Messier 49 (còn được gọi là M 49 hoặc NGC 4472) là một thiên hà hình elip nằm cách xa khoảng 56 triệu năm ánh sáng trong chòm sao xích đạo của Xử Nữ. Thiên hà này được nhà thiên văn học người Pháp Charles Messier phát hiện vào ngày 16/2/1777.

Messier 49
Messier 49 Hubble WikiSky.jpg
Messier 49
Dữ liệu Quan sát
Kỷ nguyên J2000
Chòm sao Xử Nữ
Xích kinh 12h 29m 46.7s[1]
Xích vĩ +08° 00′ 02″[1]
Không gian biểu kiến (V) 10,2 × 8,3 moa[1]
Cấp sao biểu kiến (V)9.4[1]
Đặc điểm
LoạiE2,[1] LINER[1]
Trắc lượng học thiên thể
Vận tốc xuyên tâm 997 ± 7[1] km/s
Dịch chuyển đỏ 0.003326 ± 0.000022[1]
Galactocentric velocity 929 ± 7[1] km/s
Khoảng cách 55,9 ± 2,3 Mly (17,14 ± 0,71 Mpc)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Tên gọi khác
NGC 4472,[1] UGC 7629,[1] PGC 41220,[1] Arp 134[1]
Tham khảo cơ sở dữ liệu
SIMBAD Search M49 data
Xem thêm: Thiên hà, Danh sách thiên hà

Là một thiên hà hình elip, Messier 49 có dạng vật lý của một thiên hà vô tuyến, nhưng nó chỉ có sự phát xạ vô tuyến của một thiên hà bình thường. Từ phát xạ vô tuyến được phát hiện, vùng lõi có khoảng 10 53   erg (10 46 J hoặc 10 22 YJ) năng lượng synchrotron.[2] Hạt nhân của thiên hà này đang phát ra tia X, cho thấy khả năng có một lỗ đen siêu lớn với khối lượng ước tính 5.65 × 108 solar masses, hay gấp 56 triệu lần khối lượng Mặt trời.[3] Phát xạ tia X cho thấy một cấu trúc ở phía bắc của Messier 49 giống như một cú sốc cung. Ở phía tây nam của lõi, đường viền phát sáng của thiên hà có thể được truy ra khoảng cách 260 kpc.[4] Sự kiện siêu tân tinh duy nhất được quan sát trong thiên hà này là SN 1969Q.[5]

Thiên hà này có rất nhiều số lượng lớn các cụm cầu, ước tính khoảng 5.900. Tuy nhiên, con số này vượt xa bởi 13.450 cụm sao cầu quay quanh thiên hà hình elip siêu sáng Messier 87. Trung bình, các cụm sao cầu của M 49 có khoảng 10 tỷ năm tuổi.[6] Giữa năm 2000 và 2009, bằng chứng mạnh mẽ cho một lỗ đen khối lượng lớn đã được phát hiện trong cụm M 49. Một ứng cử viên thứ hai đã được công bố vào năm 2011.[7] Messier 49 là thành viên đầu tiên của cụm thiên hà Virgo được phát hiện.[8] Nó là thành viên sáng nhất của cụm đó và phát sáng hơn bất kỳ thiên hà nào gần Trái đất hơn. Thiên hà này là một phần của nhỏ Virgo B subcluster nằm 4,5 ° đi từ trung tâm năng động của cụm Xử Nữ, tập trung vào Messier 87.[6][9] Messier 49 tương tác hấp dẫn với thiên hà bất thường lùn UGC 7636.[4] Sao lùn cho thấy một vệt mảnh vụn kéo dài khoảng 1 × 5 phút, tương ứng với kích thước vật lý là 6 × 30 kpc.[10]

Hình ảnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k “NASA/IPAC Extragalactic Database”, Results for NGC 4472, truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2006. 
  2. ^ Ekers, R. D.; Kotanyi, C. G. (tháng 6 năm 1978), “NGC 4472 – A very weak radio galaxy”, Astronomy and Astrophysics 67 (1): 47–50, Bibcode:1978A&A....67...47E. 
  3. ^ Loewenstein, Michael và đồng nghiệp (tháng 7 năm 2001), “Chandra Limits on X-Ray Emission Associated with the Supermassive Black Holes in Three Giant Elliptical Galaxies” (PDF), The Astrophysical Journal 555 (1): L21–L24, Bibcode:2001ApJ...555L..21L, arXiv:astro-ph/0106326, doi:10.1086/323157. 
  4. ^ a ă Irwin, Jimmy A.; Sarazin, Craig L. (tháng 11 năm 1996), “X-Ray Evidence for the Interaction of the Giant Elliptical Galaxy NGC 4472 with Its Virgo Cluster Environment”, The Astrophysical Journal 471 (2): 683, Bibcode:1996ApJ...471..683I, doi:10.1086/177998. 
  5. ^ “NASA/IPAC Extragalactic Database”, Results for supernova search near name "NGC 4472", truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007. 
  6. ^ a ă Cohen, Judith G.; Blakeslee, J. P.; Côté, P. (tháng 8 năm 2003), “The Ages and Abundances of a Sample of Globular Clusters in M49 (NGC 4472)”, The Astrophysical Journal 592 (2): 866–883, Bibcode:2003ApJ...592..866C, arXiv:astro-ph/0304333, doi:10.1086/375865. 
  7. ^ Maccarone, Thomas J. và đồng nghiệp (tháng 1 năm 2011), “A new globular cluster black hole in NGC 4472”, Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 410 (3): 1655–1659, Bibcode:2011MNRAS.410.1655M, arXiv:1008.2896, doi:10.1111/j.1365-2966.2010.17547.x. 
  8. ^ Thompson, Robert Bruce; Thompson, Barbara Fritchman (2007), Illustrated guide to astronomical wonders, DIY science, O'Reilly Media, Inc., tr. 492, ISBN 978-0-596-52685-6. 
  9. ^ Sandage, A.; Bedke, J. (1994), Carnegie Atlas of Galaxies, Carnegie Institution of Washington, ISBN 978-0-87279-667-6. 
  10. ^ McNamara, Brian R. và đồng nghiệp (tháng 9 năm 1994), “A violent interaction between the dwarf galaxy UGC 7636 and the giant elliptical galaxy NGC 4472”, The Astronomical Journal 108 (3): 844–850, Bibcode:1994AJ....108..844M, doi:10.1086/117116. 

Liên kết ngoàiSửa đổi