Nguyên soái Liên bang Xô viết (tiếng Nga: Маршал Советского Союза - Marshal Sovietskovo Soyuza), thường được gọi tắt là Nguyên soái Liên Xô, là quân hàm tướng lĩnh cao cấp bậc nhất của các lực lượng vũ trang Liên Xô. Quân hàm Nguyên soái Liên Xô được đặt ra ngày 22 tháng 9 năm 1935 và là quân hàm cao nhất của Liên Xô cho đến năm 1991.

Nguyên soái Liên bang Xô viết
Маршал Советского Союза
Marshal of the Soviet Union.gif
Cầu vai Nguyên soái Liên bang Xô viết
Quốc gia Liên Xô
ThuộcRed Army flag.svg Lực lượng vũ trang Liên Xô
Hạng5 sao
Hình thành22 tháng 9 năm 1935
Bãi bỏ1991
Nhóm hàmtướng
Hàm trênkhông có
Hàm dướiĐại tướng
Tương đươngĐô đốc Hải quân Liên Xô

Trong Hải quân Liên Xô, quân hàm được xem là tương đương quân hàm Nguyên soái Liên Xô là Đô đốc Hải quân Liên Xô. Trong các binh chủng (không quân, pháo binh, thiết giáp, thông tin, công binh), từ năm 1943 đến 1991, có các cấp bậc Nguyên soái binh chủng, được xem là tương đương với cấp Đại tướng. Ngoài ra, cấp bậc Chánh nguyên soái binh chủng (còn gọi là Nguyên soái Tư lệnh binh chủng, Tổng nguyên soái binh chủng) cao hơn Nguyên soái binh chủng, nhưng vẫn xếp dưới cấp Nguyên soái Liên Xô.

Trong thời gian 1935-1991 có 41 người đã được phong quân hàm này, trong đó 36 người là quân nhân chuyên nghiệp, 4 người là chính khách nắm giữ chức vụ quân sự (Stalin, Beria, BulganinBrezhnev), và một người thuộc giới Công nghiệp - Kỹ thuật quân sự là bộ trưởng quốc phòng Ustinov.

Với sự tan rã của Liên bang Xô viết vào tháng 12 năm 1991, quân hàm này cũng bị xoá bỏ. Năm 1993, Liên bang Nga đặt ra quân hàm Nguyên soái Liên bang Nga.

Lịch sửSửa đổi

 
Năm vị nguyên soái đầu tiên: Tukhachevsky, Voroshilov, Yegorov (ngồi), Budyonny và Blyukher (đứng)

Quân hàm Nguyên soái được Hội đồng Dân ủy Xô viết (Sovnarkom) thiết lập ngày 22 tháng 9 năm 1935. Ngày 20 tháng 11, năm quân nhân đầu tiên được phong quân hàm này là Dân ủy Quốc phòng và Cựu chiến binh Kliment Voroshilov, Tổng tham mưu trưởng Hồng quân Aleksandr Yegorov và ba tướng lĩnh cấp cao, Vasily Blyukher, Semyon Budyonny, Mikhail Tukhachevsky. Sau này ba người trong số đó bị xử tử vào những năm 1937, 1938, đó là Blyukher, Tukhachevski và Yegorov. Ngày 7 tháng 5 năm 1940, thêm ba tướng lĩnh được phong quân hàm nguyên soái là Dân ủy Quốc phòng Semyon Timoshenko, Tổng tham mưu trưởng Boris ShaposhnikovGrigory Kulik.

Trong Thế chiến thứ hai, Timoshenko và Budyonny được cho nghỉ, còn Kulik bị giáng chức vì thiếu khả năng chỉ huy, quân hàm nguyên soái được phong cho một số vị tướng đã thành danh trên chiến trường như Georgy Zhukov, Aleksandr VasilevskyKonstantin Rokossovsky. Năm 1943, Stalin cũng tự phong cho mình quân hàm này, năm 1945, người đứng đầu lực lượng an ninh Lavrentiy Beria cũng được phong Nguyên soái, đây là hai trong số bốn vị gọi là "nguyên soái chính trị" (được phong hàm lúc không phải là quân nhân). Những người còn lại là Nikolay Bulganin, Leonid Brezhnev.

Sau chiến tranh đã có hai Nguyên soái bị kết án tử hình, đó là Kulik năm 1950 (được truy phục nguyên soái năm 1957) và Beria năm 1953. Nguyên soái Liên Xô cuối cùng là Dmitry Yazov, được phong năm 1990. Ông qua đời vào năm 2020. Cùng với sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, quân hàm này bị bãi bỏ. Hiện nay Liên bang Nga có một quân hàm tương đương là Nguyên soái Liên bang Nga. Người duy nhất hiện giữ quân hàm này là cố Bộ trưởng Quốc phòng Nga Igor Sergeyev.

