Monica Anna Maria Bellucci (phát âm tiếng Ý: [ˈmɔːnika belˈluttʃi]; sinh ngày 30 tháng 9 năm 1964) là một diễn viênngười mẫu Ý. Bellucci khởi nghiệp là một người mẫu thời trang cho Dolce & Gabbana cùng Christian Dior S.A. trước khi lấn sân sang mảng điện ảnh Ý và sau đó là xuất hiện trong các bộ phim MỹPháp.

Monica Bellucci
Monica Bellucci Prix Lumières 2018.jpg
Monica Bellucci tại Lễ trao Giải Lumières 2018
Tên khai sinhMonica Anna Maria Bellucci
Sinh30 tháng 9, 1964 (56 tuổi)
Città di Castello, Umbria, Ý
Nghề nghiệpDiễn viên, người mẫu
Hoạt động1977–nay (người mẫu)
1990–nay (diễn viên)
Hôn nhân
  • Claudio Carlos Basso
    (cưới 1990⁠–⁠1994)
  • Vincent Cassel
    (cưới 1999⁠–⁠2013)

Bà có lẽ được khán giả Mỹ biết đến nhiều nhất với vai diễn Persephone trong các bộ phim khoa học viễn tưởng năm 2003 Ma trận 23. Bà cũng đóng vai cô dâu của Dracula trong bộ phim tình cảm Bram Stoker's Dracula (1992) đạo diễn bởi Francis Ford Coppola, Malèna Scordia trong bộ phim tình cảm lãng mạn tiếng Ý Malèna (2000), Alex trong bộ phim nghệ thuật kinh dị gây tranh cãi Irréversible (2002) của Gaspar NoéMaria Madalena trong bộ phim Kinh Thánh của Mel Gibson mang tên Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu (2004). Sau đó, bà đóng vai một Bond girl trong Spectre của loạt phim về James Bond vào năm 2015.

Đầu đờiSửa đổi

Bellucci sinh ngày 30 tháng 9 năm 1964 tại Città di Castello, Umbria, Ý,[1] bà là con một của Brunella Briganti và Pasquale Bellucci và lớn lên ở Lama thuộc San Giustino.[2][3][4]

Sự nghiệpSửa đổi

Người mẫuSửa đổi

Monica Bellucci bắt đầu sự nghiệp người mẫu từ năm 13 tuổi bằng cách tạo dáng cho một người đam mê ảnh địa phương.[5] Năm 1988, Bellucci rời Khoa Luật tại Đại học Perugia[6] rồi chuyển đến một trong những kinh đô thời trang của châu Âu – Milano – ở đây bà ký hợp đồng với Elite Model Management. Đến năm 1989, nổi lên trong làng thời trang Paris và vượt qua Đại Tây Dương để đến Thành phố New York. Bà chụp cho Dolce & Gabbana, tạp chí Pháp Elle cùng nhiều thương hiệu và tạp chí khác. Năm ấy, Bellucci chuyển sang diễn xuất và bắt đầu tham gia các lớp diễn. Trong số xuất bản tháng 2 năm 2001 của tờ Esquire trên Desire, Bellucci đã xuất hiện trên trang bìa và trong một bài viết về năm giác quan.

 
Monica Bellucci quảng bá Irréversible tại Liên hoan phim Cannes 2002

Năm 2003, bà xuất hiện trên tờ Maxim.[7] Men's Health xếp bà ở vị trí 21 trong danh sách "100 phụ nữ nóng bỏng nhất mọi thời đại".[8] AskMen đặt cho bà danh hiệu người phụ nữ đáng khao khát nhất năm 2002.[9] Theo hai tờ báo quốc gia, bà được coi là một biểu tượng sex của Ý.[10][11]

Năm 2004, khi đang mang thai con gái Deva, Bellucci đã chụp ảnh khỏa thân cho tạp chí Ý Vanity Fair để phản đối việc luật pháp Ý hạn chế việc cung cấp điều trị sinh sản cho các cặp vợ chồng dị tính và loại trừ phụ nữ độc thân hoặc các cặp đồng giới, hạn chế sử dụng phôi nhân tạo, cấm hiến tinh trùng với trứng và giới hạn chỉ được tạo tối đa ba phôi được bằng kỹ thuật trong ống nghiệm.[12] Bà chụp ảnh mang thai và bán khỏa thân một lần nữa trong số ra tháng 4 năm 2010.[13] Từ năm 2006 đến 2010, Bellucci là gương mặt đại diện cho hàng loạt sản phẩm của Dior.[14]

