Myoui Mina

Nữ ca sĩ người Nhật Bản, thành viên nhóm nhạc Twice

Myoui Mina (Hangul: 묘이 미나, Kanji: 名井南; Kana: ミョウイミナ, Hán-Việt: Danh Tỉnh Nam, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1997), được biết đến với nghệ danh Mina (Hangul: 미나) là một nữ ca sĩ người Nhật Bản, thành viên nhóm nhạc Twice do công ty giải trí JYP Entertainment thành lập và quản lý.

Mina
171030 트와이스 LIKEY 쇼케이스 미나 (1).jpg
Mina biểu diễn ca khúc Likey cùng với Twice vào ngày 30 tháng 10 năm 2017.
Tên bản ngữミョウイミナ
SinhMyoui Mina
24 tháng 3, 1997 (23 tuổi)
San Antonio, Texas, Mỹ
Quốc tịchNhật Bản Nhật Bản
Tên khácSharon Myoui
Nghề nghiệpCa sĩ
Quê quánNishinomiyaHyōgo, Kobe, Nhật Bản Nhật Bản
Chiều cao163 cm (5 ft 4 in)
Cân nặng46 kg (101 lb)
Năm hoạt động2014-nay
Cha mẹMyoui Akira (cha)
Myoui Sachiko (mẹ)
Người thânMyoui Kai (anh trai).
Sự nghiệp âm nhạc
Nghệ danhMina
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2015 – nay
Hãng đĩaJYP Entertainment
Hợp tác với
Myoui Mina
Hangul
묘이미나
Hanja
名井南
Romaja quốc ngữMyoi Mi-na
McCune–ReischauerMyoi Mina
Hán-ViệtDanh Tỉnh Nam

Tiểu sửSửa đổi

Mina sinh ra tại San Antonio, Texas, Hoa Kỳ. Sau đó, gia đình cô chuyển đến thành phố NishinomiyaHyōgo, Kobe, Nhật Bản.[1] Được biết, bố Mina - ông Akira Myoui là giáo sư khoa chỉnh hình của bệnh viện Osaka Đại học Osaka. Ông còn là thành viên kỳ cựu của một hiệp hội chấn thương chỉnh hình ở Mỹ.

Cô học múa ba lê trong mười một năm trước khi gia nhập trường múa Urizip cho việc đào tạo múa hiện đại hơn.[2][3][4] Cô từng theo học tiểu học và trung học tại trường nữ sinh Obayashi Sacred Heart.

Năm 2013, trong khi mua sắm với mẹ trong một trung tâm mua sắm, cô được phát hiện bởi một nhân viên của JYP Entertainment và được mời tham gia JYP Entertainment Global. Cô đã tham dự một buổi thử giọng với ca khúc 'First love' của ca sĩ Nhật Utada Hikaru cho các công ty đang tại Nhật Bản và đã được chấp nhận vào chương trình thực tập tại Hàn Quốc ngày 2 tháng 1 năm 2014.

Sự nghiệpSửa đổi

Trước khi ra mắtSửa đổi

Trước khi ra mắt, cô tham gia MV "Feel" của Junho, "Stop Stop It" của GOT7, "Rose" của Wooyoung và "Only You" của Miss A.

Cô từng là thành viên "Japanese Line" (dự án nhóm nhạc sẽ ra mắt tại Nhật Bản của JYP Entertainment) cùng với các thành viên Sana, Momo và thực tập sinh cũ Sika. Tuy nhiên, sau đó Sika rời công ty nên nhóm đã không được ra mắt. 

2015-nay: Ra mắt với TwiceSửa đổi

Sau 1 năm là thực tập sinh, ngày 7 tháng 7 năm 2015, Mina chính thức trở thành một trong 9 thành viên của Twice qua chương trình tuyển chọn thực tế Sixteen. Cô đảm nhận vị trí nhảy chính và hát phụ trong nhóm.

Mina ra mắt chính thức với Twice chính thức vào ngày 20 tháng 10 năm 2015 đồng thời phát hành mini-album đầu tiên của nhóm "The Story Begins" và ca khúc chủ đề "Like Ooh-Ahh".

Tháng 7 năm 2019, khi Twice đang thực diễn tour diễn thế giới Twicelight, công ty chủ quán JYP thông báo rằng sau những dấu hiệu bất ổn của Mina như lo âu, sợ sệt khi ở trên sân khấu, công ty cùng bác sĩ chuyên khoa tâm lý xác nhận rằng Mina đã mắc hội chứng lo âu và quyết định rằng cô sẽ phải tạm hoãn các hoạt động với Twice để đảm bảo an toàn cho bản thân cô.

Ảnh hưởngSửa đổi

Mina được biết đến là một trong những vũ công chính của Twice. Cô cùng với các thành viên người Nhật Bản khác là MomoSana đã được tờ Chosun Ilbo ghi nhận trong việc cải thiện mối quan hệ giữa 2 nước Nhật BảnHàn Quốc. Trong cuộc bình chọn thường niên năm 2019 của Gallup Korea, cô được bình chọn là thần tượng nổi tiếng thứ 16 tại Hàn Quốc[5]

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Sáng tácSửa đổi

Năm Bài hát Album Nghệ sĩ Hợp tác với
2018 "Shot Thru The Heart"[6] Summer Nights Twice MomoSana
2019 "21:29"[7] Feel Special Tất cả các thành viên

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “트와이스 미나 고향 레코드점의 위엄”. Naver News (bằng tiếng Hàn) (Chosun Ilbo). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2017. 
  2. ^ Jeong, Ji-won. “트와이스TV' 미나 "11년 배운 발레 포기, 후회 없다". Xports News (bằng tiếng Hàn) (Xports Media). Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2016. 
  3. ^ “メッセージと卒業生”. Urizip Dance (bằng tiếng Japanese). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2016. 
  4. ^ “女神のデビューが!!!”. Urizip Dance's blog (bằng tiếng Japanese). Ameblo. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2016. 
  5. ^ “2019년 올해를 빛낸 가수와 가요 – 최근 13년간 추이 포함” (bằng tiếng Hàn). Gallup Korea. Ngày 28 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2019. 
  6. ^ “TWICE THE 2ND SPECIAL ALBUM Summer Nights TRACK LIST”. TWICE JYPE. Ngày 30 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  7. ^ “TWICE THE 8TH MINI ALBUM Feel Special Track List”. TWICE JYPE. Ngày 12 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2019. 

Tham khảoSửa đổi