nhụi. Mặt xa trục phiến lá thưa lông tơ trên các gân hoặc có râu dạng lông mỏng và dài ở các nách gân. Thứ này là một loại cây ăn quả quan trọng của vùng ôn đới, được trồng rộng rãi tại nhiều nơi như Trung Quốc, các khu vực khác của châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ. Môi trường sống là rừng thưa, cây bụi, dọc theo đường mòn trong núi, ven suối trong các thung lũng, ở cao độ 200-2.600 m.[8] Các danh pháp đồng nghĩa của thứ này bao gồm: Cerasus triflora Wall. ex Steud., 1840 nom. illeg.; Prunus botan André, 1895; Prunus gymnodonta Koehne, 1912; Prunus ichangana C.K.Schneid., 1905; Prunus maru L.H.Bailey, 1916 orth. var.; Prunus masu Koehne, 1912; Prunus salicina var. angustifolia Nakai, 1933; Prunus salicina var. columnaris (Uyeki) Uyeki, 1934; Prunus salicina var. cordata Y.He & J.Y.Zhang, 1989; Prunus salicina var. pilosa Nakai, 1933; Prunus salicina var. subspontanea Makino, 1931; Prunus staminata Hand.-Mazz., 1933; Prunus thibetica Franch., 1885; Prunus triflora Roxb., 1814 nom. inval., 1832 nom. illeg.; Prunus triflora var. columnaris Uyeki, 1925; Prunus triflora f. glomerata Koehne, 1912; Prunus triflora var. pubescens Cardot, 1920; Prunus triflora var. spinifera Koehne, 1912

Sử dụngSửa đổi

Tại Trung Quốc, quả mận được ướp với đường, muối, và cam thảo. Tại Nhật Bản, quả được sử dụng khi còn ương để làm hương liệu cho một loại rượu mùi gọi là sumomo shu (すもも酒),photo .[9] và tại Trung Quốc cũng có loại rượu làm từ quả mận.

Quả mận cũng được sử dụng trong Đông y.[10]

Trồng trọtSửa đổi

Có nhiều giống mận khác nhau được trồng tại Trung Quốc, một số là giống lai. Mận cũng được trồng phổ biến tại Nhật Bản và Triều Tiên.

Ở Việt Nam, các tỉnh miền núi phía bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La có nhiều chủng ngon, như mận hậu, mận Tam Hoa, mận Lạng Sơn, mận Vân Nam. Ở Miền Nam Việt Nam, vùng trồng mận nổi tiếng là trại Hầm với các chủng mận Đà Lạt, mận đỏ, mận đỏ bạch lạp, mận vàng, mận Vân Nam.

Các giống mận được cải giống rất lớn tại Nhật Bản và từ đó được đưa đến Hoa Kỳ trong nửa sau của thế kỷ 19, tại đây nó đã được gây giống và trồng phổ biến hơn, quả cũng lớn hơn. Nhiều giống mận Mỹ đã được xuất khẩu đi nhiều nước, bao gồm cả chính Nhật Bản, nơi xuất xứ của nó.

Hầu hết mận tươi được bán trong các siêu thị Bắc Mỹ là loài Prunus salicina. Mận cũng là cây trồng được phát triển trên quy mô lớn ở một số nước khác, chẳng hạn, chúng là loại quả hạch thống trị trong ngành cây ăn quả tại Tây Úc.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Rhodes, L.; Maxted, N. (2016). Prunus salicina. Sách đỏ IUCN về các loài bị đe dọa. 2016: e.T50247990A50247993. doi:10.2305/IUCN.UK.2016-3.RLTS.T50247990A50247993.en. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2021.
  2. ^ John Lindley, 1830. XXVII. Report upon the New or Rare Plants which flowered in the Garden of the Horticultural Society at Chiswick, between March, 1825, and March, 1826. Part II. Hardy Plants: XLVI. Prunus salicina. Transactions of the Horticultural Society of London 7: 224-253, xem trang 239.
  3. ^ George Don, 1830. Cerasus salicina. Trong John Claudius Loudon: Loudon's Hortus Britannicus: a catalogue of all the plants indigenous, cultivated in, or introduced to Britain. Part I. The Linnaean arrangement - Supplement: 467-490, xem tr. 480.
  4. ^ “Plum and Prune (Japanese: Prunus salicina; European: Prunus domestica)”.
  5. ^ Prunus salicina trong Flora of China.
  6. ^ Jules Cardot, 1920. Rosacées: Prunus triflora var. latifolia. Trong Paul Henri Lecomte, Flore générale de l'Indo-Chine 2(5): 628.
  7. ^ Prunus salicina var. pubipes trong Flora of China.
  8. ^ Prunus salicina var. salicina trong Flora of China.
  9. ^ “桃形李酒系列·绍兴市果花香果酒有限公司”. 21 tháng 10 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2018.
  10. ^ González-Flores D, Velardo B, Garrido M, González-Gómez D, Lozano M, Ayuso M.C, Barriga C, Paredes S.D, Rodríguez A.B. (2011). "Ingestion of Japanese plums (Prunus salicina Lindl. cv. Crimson Globe) increases the urinary 6-sulfatoxymelatonin and total antioxidant capacity levels in young, middle-aged and elderly humans: Nutritional and functional characterization of their content". Journal of Food and Nutrition Research 50(4): 229-236.

Liên kết ngoàiSửa đổi