Mở trình đơn chính

NGUYỄN ĐÌNH ĐẮC (1755-1811)sinh năm Ất Hợi (1755), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 16, đời vua Lê Hiển Tông, con ông Nguyễn Công Thúc và bà Nguyễn Thị Diên người làng Thượng Xá (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Người đời nói về ông thường dùng danh xưng Phó tướng Đắc, hoặc Đắc Lộc Hầu. Theo đó, Đắc là tên riêng, gọi theo chức là Phó tướng Đắc, gọi theo tước là Đắc Lộc Hầu (Đắc Vũ Hầu) là Công Thần Khai Quốc Nhà Nguyễn. [1]

Đắc Lộc Hầu
NGUYỄN ĐÌNH ĐẮC
Thái bảo Thượng tướng quân
Thông tin chung
Thê thiếpVợ Cả Người Gia Định
Hậu duệ5 người con trai và 1 con gái
Tên húy
Đình Đắc
Tước hiệu
  • Đắc Vũ hầu
Thụy hiệuĐắc lộc hầu
Miếu hiệulộc hầu
Thân phụNguyễn Công Thúc
Sinh1755
Mất1811

Tiểu SửSửa đổi

Phó tướng Nguyễn Đình Đắc sinh năm Ất Hợi (1755), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 16, đời vua Lê Hiển Tông, con ông Nguyễn Công Thúc và bà Nguyễn Thị Diên người làng Thượng Xá (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Người đời nói về ông thường dùng danh xưng Phó tướng Đắc, hoặc Đắc Lộc Hầu. Theo đó, Đắc là tên riêng, gọi theo chức là Phó tướng Đắc, gọi theo tước là Đắc Lộc Hầu. Dưới thời phong kiến, tước Hầu là bậc thứ hai trong: Công - Hầu - Bá - Tử - Nam. Theo tộc phả Nguyễn Đình - Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí, kể từ năm 1428 về sau khoảng 500 năm, dòng họ này có 59 vị được phong tước Công, 179 vị tước Hầu, 141 vị tước Bá, 7 vị tước Tử, 37 vị tước Nam. Cũng theo tộc phả Nguyễn Đình, chức cao nhất của ông Nguyễn Đình Đắc là Thái bảo Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, cho nên dù ông ở bậc tước Hầu mà được xếp vào hàng tước Công (gồm các vị trong hàng Tam Thái)[2]

Phó tướng Nguyễn Đình Đắc là cháu đời thứ 12 của Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí, cháu đời thứ 11 của Thái bảo Thượng trụ quốc Nguyễn Kế Sài (con trai thứ 5 của Nguyễn Xí). Thân phụ của ông vốn xuất thân là một võ quan nhưng cuối đời nghèo khó. Không biết việc học hành thế nào, trong tộc phả không ghi, chỉ biết thuở nhỏ Nguyễn Đình Đắc là người thông minh, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, ham luyện võ nghệ. Ở tuổi thiếu niên, Nguyễn Đình Đắc được đắm mình trong chuyện kể của cha mẹ, gia tộc, dân chúng trong vùng, về sự tích chiến công lẫy lừng của tổ tiên, của các danh nhân trong nội tộc, trong địa phương, từ đó góp phần giúp ông nuôi chí lớn, noi gương tiên tổ. Ở quê đến tuổi trưởng thành, do không chịu sự chèn ép của bọn cường hào ác bá, ông rời nhà tha hương tìm chốn tiến thân.[3]

Từ xưa, cư dân làng Thượng Xá truyền rằng: ông mồ côi cha, ở với mẹ. Một hôm nhà ông bị cháy, ông ứng khẩu làm bài vè rồi được đám trẻ rồng rắn hát nghêu ngao khắp làng: “Tùng tùng cắc cắc/ Mẹ Đắc cháy nhà/ Cháy ba sàng muối/ Cháy lõi thành than/ Cháy tan cối đá”. Có một năm làng Thượng Xá tiến hành lễ yến lão vào dịp Tết Nguyên đán cho các bậc cao niên, anh Đắc làm seo (mõ) làng, vì mải chơi đã quên mời một lão làng, lão này hách dịch sai tuần đinh nọc ông ra đánh. Đêm hôm sau làng mời phường trò đến mua vui trong dịp khai hội đầu xuân, viên chức dịch ngồi điểm trống chầu, vì ngủ gật làm rơi dùi trống. Thấy thế, Nguyễn Đình Đắc nhặt dùi trống lên gõ vào đầu viên chức dịch mấy cái, rồi nhân cuộc vui nhốn nháo ông chạy trốn trong đêm tối. Từ đó dân làng không biết tin tức về ông nữa. Năm đó ông khoảng mười lăm, mười sáu tuổi.

