Mở trình đơn chính
Ngựa Kiền Trắc

Ngựa Kiền Trắc hay Kiền Trắc Mã (tiếng Phạn: Kanthaka) hay còn gọi là ngựa Kiền là con ngựa trắng ưa thích của thái tử gia Tất Đạt Đa (Siddhartha) tức là Phật Thích Ca sau này. Tương truyền rằng, sau khi đưa thái tử gia Siddhartha xuất gia trở về, con ngựa Kanthaka đã quá đau buồn, vỡ tim (broken hearted) mà chết[1]. Kiền Trắc Mã hay Kanthaka còn gọi là Kiền Đức, Càn Trắc, Khiên Đặc, Ca-Tha-Ca, chữ "Kiền" trong âm chữ Hán còn đọc là Càn (乾) chỉ về cái tượng tôn nhất như Trời, còn chữ "Trắc" (側) tức là nghiêng mình, cùng có chữ 測 cũng đọc là “trắc” có nghĩa đo sâu cạn (quan trắc, trắc nghiệm), liệu lường.

Trong các thuyết Phật giáo và các câu chuyện liên quan, nó là con ngựa hay nhất trong Hoàng cung của đức vua Suddhodana và cũng là con ngựa yêu thích của thái tử Siddhartha, khi thái tử dạo chơi bên ngoài hoàng cung, chính con ngựa này đã giúp cho hoàng tử quyết tâm chân tu, dứt duyên với bụi trần. Khi Tất Đạt Đa rời bỏ cung điện để tu hành, ngựa Kiền Trắc cũng theo tới cùng và phụng sự không ngừng nghỉ. Sau cùng khi chết đi, vì nhiều công đức, ngựa Kiền Trắc được tái sinh là một đạo sĩ, được ngộ đạo và nhập niết bàn.

Theo truyền thuyết dân gian, Kanthaka được mô tả có chiều dài 18 cubit (1 cubit tương đương 45,72 cm) và chiều cao tương xứng và bộ lông trắng". Đây là con ngựa yêu của Đức Phật Siddhartha Gautama. Đức Phật đã cưỡi trên lưng Kanthaka trốn khỏi cung điện của gia đình khi ông quyết định trở thành nhà tu hành. Sau khi chết, Kanthaka được tái sinh lên thiên giới và tu luyện đạt được giác ngộ[2]. Đây là con ngựa được các tín đồ Phật giáo tôn thờ.

Câu chuyệnSửa đổi

Có nhiều câu chuyện xoay quanh con ngựa này, trong đó nguồn gốc của nó còn có ý kiến khác nhưng giai đoạn con ngựa này phục vụ Thái tử và chở ông này đi tu và sau đó chết đi thì nội dung tương tự nhau ở các câu chuyện và các văn bản. Những mô tả về cái chết của ngựa cũng chưa thống nhất trong các văn bản nhưng kiếp sau của nó thì cơ bản thống nhất.

Nguồn gốcSửa đổi

Theo thuyết Phật giáo thì cho rằng con ngựa này tồn tại vào thế kỷ thứ VI Trước Công nguyên, ở BiharUttar Pradesh, Ấn Độ (sinh năm 623 TCN-mất năm 594 TCN). Một câu chuyện cho biết Kiền Trắc là giống ngựa quý từ Phương Đông được đem cống cho hoàng cung vua Tịnh Phạn và nó thuộc sở hữu của Thái tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn, dòng họ Thích Ca. Nó được Thái tử gọi là Kanthaka nhưng cũng có những người gọi nó là Kiền Trắc được vua Tịnh Phạn chọn làm quà sinh nhật thứ mười lăm cho Thái tử. Nó được tuyển lựa kỹ càng trong một trăm ngựa quý từ kinh thành Tỳ-Da-Ly, mang về. Kanthaka là con ngựa đẹp nhất của vương quốc lân bang mà vì tình giao hảo nên vua này đã có được.

Theo câu chuyện này, do vị Thái tử đã thắng hầu hết những giải quan trọng như bắn cung, cưỡi ngựa và nhận được giải thưởng là một thớt voi trắng và một con ngựa trắng. Khi Sa Nặc (Channa) dắt nó tới gần thì nhà vua tiến về phía nó, cầm lấy giây cương, rồi đích thân vua trao giây cương cho Thái tử và nói đó là quà sinh nhật của ông này. Khi nhìn vào thái tử khiến từng sợi tơ bờm trắng của nó rung, khi Thái tử nghiêng xuống, vòng hai tay ôm lấy đầu nó thì đôi vành tai nó không thể không lay động, và bốn vó nó khó mà không nhún nhẩy theo dòng nhạc. Từ hôm đó, nó được gần gũi với Thái tử.