Năm 2005, bà là một trong ba gương mặt đại diện trên các trang bìa của tờ Elle nhân kỉ niệm 60 năm ra đời tạp chí này cùng với Sophie MarceauLaetitia Casta.[15]

Năm 2012, bà trở thành gương mặt mới của thương hiệu Dolce & Gabbana.[16] Bà được quản lý bởi Elite+ tại Thành phố New York. Bellucci đã ký hợp đồng với D'management Group tại Milano và Storm Management tại Luân Đôn.[17] Bellucci cũng làm người mẫu cho GQ Italia vào tháng 2 năm 2016.[18]

Bellucci đã đi trên sàn diễn Tuần lễ thời trang Milano Xuân – Hè 2019 cho Dolce và Gabbana.[19] Tham gia cùng bà gồm có Isabella Rossellini, Eva HerzigováHelena Christensen, tiếp tục dòng siêu mẫu thập niên 90 trở lại với ánh hào quang của thời trang.[20][21]

Diễn viênSửa đổi

 
Monica Bellucci tại lễ trao giải Women's World Award 2009

Bellucci bắt đầu sự nghiệp điện ảnh vào đầu thập niên 1990. Bà hóa thân vào một số vai nhỏ như nhân vật Francesca trong bộ phim La Riffa (1991) hay cô dâu của Dracula trong Bram Stoker's Dracula (1992) – đây cũng là bộ phim đầu tiên bà xuất hiện với khán giả Mỹ. Năm 1996, bà được đề cử cho Giải César ở hạng mục nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất với vai Lisa trong L'Appartement và củng cố vị trí diễn viên của bà.[22] Bà được biết đến và phổ biến với khán giả trên toàn thế giới sau các vai diễn của mình trong Malèna (2000), Le Pacte des loups (2001) và Irréversible (2002). Monica từng xuất hiện trong hai bộ phim quảng cáo thập niên 1990 cho Dolce & Gabbana của đạo diễn là Giuseppe Tornatore,[23] đây cũng chính là người đã đạo diễn phim Malèna.[24]

Bà từng tham gia nhiều bộ phim châu Âu và Hollywood như Nước mắt Mặt Trời (2003), Ma trận 2 (2003), Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu (2004), Anh em nhà Grimm (2005), Le Deuxième Souffle (2007), Nhiệm vụ bất đắc dĩ (2007), Ne te retourne pas (2009) và Phù thủy tập sự (2010).[25][26]

Bà được cho là đã được phát hiện thủ vai chính trị gia người Ấn Độ Sonia Gandhi trong bộ phim tiểu sử Sonia, dự định ban đầu được phát hành vào năm 2007 nhưng đã bị hoãn.[27] Bellucci lồng tiếng cho bản thân trong các bản phát hành tiếng Pháp và tiếng Ý của bộ phim Nhiệm vụ bất đắc dĩ (2007).[28] Bà cũng lồng tiếng cho Kaileena trong trò chơi điện tử Prince of Persia: Warrior Inside[29] và cho Cappy trong phiên bản tiếng Pháp của bộ phim hoạt hình năm 2005 mang tên Robots.

Ở tuổi 50, bà trở thành Bond girl lớn tuổi nhất trong loạt phim James Bond khi thủ vai Lucia Sciarra trong Spectre (2015). Năm 2018, Monica xuất hiện với tư cách là Nữ hoàng hút linh hồn của thế giới ngầm trong bộ phim Úc Nekrotronic.[30][31]

Đời tưSửa đổi

Bellucci kết hôn với nhiếp ảnh gia người Ý Claudio Carlos Basso vào năm 1990; họ ly hôn sau 18 tháng chung sống.[32]

Bellucci gặp diễn viên người Pháp Vincent Cassel năm 1996 khi cả hai cùng xuất hiện trong bộ phim L'appartement.[33] Cả hai cùng đóng chung với nhau trong năm bộ phim. Bellucci và Cassel tổ chức lễ cưới vào năm 1999[33] và có hai người con: Deva (sinh 2004)[34] và Léonie (sinh 2010).[35] Cặp đôi công bố việc ly hôn vào ngày 26 tháng 8 năm 2013.[33]