Hơn 20 năm sau, có một người làng Thượng Xá đi cắt cỏ Nẻ(1), về kể lại rằng: Quan quân từ trong Nam rầm rộ kéo ra Bắc đi chật đường, thấy có một ông tướng oai phong lẫm liệt ngồi chễm chệ trên bành voi. Nhìn nét mặt giống hệt anh mới Đắc(2) làng mình ngày trước. Mọi người nửa tin nửa ngờ. Mãi đến ngày chiến thắng trở về, ông vinh qui bái tổ, dân làng mới tin lời người đi cắt cỏ kia là thật.

Không biết manh mối thế nào, trên đường ra Bắc Hà, đến tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Đình Đắc gặp được ông Tạ Danh Thùy là Trấn thủ Thanh Hóa. Qua tiếp xúc, ông Tạ Danh Thùy phát hiện ra ông là hậu duệ dòng dõi Nguyễn Xí cựu công thần nhà Lê và là một thanh niên có tư chất thông minh, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, nên nhận vào làm thuộc hạ. Những ngày sống và làm việc tại dinh thất ông Tạ Danh Thùy đã mở ra cánh cửa cho Nguyễn Đình Đắc đi vào thế sự quốc gia. Trấn thủ Thanh Hóa thường giao cho ông đem quân đi tuần tra cửa biển Thần Phù. Có dịp ông lên Kinh Đô tìm hiểu mới biết vua Lê nhu nhược, chúa Trịnh lạm quyền. Các quan trong phủ chúa Trịnh chia rẽ bè phái. Người theo Trịnh Cán, người phò Trịnh Tông (tức Trịnh Khải), không ai chịu ai. Chán ngán trước tình thế, lại vốn là dòng dõi Cương quốc công Nguyễn Xí, ngay từ hồi đó Nguyễn Đình Đắc đã có ý chí thèm khát khôi phục nhà Lê mà từ thuở xa xưa tổ tiên ông tôn thờ. Xuất hiện trong ông tư tưởng đi tìm minh chủ để thực hiện nguyện vọng phò Lê, diệt Trịnh.

Năm Nhâm Dần (1782), phe người con lớn của Trịnh SâmTrịnh Tông làm binh biến giết Hoàng Đình Bảo, lật đổ Trịnh Cán, lập Trịnh Tông. Lúc này ông cho rằng: Kinh Đô đang có loạn, đại bộ phận binh lực đang tập trung ở vùng Thuận Hóa, Quảng Nam, nếu liên kết được các tướng soái trong đó đem quân ra Kinh Đô dẹp loạn, thì sự nghiệp diệt Trịnh, phò Lê có thể giành thắng lợi, Nguyễn Đình Đắc liền vượt biển vào Nghệ An tập trung người cùng chí hướng, rèn sắm vũ khí. Tháng 10 năm ấy, đang ở vùng Hoàng Mai, ông lên Lãng Điền gặp Nguyễn Hữu Chỉnh đang làm đồn trưởng ở đó. Sau khi nghe ông kể lại tình hình Kinh Đô, Nguyễn Hữu Chỉnh vừa mừng, vừa lo. Mừng vì gặp được người cùng chí hướng. Lo vì vốn Nguyễn Hữu Chỉnh là thuộc hạ của Hoàng Đình Bảo, do đó, rồi sẽ đến lượt bị Trịnh Tông giết hại. Nguyễn Đình Đắc và Nguyễn Hữu Chỉnh là người cùng huyện Chân Phúc (nay là Nghi Lộc) lại cùng chí hướng bất hợp tác với Trịnh Tông, đã cùng nhau vào Quảng Bình vận động quân đồn trú đánh úp thành Phú Xuân. Chẳng may sự việc bị phát lộ ra, ông cùng Nguyễn Hữu Chỉnh chạy ra biển, dong thuyền vào Quảng Nam. Nguyễn Đình Đắc mưu tính sẽ dựa vào thế lực của chúa Nguyễn là dòng dõi cựu công thần nhà Lê để tiếp tục sự nghiệp.