Những câu chuyện phổ biến hơn cho biết ngựa Kiền Trắc được sinh ra trong nhà của Đề-Bà-Đạt-Đa, là con ngựa bạch của hoàng thân Đề-Bà-Đạt-Đa, anh em bà con với Thái Tử Tất Đạt Đa. Những câu chuyện hoang đường liên quan đến thuyết Phật kể rằng, Kiền Trắc là một trong bảy nhân vật đồng sanh cùng với Tất Đạt Đa trong đêm trăng tròn tháng 4 năm 623 Trước Công nguyên. Kiền Trắc vừa sinh ra đã đứng dậy trên bốn chân loạng choạng, chưa vững nhưng đuôi đã ve vẩy. Sau vài cái vẩy đuôi nó đứng thẳng lên và cất tiếng hí. Nhiều con vật ở các chuồng xung quanh để ý hướng về nó. Khi trưởng thành nó dài 18 cubit (đơn vị đo chiều dài ngày xưa bằng 45 cm 72) và là một con tuấn mã hay.

Quá khứSửa đổi

Khi ở nhà Đề-Bà-Đạt-Đa, ngựa Kiền Trắc bị đối xử tàn tệ. Những câu chuyện cho biết Đề-Bà-Đạt-Đa đánh đập, khổ sai những con vật, cho chúng ăn gạo đục, uống nước bẩn. Các con vật vì thế sợ Đề-Bà-Đạt-Đa, chỉ cần thấy bóng dáng thì liền cúi đầu, im lặng. Nhưng điều đặc biệt là con ngựa Kiền Trắc thì vẫn vang, chạy nhảy mỗi khi thấy Đề-Bà-Đạt-Đa. Ông ta ra sức hành hạ nó nhưng đòn roi không làm khuất phục con ngựa, Kiền Trắc thậm chí còn dữ dằn hơn, giơ chân đe dọa những kẻ dám đánh mình.

Kiền Trắc theo bản năng như thách thức sự áp đặt làm hoàng thân ngạc nhiên và tức giận, khi thấy tất cả gặp mình tỏ ra run sợ khép nép, riêng con ngựa Kiền Trắc gặp lại vẩy đuôi. Kiền Trắc ăn rất ít mà lại chạy rất xa dẻo dai, vẫn vẩy đuôi như vẫn tỏ ra không mệt mỏi. Hoàng thân ra sức vung roi đánh đập Kiền Trắc vào be sườn non, vào bất cứ chỗ nào trên mình Kiền Trắc. Mặc dù bị hành hạ nhưng Kiền Trắc còn sức còn ve vẩy đuôi như tỏ ra bất chấp, như trêu ngươi. Đề-Bà-Đạt-Đa cuối cùng phải nhốt vào hầm không cho ăn uống.

Chủ mớiSửa đổi

Những câu chuyện kể lại rằng Thái tử Tất Đạt Đa nghe tin đồn về một chú ngựa bị hành hạ. Ông này liền tìm đến xin Đề-Bà-Đạt-Đa bàn giao cho mình con ngựa này. Khi thấy con ngựa bị bỏ đói ốm nhom, thương tích đầy người nhưng gặp vị Thái Tử trẻ tuổi không tỏ ra buồn rầu, vô tư ve vẩy đuôi. Hoàng thân trong cơn giận, muốn cho cho khuất mắt nên đã đồng ý. Kiền Trắc có nơi ở mới. Kiền Trắc được đưa về phủ của thái tử và nuôi dưỡng. Điều này làm Kiền Trắc cảm động nên rất nghe lời Tất Đạt Đa và chỉ có thái tử mới có thể sai bảo được nó.

