M1918 Browning Automatic Rifle

M1918 Browning Automatic Rifle là loại súng máy hạng nhẹ được quân đội Mỹ sử dụng rộng rãi trong Thế chiến 1 (cuối cuộc chiến), Thế chiến 2 và nhiều cuộc chiến khác nữa. Đây là một trong những sản phẩm được biết đến nhiều nhất của nhà thiết kế John Browning. Mặc dù tên của nó là "Browning Automatic Rifle" (Súng trường tự động Browning) nhưng trên thực tế nó là súng máy hạng nhẹ (trung liên). Browning Automatic Rifle được quân Mỹ gọi bằng cái tên khác ngắn gọn hơn là trung liên BAR (hay là trung liên M1918). Khẩu BAR có nhiều biến thế khác nhau, nhưng nổi tiếng nhất trong số chúng là 2 biến thể: M1918 BAR và M1918A2 BAR.

M1918 Browning Automatic Rifle
Army Heritage Museum B.A.R..jpg
Súng trung liên M1918A2 BAR với giá chống 2 chân.
LoạiSúng máy hạng nhẹ
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
 Bỉ
 Thụy Điển
 Ba Lan
Lược sử hoạt động
Phục vụ1918-1958 (Hoa Kỳ) 1928-1999 (các nước khác)
Sử dụng bởi Hoa Kỳ
 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
 Hồng Kông
 Ma Cao
 Bồ Đào Nha
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Philippines
 Hàn Quốc
 Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Tịch thu của Hàn Quốc và Đồng minh chư hầu trong Chiến tranh Triều Tiên
 Indonesia
 Singapore
 Úc
 New Zealand
 Pháp
 Việt Nam Cộng Hòa
 Cộng hòa Khmer
 Hà Lan
 Hy Lạp
 Brasil
 Thổ Nhĩ Kỳ
 Tây Ban Nha
 Campuchia
 Lào
 Israel
 Malaysia
 Trung Quốc
 Đài Loan
 Italia
 Ấn Độ
 UAE
 Nam Phi
 Sudan
 Pakistan
 Cuba
 Bangladesh
 Colombia
 Bỉ
 Ba Lan
 Ai Cập
 Áo
 Mexico
 Phần Lan
 Đan Mạch
 Thụy Điển
 Tây Đức
 Đức
 Thụy Sĩ
 Nhật Bản
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ nhất (cuối cuộc chiến)
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Trung-Nhật
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Nội chiến Campuchia
Cách mạng Cuba
Chiến tranh Việt Nam-Campuchia
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Lược sử chế tạo
Người thiết kếJohn Browning
Năm thiết kế1917
Nhà sản xuấtColt's Patent Firearms Manufacturing Company (Mỹ)
Winchester Repeating Arms Company (Mỹ)
Marlin-Rockwell Corporation (Mỹ)
New England Small Arms (Mỹ)
Carl Gustafs Stads Gevärsfaktori (Thụy Điển)
Państwowa Fabryka Karabinów (Ba Lan)
FN Herstal (Bỉ)
Giai đoạn sản xuất19181945
Số lượng chế tạo351.679 khẩu
Các biến thểM1918 BAR
M1918A1 BAR
M1918A2 BAR
M1922
Colt Monitor
Browning wz. 1928
FN Mle 1930 D "BAR"
Kg m/21, m/37
Thông số
Khối lượng7,25kg (M1918)
6.0 kg (Colt Monitor)
11kg (M1922)
8.4kg (M1918A1)
8.8kg (M1918A2)
9.0kg (Browning wz 1928)
Chiều dài1,194 mm (47.0 in) M1918, M1918A1 và M1922
1,215 mm (47,8 in) M1918A2
1,110 mm (43,7 in) Browning wz 1928

Đạn.30-06 Springfield (Mỹ)
7.65x53mm (Bỉ)
7.92x57mm Mauser (Ba Lan)
6.5x55mm (Thụy Điển)
7.62x51mm NATO (Phiên bản BAR phục vụ trong biên chế của quân đội Mỹ từ sau năm 1953)
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Tốc độ bắn600-755 viên/phút
Vận tốc mũi860 m/giây
Tầm bắn hiệu quả1300 mét
Tầm bắn xa nhất4100 m
Chế độ nạpBăng đạn 20 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồithước ngắm