Lúc này anh em Nguyễn Nhạc đang khởi sự dựng nên triều đại mới. Vốn trước đó, Nguyễn Hữu Chỉnh đã từng theo chúa Trịnh vào đánh chúa Nguyễn đóng quân ở Phú Nhuận. Ông thường được quận công Hoàng Ngũ Phúc sai đi liên lạc với anh em Nguyễn Nhạc để lập thế liên kết chống chúa Nguyễn. Do đó, Nguyễn Hữu Chỉnh biết rõ tài năng của anh em Nguyễn Nhạc nên đã mượn tiếng chúa Nguyễn để dụ thuyết Nguyễn Đình Đắc vào theo. Nguyễn Nhạc vui mừng tiếp đón, hậu đãi, trọng dụng.

Gia Nhập Tây SơnSửa đổi

Gia nhập quân Tây Sơn được ít lâu, Nguyễn Đình Đắc nhận ra chí hướng của anh em Nguyễn Nhạc là lật đổ tất cả chứ không hề có ý định phò Lê. Ông tâm sự với Nguyễn Hữu Chỉnh: “Mình vì việc nước, ngàn dặm vượt biển vào đây tìm chỗ dựa để diệt Trịnh phò Lê. Ai ngờ lại sa vào dưới trướng của kẻ đang chống lại người mà mình đi tìm!”. Nguyễn Hữu Chỉnh nói lại: “Chúng ta chỉ tạm thời dựa vào thế của họ, chứ có theo họ đến cùng đâu”. Sau đó, Nguyễn Hữu Chỉnh đi theo Nguyễn Huệ ra Bắc Hà; còn Nguyễn Đình Đắc ở lại với Nguyễn Nhạc. Mặc dù vậy, ngày đêm ông tìm cách thoát khỏi hàng ngũ quân Tây Sơn.

Tháng 2 năm Quý Mão (1783), Nguyễn Nhạc sai ông đi đánh phủ Gia Định của chúa Nguyễn. Thắng trận, ông bắt được Cai cơ Huấn Trung Hầu, người huyện Giao Thủy. Qua Huấn Trung Hầu, ông biết được chỗ ở của chúa Nguyễn. Đang đêm ông cùng Huấn Trung Hầu chạy trốn khỏi doanh trại quân Tây Sơn để sang đầu quân cho Nguyễn Ánh. Quân Tây Sơn phát hiện, truy đuổi, bắt được Huấn Trung Hầu đem giết, còn ông chạy thoát được.

Ngày 18 tháng 2 năm Ất Tỵ (1785), quân Nguyễn Nhạc bắt được ông và sắp đem ra hành hình, thì may có quan Vệ úy thành Gia Định của Tây Sơn ra sức xin cho, rồi ông ở lại nhà quan Vệ úy ấy làm thuộc hạ.[4]

Theo Chúa NguyễnSửa đổi

Sau đó, nghe tin Nguyễn Ánh từ Xiêm (Thái Lan) vượt biển về nước, ông tìm đến yết kiến, trình bày nguyện vọng muốn theo chúa Nguyễn phò Lê. Nghe Nguyễn Đình Đắc trình bày lai lịch và ý nguyện của mình, Nguyễn Ánh mừng rỡ tiếp nhận, trọng dụng và cùng ông bàn kế sách đánh Tây Sơn.

Tháng 10 năm Ất Tỵ (1785), ông được chúa Nguyễn giao chỉ huy đánh thắng quân Tây Sơn ở đồn Ủy Lũng, truy đuổi đến tận tổng Kiến Đăng, huyện Kiến Yên. Ngày 17/11/1785, ông chỉ huy đánh đồn Ba Đài nhưng không thành, buộc phải lui về đóng ở Trà Lộc.

Mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn do Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ thống lĩnh đánh thắng 20 vạn quân Thanh. Triều đình vua Lê, chúa Trịnh tan rã. Lê Chiêu Thống - vị vua cuối cùng của vương triều nhà Lê - bỏ ngai vàng chạy sang Trung Quốc.