Phân loạiSửa đổi

Các nguyên soái đã được phong có thể được chia làm bốn nhóm:

  1. Những người thành danh trong Cách mạng Tháng Mười. Họ gồm 5 nguyên soái đầu tiên và những người được phong hàm này gồm Kliment Voroshilov, Aleksandr Yegorov, Vasily Blyukher, Semyon Budyonny, Mikhail Tukhachevsky. Vào đầu Thế chiến thứ hai thêm 3 nguyên soái được phong gồm Kulik, Shaposhnikov, Timoshenko.
  2. Những người thành danh trong Thế chiến thứ hai và giữ chức vụ quan trọng trong quân đội Liên Xô giai đoạn sau đó. Có thể kể đến các Nguyên soái Zhukov, Vasilevsky, Koniev, Rokossovsky, Malinovsky, Tolbukhin, Meresskov, Chuikov, Sokolovsky...
  3. Những người nắm giữ các vị trí quan trọng của các lực lượng vũ trang Xô viết trong Chiến tranh Lạnh. Tất cả họ đều là sĩ quan trong Thế chiến thứ hai, trừ Brezhnev là chính ủy trong quân đội và Ustinov là giám đốc nhà máy sản xuất vũ khí, ngay cả Yazov khi kết thúc chiến tranh mới chỉ 20 tuổi cũng đã là chỉ huy trung đội. Những người trong số này là Grechko, Yakubovsky, Kulikov, Ogarkov, Akhromeev và Yazov.
  4. Nhóm này gồm các nguyên soái tư lệnh các quân/binh chủng. Mặc dù được phong cấp bậc hàm nguyên soái nhưng quân hàm của họ gắn liền với lĩnh vực chuyên môn như: Nguyên soái pháo binh (Nikolay Nikolaevich Voronov), Nguyên soái xe tăng (Falaleev, Rotmistrov), Nguyên soái không quân (Golovanov, Novikov). Chế độ đãi ngộ đối với người có cấp bậc hàm Nguyên soái tư lệnh quân/binh chủng cao hơn người có cấp bậc hàm đại tướng nhưng thấp hơn Nguyên soái của toàn quân.