Sa Nặc (Chana) chăm sóc con vật. Ngựa được ăn loại tốt nhất, sàng sẩy sạch sẽ, lúa mạch non ngậm sữa đòng đòng ướt đẫm sương đêm, nó thường xuyên tắm mát, được ăn ngon, nên con ngựa phục hồi sức khoẻ nhanh chóng, bộ lông trắng bóng mượt như được xoa dầu. Cho dù bị hoàng thân bỏ đói, khi được ăn no, Kiền Trắc trở nên nhẹ nhàng bốn vó tung bay trên đường. Dù vậy, Thái Tử ít khi để ngựa Kiền Trắc phải vất vả. Thái Tử cởi ngựa dạo chơi trong rừng, một vòng qua xóm làng, qua hoàng thành, mặc dù Kiền Trắc luôn vẩy đuôi, nhưng ông chủ lắng nghe chú thở phì phò có vẻ mệt mỏi thì đều cho ngựa dừng lại nghỉ ngơi và thong dong bước kiệu trở về.

Phục vụSửa đổi

 
Những bức tượng mô tả ngựa Kiền Trắc đang phục vụ cho Tất Đạt Đa

Do tục lệ của thị tộc Kshatriya Sakya, thái tử buộc phải chứng tỏ có những kỹ năng xứng đáng của một chiến binh như cưỡi ngựa, cưỡi ngựa bắn cung. Trên lưng Kanthaka, thái tử đã đánh bại người anh em họ Devadatta trong cuộc thi bắn cung, Anuruddha trong cuộc thi cưỡi ngựa do con ngựa này phối hợp ăn ý.

Trong ngày hội kén rể của vua Thiện Giác, với sức phi nhanh của Kiền Trắc, đã bỏ rơi các con ngựa của các công tử khác đến hai vòng đua. Không một con ngựa nào trong nhóm đó có thể sánh với con Kiền Trắc. Sau đám cưới, Kanthaka là con ngựa kéo xe do Channa, người hầu cận đứng đầu hoàng gia điều khiển hộ tống thái tử Siddhartha đi đây đó trong vùng Kapilavastu.

Trên đường, Channa không dùng roi, vì chỉ cần nhích nhẹ giây cương là nó đã biết ý chủ. Channa cùng Thái tử thưởng ngoạn cảnh đẹp mà Thái tử còn thường muốn tới những nơi cùng khổ, đói nghèo để thăm viếng, giúp đỡ. Trong suốt những cuộc hành trình trên xe ngựa Kanthaka, Channa đã giải thích cho thái tử cảnh tượng hiện thực xã hội. Cuối cùng, ông này đã đi đến quyết định xuất gia và dùng Kanthaka trốn khỏi cung điện khi người lính canh cuối cùng ngủ thiếp đi. Ban đầu người hầu cận Channa đã phản kháng và cự tuyệt chấp nhận quyết định bỏ trốn của thái tử

Sứ mạngSửa đổi

300px|nhỏ|phải|Bức tranh vẽ về cuộc Đại Khởi hành Sau đó Channa thắng yên Kanthaka chở thái tử, dẫn lối ra khỏi kinh thành đến khu rừng bên bờ sông Anoma trong Cuộc ra đi vĩ đại (Le grand départ). Họ ra đi lúc nửa đêm và đến rạng sáng thì tới cánh rừng cách thành Ca-tỳ-la-vệ rất xa. Vào năm Thái tử được 29 tuổi đã trốn khỏi kinh thành Ca-Tỳ-La-Vệ (Kapilavatthu) trong đêm trăng tròn rằm tháng sáu bằng con ngựa này.

Truyền thuyết kể rằng, họ đã vượt qua nhiều vương quốc nhưng không một ai biết bởi bốn vó ngựa dường như không phát ra tiếng động, ngựa Kiền Trắc đã vượt một chặng đường dài 30 do-tuần, vượt qua khỏi dòng sông Anomā để đưa Thái tử xuất gia tầm đạo[3]. Sau khi Bồ-tát cắt bỏ râu tóc và gửi lại cân đai áo mão cho Xa-Nặc mang trở về trình vua cha, ông xuống ngựa và chỉ đạo Xa Nặc đem ngựa trở về hoàng cung.

Theo các kinh sách, Kanthaka đã nhảy sang bờ bên kia sông. Nó cùng người giữ ngựa Sa Nặc đã đưa Thái Tử Tất Đạt Đa vượt hoàng thành Ca Tỳ La Vệ để xuất gia ngay giữa một đêm trăng lạnh mùa xuân. Sau đó, Channa cưỡi Kanthaka trở về cung điện[4] trao cho đức vua Suddhodana trang phục, quần áo, vũ khí và lọn tóc của thái tử. Sau khi chia tay Thái tử tại bờ sông Anoma thuộc Ấn Độ, ngựa Kiền Trắc phát bệnh rồi chết, sau đó tái sinh lên cõi Trời làm tiên nhân.

