Người Lự, còn gọi là người Tày Lự (Tai Lue, Tai Lü) (tiếng Thái: ไทลื้อ; phát âm tiếng Thái: [tʰāj.lɯ́ː]), hay còn gọi là Thái Lặc tộc (phiên âm Hán Việt; tiếng Trung: 傣仂族; bính âm: Dǎi lè zú) là một dân tộc ít người sinh sống trong khu vực Lào, Thái Lan, Myanmar, Việt NamTrung Quốc.

Người Lự
Người Lự ở Lai Châu.jpg
Tổng số dân
222.000 +
Khu vực có số dân đáng kể
Lào (134.100)
Thái Lan (83.000)
Việt Nam (6.757): Lai Châu
Myanmar (200.000)
Trung Quốc (280,000)
Ngôn ngữ
Tiếng Lự, Thái, Lào, Việt, khác
Tôn giáo
Phật giáo

Tiếng nói chính thức của người Lự là tiếng Lự, là ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái, họ ngôn ngữ Kra-Dai (Tai-Kadai). Người Lự cũng sử dụng ngôn ngữ chính thức tại các quốc gia mà họ sinh sống.

Tại Việt Nam, người Lự được công nhận là một trong số 54 dân tộc [1]. Theo điều tra dân số 1/4/2019 có 6.757 người Lự.[2]

Dân số và địa bàn cư trúSửa đổi

Tại LàoSửa đổi

Tại Lào, theo ước tính của Ethnologue[3] thì có khoảng 134.100 người Lự (Ethnologue ghi là năm 2000) sinh sống tại các tỉnh Phongsali, Luang Namtha, Bokeo, Oudomxai, Xaignabouli, Luang Prabang.

Tại Thái LanSửa đổi

Tại Thái Lan, theo ước tính của Ethnologue [4] thì có khoảng 83.000 người Lự (Ethnologue ghi là theo ước tính năm 2001 của Johnstone và Mandryk) sinh sống tại các tỉnh Chiang Rai, Phayao, Lamphun, Nan và khắp miền bắc Thái Lan.

Tại Việt NamSửa đổi

Tại Việt Nam, người Lự được công nhận là dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc. [5][6].

Dân số theo điều tra dân số 1999 là khoảng 4.964 người [7]. Cư trú chủ yếu tập trung ở hai huyện Phong ThổSìn Hồ, tỉnh Lai Châu và một lượng đáng kể di cư vào tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên, theo ước tính năm 2003 của Ủy ban dân tộc Việt Nam thì dân tộc này có dân số 5.553 người[8].

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Lự ở Việt Nam có dân số 5.601 người, cư trú chủ yếu tại 21 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Phần lớn người Lự cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (5.487 người, chiếm 98,0% tổng số người Lự tại Việt Nam), Thái Nguyên (75 người), các tỉnh còn lại có không quá 10 người[9].

Tại Trung QuốcSửa đổi

Tại Trung Quốc, họ được coi là một phần của dân tộc Thái.

Đặc điểm kinh tếSửa đổi

Người Lự có truyền thống làm ruộng từ lâu đời. Họ biết dùng cày bừa, đào mương dẫn nước, gieo mạ, cấy lúa, nhưng lại không làm cỏ, bón phân. Họ còn làm thêm nương để trồng lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, bông, chàm và nhà nào cũng có vườn cạnh nhà. Người Lự có tập quán ăn cơm nếp là chính, thích ăn ớt, ưa uống nước chè và đàn ông thường hút thuốc lào. Trong các nghề phụ của người Lự thì nghề dệt phát triển nhất. Mỗi gia đình người Lự thường có vài ba khung cửi. Tài nghệ dệt, may, thêu đều khá cao, từ chiếc quần của đàn ông cho đến váy, áo, khăn của phụ nữ thường có hoa văn trang trí rực rỡ trên nền vải nhuộm chàm, nhất là trang phục ngày lễ hội càng được trang trí nhiều và đẹp hơn.

Hôn nhân gia đìnhSửa đổi

Trai gái Lự được tìm hiểu nhau tự do rồi xin ý kiến cha mẹ để kết hôn, nhưng họ phải nhờ thầy số xem tuổi trước, nếu hợp tuổi mới lấy nhau. Con trai phải ở rể vài ba năm rồi ra ở riêng. Con lấy họ theo cha, tên con trai có chữ đệm Bạ, tên con gái có chữ đệm Ý. Người Lự sống tình nghĩa, thủy chung. Vợ chồng rất ít ly dị nhau, nếu trai bỏ vợ, gái bỏ chồng đều bị phạt nặng theo luật tục.

