Mở trình đơn chính

Michèle Bennett (sinh ngày 15 Tháng 1 1950) [1] là cựu Đệ nhất phu nhân của Haiti và vợ cũ của cựu Tổng thống Haiti, Jean-Claude Duvalier.[2] Họ trốn sang Pháp cùng nhau khi ông từ chức năm 1986;[3] họ ly dị năm 1990.[4]

Michèle Bennett
Fleeing Duvaliers.jpg
Duvaliers fleeing Haiti on 7 February 1986
Chức vụ
First Lady of Haiti
Nhiệm kỳ27 May 1980 – 7 February 1986
Tiền nhiệmSimone Duvalier
Kế nhiệmGabrielle Namphy
Thông tin chung
Sinh15 tháng 1, 1950 (69 tuổi)
Port‑au‑Prince, Haiti
Con cái
  • Alix Pasquet III
  • Sacha Pasquet
  • Nicolas Duvalier
  • Anya Duvalier

Thơ ấuSửa đổi

Michèle Bennett sinh ra ở Port‑au‑Prince, Haiti,[5] năm 1950, là con gái của Aurore[6] và Ernest Bennett, một doanh nhân người Haiti và là hậu duệ của King Henry I của Haiti.[5] Cha bà sở hữu hơn 50.000 mẫu Anh (20.000 ha) đất đai, trồng chủ yếu là cà phê và sử dụng 1.600 công nhân bất động sản cùng với hơn 900 người trong công việc kinh doanh của mình.[7] Chú của bà là Đức Tổng Giám mục Công giáo La Mã của Haiti, Đức ông François‑Wolff Ligondé.[8] Bennetts là con lai da trắng (thuộc chủng tộc hỗn hợp) từ một quốc gia phần lớn là người da đen.[9]

Năm 15 tuổi, Bennett chuyển đến New York, nơi bà được giáo dục tại trường St. Mary's ở Peekkill. Bà tiếp tục làm thư ký tại một công ty dép ở Khu may mặc của thành phố New York.[7] Năm 1973, bà kết hôn với Alix Pasquet, Jr., con trai của Đại úy Alix Pasquet, một sĩ quan mulatto nổi tiếng và Tuskegee Airman, người năm 1958 đã lãnh đạo một cuộc đảo chính chống lại François Duvalier. Với Pasquet bà có hai đứa con, Alix III và Sacha.[10] Sau khi ly hôn năm 1978 với Pasquet, bà đã có một làm nghề quan hệ công chúng cho Habitation LeClerc, một khách sạn cao cấp ở Port‑au‑Prince.[11]

Đệ nhất phu nhânSửa đổi

Những lời buộc tội hoặc liên quan đến tham nhũng đã làm đổ vỡ cuộc hôn nhân của Duvalier và Bennett. Cha của Michèle, Ernest Bennett, đã tận dụng mối quan hệ tổng thống của mình để mở rộng lợi ích cho các doanh nghiệp của mình, từ đại lý BMW, đến các mối quan tâm xuất khẩu cà phê và ca cao, đến Air Haiti, nơi máy bay Bennett bị đồn là vận chuyển ma túy.[10][12] Năm 1982, Frantz Bennett, anh trai của Michèle, bị bắt ở Puerto Rico vì buôn bán ma túy, và bắt đầu án tù ba năm.[10]

Gia đình của Michèle Duvalier đã tích lũy của cải trong thời kỳ sau của chế độ độc tài Jean‑Claude. Đến cuối năm mười lăm năm trị vì, Duvalier và vợ đã trở nên nổi tiếng vì tham nhũng.[10] Cung điện quốc gia trở thành bối cảnh của những bữa tiệc hóa trang sang trọng, nơi Tổng thống trẻ từng xuất hiện với tư cách là một vị vua Thổ Nhĩ Kỳ để lấy ra mười nghìn viên ngọc quý như giải thưởng xổ số.[10]