Cái chếtSửa đổi

Cái chết của Kanthaka được mô tả khác nhau theo từng văn bản có khi nói nó được tìm thấy xác tại bờ sông Anoma hay trên đường trở về Kapilavastu. Theo các kinh sách Phật giáo, Kanthaka được tái sinh làm một người Bà-la-môn. Phật bản hạnh cho biết sau khi đưa thái tử xuất gia, Kiền Trắc trở về thành buồn bã không ăn, chẳng bao lâu mạng chung, sanh lên cõi trời thứ 33.

Trong kinh Thiên cung sự (Vimānavatthu) có chép rằng ngựa Kiền Trắc sinh ra một ngày với thái tử Thích Ca, tại thành Ca-tỳ-la-vệ. Khi thái tử định xuất gia, ông ta đến vỗ về con ngựa và bảo nó đưa lên rừng, ngựa Kiền Trắc lấy làm hân hoan. Đưa ông lên rừng rồi, lúc trở về, nó chẳng còn muốn sống nữa. Nó nhịn ăn và qua đời. Do công đức to lớn là đã đưa một vị Phật toàn giác lên đường xuất gia, Kanthaka tái sinh là một thiên nam trên cõi trời Đao Lợi. Ở cõi trời ấy, có đủ cung điện nguy nga, vị trời ấy cũng lấy tên là Kiền Trắc (Kantaka) với cung điện cao to lộng lẫy bằng ngọc lưu ly (veḷuriya) và đủ thứ ngọc báu. Ngài Mục Kiền Liên, 1 trong 10 đại đệ tử của Phật, khi lên cõi trời Đao Lợi đã gặp vị trời Kiền Trắc. Vị trời ấy đã đến chào Mục Kiền Liên và thuật lại đời mình khi làm con ngựa Kiền Trắc ở cung vua Tịnh Phạn.

Một số sách còn ghi rằng khi biết thái tử thành đạo, Kiền Trắc (bấy giờ là chư thiên) đã hạ sanh xuống thành Na-ba, Trung Thiên Trúc, là con của một vị Bà-la-môn, lớn lên vị này đến chỗ Đức Phật nghe pháp, được giải thoát và nhập Niết bàn.

Tín niệmSửa đổi

 
Cảnh Tất Đạt Đa và ngựa Kiền Trắc ở chùa Sà Lon

Theo tín niệm, Kanthaka (Kiền Trắc) là con ngựa quý ra đời tại hoàng cung của Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) cùng một ngày với Thái tử Siddattha. Ngựa Kiền Trắc lớn lên và phục vụ nhà vua cho đến năm 29 tuổi, nó cùng với người giữ ngựa Channa (Xa-nặc) đưa Thái tử lên đường xuất gia, sau đó ngựa đau buổn phát bệnh, từ trần và tái sanh lên cõi Trời. Theo kinh tạng Pàli, có là một trong bảy nhân vật đồng sanh cùng một ngày với Thái tử Tất Đạt Đa gồm Thái tử, Công chúa Da-du, Ca-lưu-đà-di (Kaludàyin), Xa-nặc (Channa), Kiền Trắc (Kanthaca), voi báu và cây Bồ đề.

Kiền Trắc Mã là một con ngựa trắng (bạch mã) mà bạch mã là con ngựa Balaha là một tiền thân của Phật Thích Ca (Jataka/Bổn sanh kinh) và ở kiếp cuối cùng, là con ngựa Kiền Trắc, vật cỡi của thái tử Tất Đạt Đa. Con ngựa trắng không có người cỡi đã trở thành biểu tượng của chính Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngựa đã đi vào kinh sách Phật giáo rõ nét nhất ngựa Kiền Trắc. Hình ảnh con ngựa Kiền Trắc phi nước đại vượt dòng sông Anoma xuất gia tìm đạo giải thoát cứu độ loài người và chúng sanh là một bức tranh mang sắc màu thiêng liêng nhiệm mầu.