Bà từng nói: "Tôi là người theo thuyết bất khả tri, mặc dù tôi tôn trọng và quan tâm đến tất cả các tôn giáo. Nếu có điều gì đó tôi tin vào thì đó là một năng lượng bí ẩn; một năng lượng lấp đầy các đại dương khi có thủy triều, một năng lượng hợp nhất thiên nhiên và chúng sinh."[36]

Năm 2009, Bellucci ký một bản kiến ​​nghị ủng hộ đạo diễn Roman Polanski để kêu gọi thả tự do sau khi ông bị giam giữ vì cáo buộc về tội đánh thuốc mê và cưỡng hiếp một bé gái 13 tuổi vào năm 1977.[37]

Bellucci thông thạo tiếng Ý, tiếng Anh, tiếng Pháptiếng Tây Ban Nha.[38][39] Bà cũng học tiếng Aram cho vai diễn của mình trong Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu[39]tiếng Ba Tư để tham gia bộ phim Fasle Kargadan của đạo diễn người Iran Bahman Ghobadi.[40]

Danh sách phimSửa đổi

Điện ảnhSửa đổi

Năm Tựa đề Vai
1990 Vita coi figli Elda
1991 Riffa, LaLa Riffa Francesca
1992 Bram Stoker's Dracula Một cô dâu của Dracula
1992 Ostinato destino Marina/Angela
1994 Briganti - Amore e libertà Costanza
1994 I Mitici Deborah
1995 Palla di neve Melina
1995 Il cielo è sempre più blu
1995 Joseph Vợ của Pharaon
1996 The Apartment Lisa
1996 Sorellina e il principe del sogno Công chúa
1997 Stressati
1997 Dobermann Nat
1997 Mauvais genre Camille
1997 Come mi vuoi Nellina
1998 Le Plaisir Cô gái
1998 Compromise Monique
1998 Kaputt Mundi Giulia Giovannini
1998 A los que aman Valeria
1999 Comme un poisson hors de l'eau Myrtille
1999 Méditerranées Marguerite
2000 Under Suspicion Chantal Hearst
2000 Franck Spadone Laura
2000 Malèna Malèna Scordia
2001 Anh em nhà sói Sylvia
2002 Astérix & Obélix: Mission Cléopâtre Cleopatra VII
2002 Irréversible Alex
2003 Ricordati di me Alessia
2003 Nước mắt Mặt Trời Lena Fiore Kendricks
2003 Ma trận 2 Persephone
2003 Ma trận 3
2004 Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Maria Madalena
2004 Đội đặc nhiệm Barbara/Lisa
2004 She Hate Me Simona Bonasera
2005 Anh em nhà Grimm Hoàng hậu
2005 Combien tu m'aimes ? Daniela
2006 Sheitan La belle vampiresse
2006 N - Io e Napoleone Baroness Emilia Speziali
2006 concile de pierre, LeLe concile de pierre Laura Siprien
2007 Heartango L'inafferrabile
2007 Manuale d'amore 2 - Capitoli successivi Lucia
2007 Nhiệm vụ bất đắc dĩ Donna Quintano
2007 Deuxième Souffle, LeLe Deuxième Souffle Manouche
2008 Sanguepazzo Luisa Ferida
2008 L'uomo che ama Alba
2009 Người hai mặt Jeanne
2009 Private Lives of Pippa Lee, TheThe Private Lives of Pippa Lee Gigi Lee
2009 Baarìa – La porta del vento Bạn gái của Bricklayer
2009 Omaggio a Roma Tosca
2010 Whistleblower, TheThe Whistleblower Laura Leviani
2010 Phù thủy tập sự Veronica
2010 Rose, c'est Paris L'esprit de gala
2011 Manuale d'amore 3 Viola
2011 Un été brûlant Angèle
2012 Fasle Kargadan Mina
2013 Des gens qui s'embrassent Giovanna
2014 meraviglie, LeLe meraviglie Milly Catena
2014 Na Quebrada Paola
2015 Ville-Marie Sophie
2015 Spectre Lucia Sciarra
2016 On the Milky Road Nevesta
2016 Mozart in the Jungle Alessandra
2018 Nekrotronic Finnegan
2018 Dix pour cent Herself
2019 Plus Belles Années d'une vie, LesLes Plus Belles Années d'une vie Elena
2019 Spider in the Web Angela
2019 Radical Eye: The Life and Times of Tina Modotti Tina Modotti

