Mở trình đơn chính
Mô tả đơn giản về nội cộng sinh:Cơ thể ban đầu (1) nhận cơ thể này (2, màu đỏ) chui vào trong nó, sau đó lại nhận cơ thể khác (3, màu xanh) xâm nhập.

Nội cộng sinh là phương thức cộng sinh của sinh vật này hoàn toàn ở trong cơ thể của một sinh vật khác.[1][2][3] Trong phương thức này, hai sinh vật đối tác có quan hệ tương hỗ với nhau và thường có lợi cho nhau.

Thuật ngữ này trong tiếng Anh là endosymbiont (phát âm IPA: /ˈɛndoʊ sɪmˌbaɪˈoʊn/) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: ἔν (endo là "bên trong") + sym (là "cùng nhau") + βίωσιβίωσ (bion là "sống").

Ví dụSửa đổi

  • Vi khuẩn cố định đạm (rhizobia) sống trong các nốt sần ở rễ cây họ đậu.
  • Vi khuẩn phân giải xenlulô sống trong ruột trâu, bò.

Trong nội cộng sinh, hai đối tác thường đều có lợi, nhưng không phải là tuyệt đối không có hại cho nhau.

Cần phân biệt nội cộng sinh với ngoại cộng sinh, cũng như cần phân biệt nội cộng sinh với nội kí sinh (kí sinh trong).

Nguồn trích dẫnSửa đổi


  1. ^ Margulis L, Chapman MJ (2009). Kingdoms & domains an illustrated guide to the phyla of life on Earth (ấn bản 4). Amsterdam: Academic Press/Elsevier. tr. 493. ISBN 978-0-08-092014-6. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ “endosymbiont”. 
  3. ^ “endosymbiont”.