Kiền Trắc vì thế là một con ngựa nổi tiếng, đáng kể nhất với công lao đưa Thái tử vượt thành xuất gia. Truyền thuyết về chuyến đi này cho tới nay vẫn còn đọng dấu ấn. Thái tử cưỡi trên lưng ngựa phi qua sông. Xanặc bám theo sau đuôi ngựa, Xa-nặc biết một ngõ sau nào đó, để dẫn Thái tử và con ngựa đi qua êm ái. Ba thầy trò đi hơn mười dặm đường, đến địa phận thành Tỳ-xá-ly (Vesali), qua sông Anoma (Nesa njarã) thì trời vừa sáng. Tại đây dừng ngựa, cắt tóc, giao áo mão cho Xa-nặc đem về. Đó là chuyến đi cuối cùng của Kiền Trắc đưa Thái tử.

Đối với Phật tử thì nhắc đến loài ngựa thì không thể nào không nhắc đến tuấn mã Kiền Trắc (Kaṇṭhaka) trong kinh điển Phật giáo. Có những đoạn thơ lưu truyền mô tả lại cảnh tượng này là:

 
Bức tranh kể về Tất Đạt Đa và ngựa Kiền Trắc đi tu
Trong chốn kinh thành tuyệt diệu xưa,
Ca-tỳ-la-vệ, tộc Thích Ca.
Ta là Kiền Trắc, cùng sanh nhựt;
Với Thái tử là Tất Đạt Đa.
Vào nửa đêm, vương tử xuất gia.
Ði tìm giác ngộ, giã từ nhà
Với bàn tay dịu bao màn lưới,
Các móng đồng thau chiếu sáng lòa.
Ngài bảo tôi, vừa thúc mạn sườn:
"Hãy mang ta, hỡi bạn hiền thương
Khi nào giác ngộ đường vô thượng
Ta sẽ giúp người khắp thế gian".
Khi được nghe lời Ngài,
Lòng ta rộn rã vạn niềm vui,
Với tâm phấn khởi, đầy hoan hỉ,
Tuân lệnh trên, ta vội hí dài.
Khi biết hoàng nam Tịnh Phạn Vương,
Ðại danh lừng lẫy, cỡi lưng mình
Với tâm phấn khởi, đầy hoan hỉ
Ta rước người vô thượng chí tôn.
Vượt qua đất nước của người,
Khi mặt trời lên đã quá xa,
Ngài bước đi, lòng không luyến tiếc
Bỏ ta cùng với chú Chan-na.
Ta liếm chân Ngài bằng lưỡi
Chân Ngài có các móng màu đồng
Và ta kêu khóc nhìn theo mãi,
Khi thấy Ngài đi, bậc Ðại hùng.
Vì không còn thấy bóng huy hoàng
Của Thái tử, con Tịnh Phạn Vương
Ta ngã quỵ ngay, lâm trọng bệnh
Và nhanh chóng giã biệt trần gian.

Nghệ thuậtSửa đổi

 
Tượng ngựa Kiền Trắc tại Chùa Linh Sơn tự ở Vũng Tàu, Việt Nam
 
Tượng ngựa Kiền Trắc trong điêu khắc tại bảo tàng ở Luân Đôn, Anh

Miêu tả về Kanthaka cũng xuất hiện rộng rãi trong mỹ thuật Phật giáo. Kanthaka hiện diện trên các bích họa, phù điêu, tượng tròn về cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở chùa tháp Khmer Nam bộ, Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam. Trong các bức phù điêu miêu tả việc thái tử cưỡi con Kiền Trắc vượt thành xuất gia thì bức phù điêu hiện còn ở Amaravati/Amaravathi là xưa nhất còn tồn tại hiện nay. Bức tranh đào được ở vùng Gandhara, phía trên vẽ bốn vị trời nâng bốn vó của Kiền Trắc, trời Đế Thích cầm lọng che thái tử ngồi trên lưng ngựa và có nhiều người cung kính theo sau.

Trong động thứ nhì của Linh Nham Quật TựĐại Đồng, Trung Quốc cũng còn những bức tranh loại này. Những bản vẽ khác cũng được trưng bày trong các bảo tàng ở Luân ĐônCalcutta. Trong truyền thống Phật giáo Nam tông, các tác phẩm thể hiện kỳ tích Cuộc xuất gia vĩ đại này thường có một con chằn dữ dằn đứng trước đầu ngựa Kanthaka cản việc xuất gia của thái tử. Đây là motif nghệ thuật phổ biến, Motif này cũng thấy trong tranh Đông Hồ là Con ngựa không có người cỡi mà lại có lọng che rất trang nghiêm. Cũng có thể thấy nguồn gốc của nó (Kiền Trắc Mã) và Bạch mã của Phật giáo.