Truyền hìnhSửa đổi

Năm Tựa đề Vai Notes
2017 Twin Peaks Bản thân Tập "Part 14"

Trò chơi điện tửSửa đổi

Năm Tựa đề Vai diễn lồng tiếng
2003 Enter the Matrix Persephone
2004 Prince of Persia: Warrior Within Kaileena

Lồng tiếngSửa đổi

Năm Tựa đề Vai Ngôn ngữ
2003 Sinbad: Legend of the Seven Seas Marina Pháp
2005 Robots Cappy

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm Giải thưởng Hạng mục Tác phẩm Kết quả
2003 Nastro d'Argento Ruy băng Bạc cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Ricordati di me Đoạt giải
2005 Globo d'oro Quả cầu vàng châu Âu Đoạt giải
1997 Giải César Nữ diễn viên triển vọng Apartment, TheThe Apartment Đề cử
2001 Giải thưởng Điện ảnh châu Âu Công chúng bầu chọn cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất Malèna Đề cử
2003 Giải Sao Thổ Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Anh em nhà sói Đề cử
2003 Gương mặt tương lai của thể loại Cinescape – Nữ Ma trận 23 Đề cử
2003 David di Donatello Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Ricordati di me Đề cử
2003 Teen Choice Awards Nữ ngôi sao đột phá trong phim điện ảnh Ma trận 2Nước mắt Mặt Trời Đề cử
2004 Giải Điện ảnh của MTV Nụ hôn xuất sắc nhất Ma trận 2 Đề cử
2005 Nastro d'Argento Ruy băng Bạc cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Đề cử
2007 N - Io e Napoleone Đề cử
2017 Nastro D'Argento châu Âu On the Milky Road Đoạt giải
2020 Giải Magritte Giải Magritte Danh dự Đoạt giải