Trong chuyến thăm Haiti năm 1983, Pope John Paul II tuyên bố rằng mọi thứ phải thay đổi ở Haiti, và ông kêu gọi tất cả những người có quyền lực, giàu có và tri thức để họ có thể hiểu trách nhiệm nghiêm túc và cấp bách các anh chị em".[13] Cuộc nổi dậy chống lại chế độ phổ biến bắt đầu ngay sau đó. Duvalier đáp lại với việc giảm 10% giá lương thực chính, đóng cửa các đài phát thanh độc lập, cải tổ nội các và đàn áp các đơn vị cảnh sát và quân đội, nhưng những động thái này đã không làm giảm đà của cuộc nổi dậy đang lan rộng. Vợ và các cố vấn của Jean‑Claude kêu gọi ông hãy dập tắt cuộc nổi loạn để tiếp tục tại vị. Để đối phó với việc mở rộng sự phản đối đối với 28 năm cai trị của Duvalier, vào ngày 7 tháng 2 năm 1986, Duvaliers đã trốn khỏi đất nước bạo loạn trong một chiếc máy bay Mỹ cùng với 19 người khác.[3][14]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Abbott, Elizabeth (2011). “Jean‑Claude and Michèle, Honeymoon”. Haiti: A Shattered Nation. Rev. and updated from Haiti: The Duvaliers and Their Legacy (1988). New York: The Overlook Press. tr. 185. ISBN 978-1-59020-989-9. LCCN 2013496344. OCLC 859201061. OL 25772018M. On January 15, her birthday, Michèle announced the creation of the Michèle B. Duvalier Foundation, which would build clinics, orphanages, schools, and a hospital. 
  2. ^ “Duvalier’s wife claims full partnership”. Ottawa Citizen. 4 tháng 1 năm 1986. 
  3. ^ a ă Cloutier, Jean‑Pierre (18 tháng 5 năm 1997) [1st pub. 1986 in the Haiti Times]. “C‑141 Passenger List”. The Haitian Files. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2014. When former President Jean‑Claude Duvalier flew away on the United States Air Force C‑141 jet in the night of February 7 [1986], he was accompanied by 20 other persons. We have been able to obtain the list of passengers on the night flight. 
  4. ^ “Divorced for Life”. The New York Times. 24 tháng 6 năm 1990. ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2015. From their home in France, Mr. Duvalier filed for divorce in the Dominican Republic, accusing his wife of immoral acts. . . . The divorce was granted [in October 1989], but [Bennett] contested the decision, flying to the Dominican Republic to obtain a reversal before her husband prevailed in a third court. . . . [Bennett] is [as of 1990] living with another man in Cannes, according to a report in Le Figaro, and she was awarded alimony and child support. 
  5. ^ a ă Hall, Michael R. (2012). Woronoff, Jon, biên tập. Historical Dictionary of Haiti. Historical Dictionaries of the Americas. Lanham, Maryland: Scarecrow Press. tr. 38–39. ISBN 978-0-8108-7549-4. LCCN 2011035933. OCLC 751922123. OL 25025684M. Born in 1950 in Port‑au‑Prince, she is the light‑skinned daughter of Ernest Bennett (1926–2008), a mulatto businessman who was a descendant of Henri Christophe. As such, she is Christophe’s great‑great‑great‑granddaughter. 
  6. ^ Roumain, Maryse Noël (2013). “‘Bébé Doc’ devient président. (1971–1986)”. Haïti : Une Transition Bloquée [Haiti: A Blocked Transition] (bằng tiếng Pháp). Xlibris Corporation. tr. 18. ISBN 978-1-4836-4996-2. Michèle Bennett était la fille d’un exportateur de café et homme d’affaires mulâtre [Ernest] Bennett. Elle était la divorcée d’Alix Pasquet [Jr.], fils d’une famille mulâtre ayant participé à une tentative de renverser Duvalier‑Père. Elle était aussi la fille d’Aurore Ligondé, sœur de Monseigneur Ligondé, grand duvaliériste. 
  7. ^ a ă Vine, Brian (5 tháng 7 năm 1981). “In Opulent Cocoon, Haiti’s First Lady Talks of Poverty”. The Palm Beach Post (West Palm Beach, Florida). ISSN 1528-5758. 
  8. ^ Reding, Andrew (2004). “Democracy and Human Rights in Haiti” (PDF). World Policy Reports. New York: World Policy Institute. tr. 93, 115. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 22 tháng 8 năm 2011. 
  9. ^ “Haiti today: tranquility on the abyss”. The Globe and Mail (Toronto). 30 tháng 11 năm 1981. 
  10. ^ a ă â b c Danner, Mark (11 tháng 12 năm 1989). “Beyond the Mountains (Part III)”. The New Yorker. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2014. 
  11. ^ Carlson, Peter; Cornell, Barbara; Sellinger, Margie Bonnett; Sindayen, Nelly; Wilhelm, Maria (3 tháng 3 năm 1986). “Dragon Ladies Under Siege: While Their Countries Suffer From Poverty Imelda Marcos and Michèle Duvalier Live In Luxury”. People 25 (9). ISSN 0093-7673. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2015. 
  12. ^ Treaster, Joseph B. (14 tháng 6 năm 1986). “U.S. Officials Link Duvalier Father‑in‑Law to Cocaine Trade”. The New York Times. ISSN 0362-4331. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2015. 
  13. ^ “‘Things in Haiti must change,’ pope tells Duvalier”. The Spokesman–Review (Spokane, Washington). Associated Press. 10 tháng 3 năm 1983. tr. 15. ISSN 1064-7317. The Roman Catholic pontiff responded with a stern lecture to the island country’s tiny moneyed elite, telling the 31‑year‑old president‑for‑life of the Western Hemisphere’s poorest country, ‘Things must change in Haiti.’ . . . ‘I call on all those who have power, riches and culture so that they can understand the serious and urgent responsibility to help their brothers and sisters,’ [Pope John Paul II] said. 
  14. ^ Wolff, Christine (12 tháng 6 năm 1986). “Baby Doc to Walters: ‘Did best I could’”. The Miami News. tr. 4A.