Chuyện Thái tử nửa đêm toan rời bỏ hoàng cung lên đường cùng Xa-nặc cỡi ngựa Kiền-trắc đến tận bờ sông Anoma đã là nguổn cảm hứng của thi ca, nhạc kịch, hội họa, điêu khắc. Hơn hai mươi thế kỷ qua. Chuyện Lâu đài của ngựa Kiền Trắc là một trong những chuyện Thiên cung đặc sắc, qua đó kết tập kinh điển đã đầu tư sáng tác những vần thơ ca tụng cảnh lâu đài của Thiên tử Kiền Trắc với đầy đủ thiên lạc: sắc, thanh, hương, vị, xúc trong muôn ngàn vẻ đẹp. Tiếp theo đó là lời tự thuật của Thiên tử Kiền Trắc về nghiệp nhân của chàng ở cõi người và nghiệp quả đang thọ hưởng ở cõi trên.

Tín lýSửa đổi

Sau hình ảnh ngựa Kiền thì trong các bộ Tạng kinh, đức Phật Thích Ca có nhắc đến khoảng hai lần nữa hình ảnh của con ngựa để liên hệ đến con người, làm bài học giáo huấn đệ tử. Chẳng hạn như trong Tương Ưng Bộ kinh có bài kinh tên Gậy thúc ngựa chỉ về bốn loại ngựa hay, tương đương với bốn hạng người biết giác ngộ. Trong Luật Tạng kinh Vinaya Pikata thì có nhắc đến tám loại ngựa chứng. Tám loại ngựa này cũng tương ứng với những tâm tánh xáo động và bất tịnh cần sửa đổi của con người.

Bốn ngựa haySửa đổi

Giới hạn thức tỉnh của các hạng người nêu trong bài kinh này có khác nhau nhưng họ đều được xếp vào nhóm những người hay, biết giác ngộ được chân lý cuộc sống, dẫu có khi là khá muộn màng. Nhưng thà rằng muộn màng còn hơn có những người suốt cuộc đời của họ cứ lao theo những ham muốn tiền tài, danh vọng, xa hoa, phù phiếm cho riêng bản thân mình, rồi đến ngày mọi thứ bỗng chốc hóa hư không. Bốn loài ngựa đó là:

  • Ngựa vừa chỉ thấy bóng roi đã chạy: Tương tự là hạng người khi nghe có người hoạn nạn cách đây trăm dặm thì liền tỉnh ngộ, sau đó tu tập và đạt kết quả. Họ ngộ ra rằng, cuộc sống là vô thường, người ta hoạn nạn, già, bệnh, mất thì có một ngày không xa mình cũng y như thế. Từ sự thấy biết vô thường đó, họ bắt đầu biết tỉnh thức trước các sự kiện xung quanh mình, họ bớt tham, sân, si, họ biết thu thúc đời mình chứ không lao theo tự ngã, dục lạc quá đà.
  • Ngựa không sợ bóng roi nhưng khi nhịp nhẹ roi trên lưng thì sợ mà chạy: Khi nghe thấy có người hàng xóm mình hoạn nạn, ốm đau thì họ cũng giật mình thức tỉnh lo tu tâm tánh.
  • Ngựa khi bị đánh đau trên lưng mới chịu chạy: đánh đau trên lưng tức là tới khi có người bà con thân thuộc trong gia đình, là ông bà cha mẹ, anh chị em mình gặp hoạn nạn, đau ốm thì họ mới giật mình tu dưỡng phục thiện.
  • Ngựa chỉ chịu chạy khi bị gậy thúc đau đến thấu xương: Có người khi thấy người hoạn nạn ở xa trăm dặm thì thôi kệ, đến hàng xóm cũng xem là chuyện người khác không can đến mình. Thậm chí ngay cả khi đến những người bên cạnh, ông bà cha mẹ anh chị em, những người mà mình hằng ngày vui buồn cùng họ gặp hoạn nạn mà mình cũng không để tâm. Đợi đến khi chính bản thân đau, như ngựa bị roi gai đâm vào mình đau quằn quại thì mới hoảng hồn thức tỉnh.