Khẩu súng này do ông John Browning sáng chế ra theo yêu cầu của lính viễn chinh Hoa Kỳ (AEF) do tướng John J. Pershing tổng chỉ huy đang tham gia chiến đấu ở châu Âu trong Thế chiến 1. Họ phàn nàn rằng những khẩu M1903 Springfield tuy có độ chính xác cao, dễ cơ động nhưng tốc độ bắn quá chậm vì nó là súng trường lên đạn từng viên. Trong khi đó, khẩu súng máy hạng nặng Browning M1917 có tốc độ bắn rất cao, lượng đạn bắn ra từ súng rất nhiều, tầm bắn hiệu quả của súng rất xa nhưng lại có khối lượng quá khủng. Họ muốn có một khẩu súng mới tổng hợp được tất cả các ưu điểm của hai khẩu M1903 SpringfieldBrowning M1917. Khẩu súng mới cần phải có tốc độ bắn cao, lượng đạn bắn ra từ súng phải nhiều như khẩu Browning M1917 nhưng việc mang vác nó phải dễ dàng, tính chính xác của nó phải cao như khẩu M1903 Springfield để họ tấn công lính Đức trong chiến hào. Nó phải là một "cây chổi quét hào" đáng tin cậy để giúp cho họ: "Bắn một loạt, quét sạch cả hào lính Đức". Quân đội Mỹ nhanh chóng đưa nó vào sử dụng trong biên chế để thay thế dần dần và đi tới thay thế hoàn toàn cho hai thiết kế súng máy hạng nhẹ cũ (của Pháp) đang phục vụ trong biên chế của quân đội Mỹ thời đó là Chauchat cùng với M1909 Benet-Mercie và cũng đồng thời đáp ứng lại yêu cầu của những người lính viễn chinh Hoa Kỳ (AEP) ở chiến trường châu Âu. Khẩu súng này mang đậm chất: "Khẩu súng của chiến tranh hầm hào".

Khẩu BAR được nhìn thấy sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường đó là ở trên tay các lính xung kích của Quân đội Mỹ vào thời điểm cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất cùng với hai khẩu shotgun danh tiếng khác là Winchester Model 1897Browning Auto-5. Khẩu BAR tạo ra sự khác biệt cho lính xung kích của Quân đội Mỹ so với các quân đội khác trong những tháng ngày cuối cùng của Thế Chiến I. Khẩu MP 18 của người Đức cũng được thiết kế cho lực lượng lính xung kích của lục quân Đế quốc Đức (lực lượng Stormtrooper) vào những tháng ngày cuối cùng của cuộc chiến. Mặc dù MP 18 có tốc độ bắn ngang khẩu BAR, lượng đạn trong băng của MP 18 cũng nhiều hơn so với khẩu BAR (Khẩu MP 18 dùng băng đạn hình "ốc sên" của khẩu "Luger Artillery" với 32 viên.Trong khi đó, khẩu BAR thì lại sử dụng băng đạn thẳng 20 viên) nhưng khẩu MP 18 lại là súng tiểu liên dùng loại đạn 9×19mm của khẩu súng ngắn Luger P08 nên tầm bắn, sơ tốc đầu đạn, sức sát thương của nó thua kém khẩu BAR rất nhiều lần. Khẩu BAR xuất hiện ở chiến trường châu Âu vào thời điểm chỉ còn khoảng 56 ngày nữa thì chiến tranh kết thúc nhưng khẩu BAR đóng vai trò đáng kể trong chiến thắng của quân đội Mỹ trong trận đánh Meuse-Argonne tàn khốc (Trận đánh này diễn ra từ ngày 26-9 đến ngày 11-11 năm 1918 tại rừng Argonne, vùng Đông Bắc nước Pháp). Trong trận đánh tàn khốc này, lính Đức đóng quân tại Argonne chỉ được trang bị súng trường bắn phát một Gewehr 98 chậm chạp và tiểu liên MP 18. Cả hai khẩu súng này đều thua kém khẩu BAR về mọi mặt nên chẳng có gì khó hiểu khi khẩu BAR giúp cho lính Mỹ dành thế thượng phong về hỏa lực trong suốt cả trận đánh này. Trận đánh tàn khốc này kết thúc vào ngày 11-11 năm 1918, cũng đúng là ngày mà Đức đồng ý thực hiện hiệp định đầu hàng vô điều kiện với phe Hiệp ước vào lúc 11 giờ trưa ngày hôm đó. Kết quả của trận đánh này là sự chiến thắng của quân đội Mỹ và phe Hiệp Ước. Nhưng cái giá phải trả không hề rẻ: 26,277 lính Mỹ vĩnh viễn nằm lại ở ven bờ sông Meuse và 95,786 lính Mỹ tàn phế sau chiến tranh. Còn thiệt hại phía Đức là 28,000 lính Đức vĩnh viễn nằm lại nơi này, 42,000 lính Đức tàn phế, 26,000 lính Đức bị quân đội Mỹ bắt sống.