Danh sách Nguyên soái Liên XôSửa đổi

STT Tên họ Hình ảnh Thời điểm thụ phong Chức vụ khi thụ phong Ghi chú
1
Kliment Voroshilov  
20 tháng 11, 1935
Ủy viên nhân dân Quốc phòng
2
Mikhail Tukhachevsky  
20 tháng 11, 1935
Phó ủy viên nhân dân Quốc phòng Bị tước quân hàm 11 tháng 6, xử bắn 12 tháng 6 năm 1937, phục hồi 31 tháng 1 năm 1957
3
Aleksandr Yegorov  
20 tháng 11, 1935
Tổng tham mưu trưởng Hồng quân Bị xử bắn 23 tháng 2 năm 1939, minh oan 14 tháng 3 năm 1956
4
Semyon Budyonny  
20 tháng 11, 1935
Thanh tra kỵ binh Hồng quân
5
Vasily Blyukher  
20 tháng 11, 1935
Tư lệnh Tập đoàn quân đặc biệt Viễn Đông Cờ Đỏ Chết trong nhà tù Lefortovskaya 9 tháng 11 năm 1938, minh oan năm 1956
6
Semyon Timoshenko  
7 tháng 5, 1940
Ủy viên nhân dân Quốc phòng
7
Grigory Kulik  
7 tháng 5, 1940
Phó ủy viên nhân dân Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Pháo binh Bị tước quân hàm 19 tháng 2 năm 1942, bị xử bắn ngày 24 tháng 8 năm 1950, phục hồi 28 tháng 9 năm 1957
8
Boris Shaposhnikov  
7 tháng 5, 1940
Tổng tham mưu trưởng Hồng quân
9
Georgy Zhukov  
18 tháng 1, 1943
Phó ủy viên nhân dân thứ nhất Quốc phòng
10
Aleksandr Vasilevsky  
16 tháng 2, 1943
Tổng tham mưu trưởng Hồng quân
11
Iosif Stalin  
6 tháng 3, 1943
Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô, Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Nhà nước, Ủy viên nhân dân Quốc phòng, Tổng bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô
12
Ivan Konev  
20 tháng 2, 1944
Tư lệnh Phương diện quân Ukraina 2
13
Leonid Govorov  
18 tháng 6, 1944
Tư lệnh Phương diện quân Leningrad
14
Konstantin Rokossovsky  
29 tháng 6, 1944
Tư lệnh Phương diện quân Belorussia 1 Thụ phong Nguyên soái Ba Lan ngày 5 tháng 11 năm 1949
15
Rodion Malinovsky  
10 tháng 9, 1944
Tư lệnh Phương diện quân Ukraina 2
16
Fyodor Tolbukhin  
12 tháng 9, 1944
Tư lệnh Phương diện quân Ukraina 3
17
Kirill Meretskov  
26 tháng 10, 1944
Tư lệnh Phương diện quân Karelia
18
Lavrenty Beria  
9 tháng 7, 1945
Ủy viên nhân dân Nội vụ Bị tước quân hàm 26 tháng 6 năm 1953, xử bắn ngày 23 tháng 12 năm 1953
19
Vasily Sokolovsky  
3 tháng 7, 1946
Tổng tư lệnh Cụm binh đoàn chiếm đóng Liên Xô tại Đức, Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại Đức
20
Nikolay Bulganin  
3 tháng 11, 1947
Bộ trưởng Lực lượng Vũ trang Liên Xô Bị giáng cấp xuống Thượng tướng ngày 26 tháng 11 năm 1958
21
Ivan Bagramian  
11 tháng 3, 1955
Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng
22
Sergey Biryuzov  
11 tháng 3, 1955
Tổng tư lệnh Lực lượng phòng không
23
Andrey Grechko  
11 tháng 3, 1955
Tổng tư lệnh Cụm binh đoàn Liên Xô tại Đức
24
Andrey Yeryomenko  
11 tháng 3, 1955
Tư lệnh Quân khu Bắc Kavkaz
25
Kirill Moskalenko  
11 tháng 3, 1955
Tư lệnh Quân khu Moskva
26
Vasily Chuikov  
11 tháng 3, 1955
Tư lệnh Quân khu Kiev
27
Matvei Zakharov  
8 tháng 5, 1959
Tổng tư lệnh Cụm binh đoàn Liên Xô tại Đức
28
Filipp Golikov  
6 tháng 5, 1961
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội và Hải quân Liên Xô
29
Nikolay Krylov  
28 tháng 5, 1962
Tư lệnh Quân khu Moskva
30
Ivan Yakubovsky  
12 tháng 4, 1967
Thứ trưởng thứ nhất Quốc phòng
31
Pavel Batitsky 100px
15 tháng 4, 1968
Tổng tư lệnh Lực lượng phòng không lục quân - Thứ trưởng Quốc phòng, Tư lệnh Lực lượng phòng không, Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang hợp nhất khối Hiệp ước Warszawa
32
Pyotr Koshevoy 100px
15 tháng 4, 1968
Tổng tư lệnh Cụm binh đoàn Liên Xô tại Đức
33
Leonid Brezhnev  
7 tháng 5, 1976
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng
34
Dmitry Ustinov  
30 tháng 7, 1976
Bộ trưởng Quốc phòng
35
Viktor Kulikov  
14 tháng 1, 1977
Thứ trưởng thứ nhất Quốc phòng, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang hợp nhất khối Hiệp ước Warszawa
36
Nikolay Ogarkov  
14 tháng 1, 1977
Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Liên Xô - Thứ trưởng thứ nhất Quốc phòng
37
Sergey Sokolov  
17 tháng 2, 1978
Thứ trưởng thứ nhất Quốc phòng
38
Sergey Akhromeev  
25 tháng 3, 1983
Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất Lực lượng Vũ trang Liên Xô Tự sát sau vụ đảo chính 1991
39
Semyon Kurkotkin  
25 tháng 3, 1983
Thứ trưởng Quốc phòng - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần
40
Vasily Petrov  
25 tháng 3, 1983
Thứ trưởng Quốc phòng - Tổng tư lệnh Lục quân
41
Dmitry Yazov  
28 tháng 4, 1990
Bộ trưởng Quốc phòng

Đại nguyên soái Liên XôSửa đổi

Ngày 26 tháng 6 năm 1945, Xô Viết tối cao Liên Xô dự thảo sắc lệnh đặt ra quân hàm Đại Nguyên soái Liên bang Xô viết nhưng bị Stalin kiên quyết phản đối và không ký ban hành. Mẫu bộ quân phục Đại nguyên soái Liên Xô đã được Chủ nhiệm Hậu cần Quân đội Liên Xô, trung tướng A. V. Khrulyov và Cục trưởng quân nhu, đại tá P. I. Drachev trình lên Stalin nhưng bị ông ra lệnh cấm may. Trên thực tế cũng như về pháp lý, cấp bậc này chưa hề có. Cho đến khi từ trần ngày 5 tháng 3 năm 1953, Stalin mang quân hàm Nguyên soái Liên Xô như tất cả các nguyên soái khác.[1]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ X. M. Stemenko. Bộ Tổng tham mưu Xô Viết trong chiến tranh. Tập 2 (bản tiếng Việt). Nhà xuất bản Tiến Bộ. Moskva. 1981. trang 587-588.