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Martínez, Claudio (30 tháng 10 năm 2003). “Persephone”. El Diario de Hoy (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  2. ^ “Monica Bellucci in vacanza a casa dei genitori”. corrieredellumbria.corr.it. 
  3. ^ Rogers, Chris (4 tháng 12 năm 2016). “Monica Bellucci: 5 Things To Know About The New ‘Bond’ Girl”. Hollywood Life. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  4. ^ {{Chú thích web|url=http://www.boomsbeat.com/articles/108314/20160314/42-facts-model-actress-monica-bellucci.htm%7Ctựa đề=42 facts about model and actress Monica Bellucci|họ=Hrabkovska|tên=Silvia|website=BOOMSbeat|ngày=14 tháng 3 năm 2016|url lưu trữ=https://web.archive.org/web/20180816232054/http://www.boomsbeat.com/articles/108314/20160314/42-facts-model-actress-monica-bellucci.htm%7Cng%C3%A0y lưu trữ=ngày 7 tháng 7 năm 2018|url hỏng=no|ngày truy cập={{thế:today}}
  5. ^ Yucel, Author (4 tháng 8 năm 2011). "Monica Bellucci" by Monica Bellucci with Introduction by Giuseppe Tornatore – Book Review”. 
  6. ^ “Style & Substance: Monica Bellucci”. New York Post. 24 tháng 12 năm 2000. 
  7. ^ “Monica Bellucci Photos”. Maxim. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  8. ^ “The 100 Hottest Women of All-Time”. Men's Health. 2011. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  9. ^ “Monica Bellucci”. AskMen.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  10. ^ Salisbury, Mark (23 tháng 10 năm 2005). “Danger woman”. The Observer (Liên hiệp Anh). Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  11. ^ Morgoglione, Claudia (14 tháng 10 năm 2006). “Monica baronessa divertente per Virzì "Bello quel ruolo un po' da mignotta". La República (bằng tiếng Italy). Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  12. ^ Owen, Richard (4 tháng 6 năm 2005). “Actresses fight Pope over fertility”. The Times (Liên hiệp Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  13. ^ Shanelle Rein-Olowokere (11 tháng 5 năm 2010). “Moms-to-Be Who've Dared to Bare!”. People. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2010. 
  14. ^ “Monica Bellucci – Actor Profile – Photos & latest news”. Models.com. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  15. ^ “Sophie Marceau - Vì đó là em”. Thanh Niên. 16 tháng 11 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2020. 
  16. ^ Lawrenson, Amy (17 tháng 2 năm 2012). “Monica Bellucci Dolce & Gabbana's new face”. Elle. Bản gốc lưu trữ 22 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  17. ^ “Monica Bellucci”. Storm Model Management. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  18. ^ “5 cose che ancora non sapete di Monica Bellucci”. GQ Italia. 7 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  19. ^ “Milan Fashion Week: Dolce & Gabbana’s DNA Is in the Beauty of All Women”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2018. 
  20. ^ Trang Thu (24 tháng 9 năm 2018). “Minh tinh Ý Monica Bellucci đẹp hút hồn bên dàn mỹ nhân nức tiếng”. Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  21. ^ Thùy Dung biên tập (24 tháng 9 năm 2018). “Jessica Jung, Địch Lệ Nhiệt Ba bất ngờ sải bước trên sàn diễn Dolce & Gabbana Xuân – Hè 2019”. Elle. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  22. ^ Campion, Chris (5 tháng 10 năm 2006). “Fantasy made flesh”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  23. ^ Germanà, Monica (3 tháng 10 năm 2019). Bond Girls: Body, Fashion and Gender. Bloomsbury Publishing. ISBN 9781350124707. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. Bellucci has appeared in two 1990s Dolce and Gabbana adverts directed by Sicilian director Giuseppe Tornatore. 
  24. ^ Long Hy (4 tháng 3 năm 2015). “Những điều ít biết về cô đào U50 của James Bond”. Dân Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  25. ^ Peter Sciretta (19 tháng 6 năm 2009). “First Look: Monica Bellucci in The Sorcerer's Apprentice”. slashfilm.com. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  26. ^ “Bellucci, Monica”. About.com. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  27. ^ “Monica Bellucci – Indian Government Demands Halt To Gandhi Biopic”. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  28. ^ “Monica Bellucci's balancing act”. CraveOnline. 5 tháng 9 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  29. ^ Hohl, Nate (6 tháng 12 năm 2019). “Prince of Persia: Warrior Within radically redefined a classic franchise, for good and ill”. GameCrate. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  30. ^ Grobar, Matt; Grobar, Matt (7 tháng 9 năm 2018). “‘Nekrotronic’s Monica Bellucci On Playing Soul-Sucking Queen Of The Internet-Age Underworld – Toronto Studio”. 
  31. ^ “What’s Up Down Under? Bellucci Fronts NEKROTRONIC at TIFF — Alexandra Heller-Nicholas – ALLIANCE OF WOMEN FILM JOURNALISTS”. 
  32. ^ Williams, Sally (15 tháng 7 năm 2017). “Monica Bellucci on life after divorce and finding herself in her 50s”. The Telegraph. 
  33. ^ a ă â “Monica Bellucci, Vincent Cassel To Divorce After 14 Years”. HuffPost. 26 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2013. 
  34. ^ Silverman, Stephen M. (14 tháng 9 năm 2004). "Passion" actress bellucci has baby girl”. People. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  35. ^ “Actress Monica Bellucci has baby girl”. Agence France-Presse. 25 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  36. ^ Alexander, Ella (5 tháng 12 năm 2014). “Monica Bellucci: Inside the world of the new Bond woman, not the new Bond girl”. The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  37. ^ Shoard, Catherine; Agencies (29 tháng 9 năm 2009). “Release Polanski, demands petition by film industry luminaries”. The Guardian. 
  38. ^ “Multilingual Actors”. Internet Movie Database. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  39. ^ a ă Nair, Govind (22 tháng 3 năm 2019). “20 Famous People That Can Speak a Variety of Languages”. Cudoo. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 
  40. ^ Kirkland, Bruce (12 tháng 9 năm 2012). “Actress Monica Bellucci is not to be underrated”. Toronto Sun. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2020. 

Liên kết ngoàiSửa đổi