Tám ngựa chứngSửa đổi

Trái lại với bốn hạng người tốt trong bài kinh Gậy thúc ngựa trên thì kinh Phật cũng chia các hạng người xấu, khó trị thành tám loại, tương ứng với 8 hạng ngựa hung dữ (ngựa chứng). Đó là những con người khi được bạn bè nhắc nhở và phê bình, chỉ ra khuyết điểm của bản thân trong các cuộc họp thì tỏ thái độ bất mãn, chống đối thay vì ghi nhận và cố gắng sửa đổi.

Tám loại ngựa hung hăng này không mấy xa lạ, trái lại nó luôn hiện hữu đầy đủ trong tâm thức của mỗi con người ít hay nhiều, Trong Phật giáo cũng có câu “Tâm viên ý mã”, tức chỉ tâm con người như con khỉ, con vượn, luôn nhảy nhót, ý của người đời thì như con ngựa, thích chạy rông. Nếu không kiềm chế được con khỉ, con ngựa ấy trong tâm thì rất dễ sinh chuyện, cũng như khi con người mất bình tĩnh trong chốc lát đã có thể biến thành tai họa. Trong Kinh Di Giáo có nói đến ý này rằng: “Cũng như ngựa dữ không cương, tức đưa người cưỡi đi thẳng xuống hố sâu”.

Các loại ngựa ấy như sau:

  • Hạng người ưa cãi, chối bai bải được coi như giống con ngựa dữ bị tra hàm thiếc và roi mà vẫn hục hặc không chịu bước đi.
  • Hạng người cứ đứng lầm lì, không thèm ừ hữ, xác định xem khuyết điểm vừa nêu là đúng hay sai. Người này cũng giống như con ngựa dữ dựa vào hai bên gọng xe, không chịu đi.
  • Hạng người thích trả đũa, bới móc trở lại lỗi lầm của người vừa chỉ tội mình. Đây là hạng người giống như con ngựa dữ ngã nhào xuống đất, xây xước đầu gối, làm gãy gọng xe.
  • Hạng người chê bai người cử tội mình, cho là ngu dốt, không xứng đáng để mắt tới. Họ như con ngựa dữ chạy thụt lui không chịu tiến bước.
  • Hạng người đem lòng oán hận, thù vặt người chỉ lỗi mình. Đó là người như con ngựa chạy bừa, bất kể đường xấu, làm cho xe hư bánh gãy trục.
  • Hạng người không sợ lầm lỗi, chẳng biết ngán ai, bỏ cuộc họp ra ngoài. Họ giống như con ngựa dữ bất kể nài và roi, ngậm hàm thiếc chạy càn mà vô phương cứu chữa.
  • Hạng người tỏ thái độ giận dữ, khoa tay múa chân, la hét và thốt ra lời thô ác... Người đó giống như con ngựa dữ dựng ngược hai chân và sùi bọt mép.
  • Hạng người bướng bỉnh không muốn ai đụng chạm đến mình, nên khi bị phê bình liền cởi áo vứt ra trước cuộc họp, lớn tiếng dọa từ bỏ đoàn thể để vạ cho người xây dựng mình. Họ cũng giống như con ngựa dữ lồng lộn bỏ đi khi nài quất roi vì ngang bướng.

Ngựa trắngSửa đổi

Trên phương diện lịch sử, ngựa là một trong những nhân tố tích cực hỗ trợ cho sự xuất thế vĩ đại của những Đấng Đại Sĩ mà sau này sẽ trở thành Bậc Chiến Thắng (Maharavia), xóa tan bức màn vô minh và chấm dứt mọi sanh tử luân hồi. Không chỉ có duy nhất Tất Đạt Đa đi xuất gia bằng ngựa, trong bộ Phật Sử còn ghi lại rất nhiều sự xuất giacủa các vị Bồ Tát mà ngựa cũng là một trong những phương tiện thường nói đến nhất gồm:

Tham khảoSửa đổi

  • මලලසේකර, ජී. පී. (1996). එන්සයික්ලෆීඩියා ඔෆ් බුඩිසම්. ශ්‍රී ලංකා රජය.

Xem thêmSửa đổi