Sau khi Thế Chiến 1 kết thúc thì khẩu BAR bị loại khỏi biên chế của quân đội Mỹ. Phải đến tận năm 1938 thì khẩu BAR mới được đưa vào trang bị trở lại trong biên chế của quân đội Mỹ với cái tên M1918A2 BAR. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai thì khẩu BAR được nhìn thấy sử dụng hết sức rộng rãi bởi bộ binh và lính dù Mỹ trên cả 2 chiến trường (mặc dù nó bị phê bình là hơi dài và nặng đối với lính dù Mỹ) là chiến trường châu Âuchiến trường Thái Bình Dương với vai trò là súng máy hạng nhẹ tiêu chuẩn cấp tiểu đội, chuyên dùng để yểm trợ hỏa lực hạng nhẹ cho bộ binh và lính dù Mỹ tấn công, tiêu diệt đối phương. Phiên bản M1918A2 BAR được sử dụng trong cuộc chiến này được gắn thêm chân chống hình chữ V (có thể duỗi ra và cụp lại) để giúp cho lính Mỹ có tư thế chiến đấu được an toàn và thoải mái hơn.

Ở chiến trường châu Âu, để đối phó trước sức mạnh hỏa lực đáng gờm của quân đội Đức Quốc xã thì quân đội Mỹ đã thành lập nên những "đội hình chiến đấu tiêu chuẩn". Ở trong những đội hình chiến đấu này luôn luôn phải có ít nhất từ 1 đến 2 xạ thủ sử dụng khẩu BAR làm hỏa lực yểm trợ tầm xa và tầm trung. Còn ở Mặt trận Thái Bình Dương thì khẩu BAR cùng với khẩu Thompson giúp cho lính Mỹ có đủ tự tin về một khẩu súng có tốc độ bắn cao, lượng đạn bắn ra từ súng đủ nhiều, đáng tin cậy, khối lượng đủ nhẹ để chống lại các cuộc tấn công bằng chiến thuật biển người (Xung phong Banzai), đánh tự sát của lính Nhật với những khẩu súng trường Arisaka gắn lưỡi lê. Quân đội Hoa Kỳ tổ chức sản xuất hàng loạt khẩu súng này trong suốt 27 năm liền, từ năm 1918 đến năm 1945. Không chỉ được quân đội Mỹ tin tưởng sử dụng mà những khẩu BAR cũng được quân đội Anh mua lại từ phía Mỹ trong chương trình "Lend-Lease" (1940-1945). Quân đội Anh đặt mua khoảng 25,000 khẩu BAR trong suốt Thế chiến 2 (1939-1945). Mặc dù mua tới tận 25,000 khẩu nhưng quân đội Anh lại biên chế nó chủ yếu cho các đoàn làm phim huấn luyện quân sự (Training film) và lực lượng dân quân tự vệ Anh (lực lượng Homeguard) vì quân đội Anh đã có Bren rồi.

Trong Chiến tranh Triều Tiên, những khẩu BAR cùng với rất nhiều loại vũ khí khác được Hoa Kỳ hỗ trợ cho đồng minh Hàn Quốc dưới dạng viện trợ quân sự nhằm giúp cho phía Hàn Quốc có vũ khí để chống lại các cuộc tấn công của lính Bắc Triều Tiên. BAR cùng với 2 khẩu súng trường bán tự động M1 GarandM1 Carbine được lính Hàn Quốc khen ngợi là " Những người bạn đồng hành ăn ý nhất của quân đội". Bên cạnh chiến đấu trong tay lính Hàn Quốc thì khẩu BAR vẫn được quân đội Mỹ tin tưởng sử dụng trong suốt thời gian họ tham gia trực tiếp vào trong cuộc chiến này. Khẩu BAR vẫn được sử dụng làm súng máy hạng nhẹ tiêu chuẩn của quân đội Mỹ mãi cho đến khi khẩu súng máy đa chức năng M60 ra đời và thay thế vai trò của cả khẩu BAR và khẩu Browning M1919 vào năm 1958.

