Người Māori (/ˈmaːɔɾi/, /ˈmɑːʊəri/)[6] là những người Polynesia bản xứ của New Zealand. Người Māori có tổ tiên là những dân tộc thiểu số sống ở đông Polynesia, tới New Zealand trong một số đợt hải hành bằng thuyền nhỏ trong giai đoạn nào đó giữa 1250 và 1300.[7][8] Trải qua nhiều thế kỷ bị cô lập, những cư dân Polynesia này đã phát triển một nền văn hóa độc đáo được biết đến với tên gọi "Māori", với một ngôn ngữ riêng, một kho thần thoại phong phú, các nghề thủ công và nghệ thuật trình diễn đặc sắc. Ban đầu người Māori hình thành nên các bộ lạc, dựa trên các tục lệ và cách tổ chức xã hội kiểu đông Polynesia.

Māori
Tổng số dân
xấp xỉ 750.000
Khu vực có số dân đáng kể
 New Zealand620.000 (điều tra năm 2006)[1]
 Úc126.000 (ước 2006)[2]
 Anh Quốcxấp xỉ 8.000[3]
 Hoa Kỳ< 3.500[4]
 Canada1.305[5]
Các nơi khácxấp xỉ 8.000[3]
Ngôn ngữ
Tiếng Māori, tiếng Anh
Tôn giáo
Thiên chúa giáo, tôn giáo Māori
Sắc tộc có liên quan
các dân tộc Polynesia khác,
người Austronesia

Lịch sửSửa đổi

 
Khu định cư của người Māori ở New Zealand từ hành trình của tộc người Nam Đảophía Nam Thái Bình Dương.

Tiền sửSửa đổi

 
Những di vật thời kỳ tiền cổ đại ở viện khảo cổ học Wairau Bar, được trưng bày tại bảo tàng Canterbury
 
Mô hình một pā (hillfort) được xây trên mũi đất. Pā được phát triển để bảo vệ khỏi các cuộc chiến giữa các bộ lạc gia tăng cùng với việc quá tải dân số.

Liên lạc với người Châu ÂuSửa đổi

 
Những người Châu Âu đầu tiên nhìn thấy người Maori, ở Vịnh Sát Nhân (nay là Vịnh Vàng) theo cuốn nhật trình của Abel Tasman (1642)
 
Hình ảnh một người Maori ký kết Hiệp ước Waitangi vào năm 1840, New Zealand và người Maori chính thức gia nhập Đế quốc Anh

Văn hóaSửa đổi

 
Wharenui (nhà khách) ở làng Ōhinemutu, Rotorua (và một tekoteko ở trên nóc)

Truyền thốngSửa đổi

 
Tù trưởng Māori với hình xăm (moko) theo miêu tả của James Cook và thủy thủ đoàn

Ngôn ngữSửa đổi

 
Lượng người nói Māori theo điều tra dân số 2013. [9]
  <5%
  5–10%
  10–20%
  20–30%
  30–40%
  40–50%
  >50%

Xã hộiSửa đổi

 
Māori whānau from Rotorua in the 1880s. Many aspects of Western life and culture, including European clothing and architecture, became incorporated into Māori society during the 19th century.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Statistics New Zealand. “QuickStats About Māori”. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2010.
  2. ^ Hamer, Paul (2008). “One in Six? The Rapid Growth of the Māori Population in Australia” (PDF). New Zealand Population Review. 33/34: 153–176. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2012.
  3. ^ a b Walrond, Carl (ngày 4 tháng 3 năm 2009). “Māori overseas”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2010.
  4. ^ New Zealand-born figures from the 2000 U.S. Census; maximum figure represents sum of "Native Hawaiian and Other Pacific Islander" and people of mixed race. United States Census Bureau (2003).Census 2000 Foreign-Born Profiles (STP-159): Country of Birth: New ZealandPDF (103 KB). Washington, D.C.: U.S. Census Bureau.
  5. ^ Statistics Canada (2003).(232), Sex (3) and Single and Multiple Responses (3) for Population, for Canada, Provinces, Territories, Census Metropolitan Areas and Census Agglomerations, 2001 Census – 20% Sample Data. Ottawa: Statistics Canada, Cat. No. 97F0010XCB2001001.
  6. ^ “Maori”. Từ điển tiếng Anh Oxford (ấn bản 3). Nhà xuất bản Đại học Oxford. tháng 9 năm 2005. (yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)
  7. ^ Howe (2003), p. 179
  8. ^ New Scientist Webpage: Rat remains help date New Zealand's colonisation. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2008.
  9. ^ 2013 Census QuickStats, Statistics New Zealand, 2013, ISBN 978-0-478-40864-5