Tục lệ ma chaySửa đổi

Sau khi chôn cất người chết một thời gian, tang gia làm một mái nhà táng giấy có trang trí đẹp rồi bỏ vải, đệm, gối, thóc, tiền vào đó để làm lễ đưa linh hồn người chết vào chùa.

Văn hóaSửa đổi

Người Lự hay hát dân ca (tiếng Thái: ไทลื้อขับ, Phát âm tiếng Thái: [Thị lụ̄̂x k̄hạb]), yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, các loại nhạc cụ truyền thống như sáo, trống, đàn nhị,... Âm nhạc đương đại của người Lự ở Lào, Thái Lan chịu ít nhiều từ dòng nhạc mó lam, luk thung và múa truyền thống lăm vông.

Chữ viết của người Lự chịu ảnh hưởng từ chữ Môn từ Miến Điện.

Tôn giáoSửa đổi

 
Ngôi đền Phật giáo của người Lự ở Cảnh Hồng, Vân Nam, Trung Quốc

Người Lự ở Trung Quốc, Lào và Thái Lan đều theo Phật giáo Nam tông. Nó bao gồm một chính điện, một tu viện và một phòng trống, ngôi chùa trung tâm của Phật giáo cộng với một pháp đường, một tòa nhà kinh Phật và một ngôi chùa. Diện mạo của chánh điện nhìn chung là mái kiểu Wat một mái hoặc kép, hoặc một đỉnh núi lơ lửng, một mái kiểu Wat kép hình đa giác hoặc hình phụ. Sau một hoặc hai ngã trên dốc, có dốc một mặt hai tầng hoặc ba tầng, dốc ba cạnh và dốc năm cạnh. Số lượng dốc có liên quan đến cấp độ của ngôi chùa Phật giáo.

Đại tôn giáo Phật giáo Nguyên thủy, nhiều lễ hội và hoạt động Phật giáo. Lễ hội Songkran, được tổ chức vào tháng 6 Dương lịch hàng năm, là lễ hội lớn nhất, các vị Phật sẽ được tôn thờ, một bữa tiệc linh đình sẽ được tổ chức, các nhà sư, người thân và bạn bè sẽ được mời đến dự tiệc và những lời chúc mừng sẽ được gửi đến mỗi người. khác bằng cách té nước.

Nhà cửaSửa đổi

Người Lự ở nhà sàn, hai mái, mái phía sau ngắn, còn mái phía trước kéo dài xuống che cho cả hàng hiên và cầu thang. Cửa ra vào ở hướng Tây Bắc. Trong nhà có hai bếp, một bếp để nấu ăn và một bếp để đun nước tiếp khách. Các công trình của người Lự bị ảnh hưởng bởi môi trường tự nhiên như khí hậu, độ cao, địa hình, vật liệu xây dựng và các môi trường xã hội như dân số, kinh tế, tôn giáo, chính trị, công nghệ, tư tưởng. Chủ yếu là các hàng rào khô đẹp và khéo léo được đại diện bởi Tây Song Bản Nạp. Các tòa nhà kiểu cách, những ngôi nhà lợp bằng đất dày và chắc chắn, có mái bằng bằng đất được thể hiện bằng những ngôi nhà dân cư của người Lự ở Cảnh Hồng (Trung Quốc), Lào và Thái Lan cũng như các tòa nhà chùa Phật giáo trang nhã và lộng lẫy.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Dân tộc Lự. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, 2016. Truy cập 01/04/2017.
  2. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra dân số 2019. p. 44. Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê, 19/12/2019. Truy cập 1/09/2020.
  3. ^ Languages of Laos
  4. ^ Languages of Thailand
  5. ^ Các dân tộc Việt Nam. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ Việt Nam, 2016. Truy cập 01/04/2017.
  6. ^ Các dân tộc Việt Nam Lưu trữ 2018-06-22 tại Wayback Machine. Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Hậu Giang, 2012. Truy cập 01/04/2017.
  7. ^ Điều tra dân số 1999, tập tin 58.DS99.xls
  8. ^ “Website Ủy ban dân tộc”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009.
  9. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr.134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011.