Trong Chiến tranh Đông Dương, khẩu BAR được người Pháp mua lại từ Mỹ với số lượng lớn. Họ đem nó giao lại cho lính lê dương và lính viễn chinh Pháp đang chiến đấu tại chiến trường Đông Dương. Lính Pháp ở Đông Dương dùng nó để chống lại đội quân tuy còn non trẻ về kĩ năng cũng như kinh nghiệm chiến đấu nhưng lại cực kì khó nhằn - Quân đội nhân dân Việt Nam. Lính Pháp dùng những khẩu BAR giao chiến rất dữ dội với lính của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong những trận đánh khốc liệt nhưng cuối cùng, sau mỗi trận đánh mà Quân đội Nhân dân Việt Nam dành được phần thắng thì những người lính của Quân đội Nhân dân Việt Nam nhanh chóng tổ chức thu giữ vũ khí, đạn dược từ những tên lính Pháp đã chết trong khi chiến đấu cũng như từ những tên hàng binh Pháp còn sống sót sau mỗi trận đánh để làm chiến lợi phẩm nhằm bù đắp cho sự thiếu thốn về vũ khí, đạn dược của những người lính Việt Minh thời kỳ đầu. Điều này cũng nhằm để đáp ứng phương châm tác chiến theo kiểu chiến tranh du kích rất nổi tiếng của QĐNDVN: "Lấy vũ khí địch đánh địch". Trong số những thứ vũ khí và đạn dược mà những người lính Việt Minh thu được thì có rất nhiều vũ khí và đạn dược từ thời thế chiến thứ 2 có nguồn gốc xuất xứ từ Mỹ như M1911; M1903 Springfield; M1 Garand; M1 Carbine; Browning M1917; Browning M1919; Browning M2; Thompson; M3 Grease Gun; Bazooka; lựu đạn MK2;...Và đương nhiên rồi, không thể nào thiếu được những khẩu BAR. Tên chính thức của khẩu BAR trong biên chế của Quân đội PhápFusil-mitrailleur 7 mm 62 (C. 30) M. 18 (B. A. R.)

Trong Chiến tranh Việt Nam, khẩu BAR vẫn còn được sử dụng rất phổ biến. Nó được sử dụng chủ yếu bởi lính Việt Nam Cộng hòa trong cuộc chiến được rất nhiều sử gia đánh giá là "Cuộc chiến tàn khốc và hủy diệt nhất trong Chiến tranh Lạnh". Lính Mỹ thì ít dùng đến nó vì họ đã có M60 hiện đại hơn thay thế BAR từ năm 1958. Nhiều cựu lính BAR của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa kể lại là: "Súng này bắn khá chính xác, đặc biệt là khi bắn theo loạt 3 phát một". Lính Mỹ vẫn rất yêu thích khẩu BAR trong Chiến tranh Việt Nam, mặc dù nó đã phục vụ hơn 50 năm trong biên chế của quân đội Mỹ rồi. Họ kể lại rằng: "Thà họ dùng lại khẩu BAR cổ lỗ sĩ còn hơn là phải dùng khẩu súng "phế vật" M16". Trong Chiến tranh Việt Nam, không những có Quân lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng khẩu súng này mà Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, đói thủ chính của Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng sử dụng khẩu súng này (chủ yếu là thu được từ lính Việt Nam Cộng Hòa, ngoài ra còn được miền Bắc viện trợ với số lượng khá nhiều từ thời kháng chiến chống Pháp 1946-1954) với số lượng lớn ở chiến trường miền Nam Việt Nam.

Từ sau năm 1954, quân đội Mỹ tiến hành chuyển đổi cỡ đạn cho rất nhiều khẩu súng bộ binh đã cũ từ thời Thế chiến 2 như M1 Garand, Browning M1917, Browning M1919, M1918 BAR từ cỡ đạn .30-06 (từ năm 1906) thành 7.62x51mm NATO để dùng tiếp hoặc viện trợ cho nước ngoài.

Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc thì khẩu BAR vẫn còn nhìn thấy được sử dụng mãi cho đến tận những năm cuối thập niên 1990 thì mới bị loại bỏ hoàn toàn khỏi biên chế của các quân đội khác nhau trên toàn thế giới.

Ảnh hưởng của khẩu BAR lên các thiết kế súng khác nhau trên toàn thế giới là rất lớn. Ví dụ như ZB vz. 26 (của Tiệp Khắc), Chatellerault FM 24/29 (của Pháp), hay là khẩu M240 (khẩu M240 có cơ chế điểm hỏa viên đạn tham khảo từ khẩu BAR), súng trường tiến công HCAR (Heavy Counter Assault Rifle) - phiên bản BAR do hãng vũ khí Ohio Ordance hiện đại hóa,...

Các quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng M1918 BARSửa đổi