Tháng 6 năm Canh Tuất (1790), Nguyễn Ánh sai Nguyễn Đình Đắc đưa 5 chiếc tàu vượt biển đi tìm Lê Chiêu Thống đang ở bên Tàu. Khi ông đến Châu Khâm (Quảng Châu), được tin Lê Chiêu Thống đã lên Yên Kinh (Bắc Kinh) không thể gặp, ông bèn quay về Vân Đồn - một hòn đảo trong Vịnh Hạ Long. Bỗng có bão lớn, các tàu trôi dạt mỗi chiếc một phương. Tàu của ông trôi về Cửa Việt (đang nằm trong vùng kiểm soát của quân Tây Sơn). Ông cho những người trên tàu lên bờ trà trộn trong dân lẩn trốn, còn ông bí mật lên bờ trở ra trấn Yên Quảng (Quảng Ninh). Bấy giờ nghe tin Lê Duy Mại đang ở tỉnh Hà Nam, ông tìm đến yết kiến rồi cùng nhau đi Đồ Sơn, bí mật chiêu tập hào kiệt, mưu đồ khởi sự để làm ngoại viện cho chúa Nguyễn. Sự việc bị lộ, quân Trịnh đuổi bắt, ông chạy thoát ra Đông Quan (Thái Bình). Hồi đó, Hoàng tử Lê Duy Chỉ - em ruột Lê Chiêu Thống - cũng khởi binh ở Bảo Lạc, sai người đem ấn kiếm trao cho ông chỉ huy quân thủy bộ ở Sơn Nam, hẹn ngày khởi sự.

Năm Tân Hợi (1791), sau khi Lê Duy Chỉ bị bắt, quân Cần Vương ở các tỉnh phải giải tán. Từ đó ông đi lại nhiều vùng để gặp gỡ trao đổi với một số danh sĩ Bắc Hà không chịu ra làm quan cho triều Tây Sơn, trong đó có Đặng Trần Thường người huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ - Hà Nội) bằng lòng theo ông vào Nam phò chúa Nguyễn. Khi đoàn sắp qua khỏi địa phận tỉnh Thanh Hóa thì bị quân Tây Sơn phát hiện đuổi theo. Mọi người trong đoàn đều lẩn trốn trong cư dân xã Như Áng, huyện Ngọc Sơn (nay là huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa).

Mùa Xuân năm Quý Sửu (1793), đoàn dùng một chiếc thuyền vượt biển vào Nam, khi qua các cửa biển Đại Chiêm (Quảng Nam), Xuân Đài (Phú Yên) thì gặp quân Tây Sơn và quân Tàu Ô đón đánh. Đoàn của ông vừa đánh nhau vừa chạy tiếp vào phía Nam.

Khi đoàn vào đến thành Nha Trang thuộc phủ Diên Khánh, Đông cung Hoàng Tử Cảnh đang chỉ huy quân giữ thành, sai người tiếp đón hậu đãi và khuyên mọi người về Gia Định bái yết chúa Nguyễn. Đoàn vào đến Gia Định, Nguyễn Ánh hết sức vui mừng, hỏi han tình hình Bắc thành. Ông kể lại diễn biến cuộc hành trình và hiến kế rằng: “Thế quân Tây Sơn ở ngoài Bắc còn mạnh. Các hoàng tử Lê Duy Mại, Lê Duy Chỉ mưu đồ khởi sự chống lại triều Tây Sơn, nhưng đều bị dập tắt. Anh hùng không còn nơi dụng võ. Nhưng dân chúng đang chờ mong Chúa công từng ngày. Bây giờ nếu Chúa công lấy được Phú Xuân, thì dân từ Bố Chánh (Quảng Bình) trở ra Bắc, sẽ theo hết. Từ sông Gianh trở ra, không đánh cũng thắng…”. Nói rồi ông bèn hiến mưu tiến thủ, Nguyễn Ánh hết lòng ngợi khen ông và tiếp đãi đoàn rất trọng thị. Ông giới thiệu với Nguyễn Ánh về Đặng Trần Thường và từng thành viên trong đoàn để Chúa tùy theo khả năng từng người mà giao việc.

Sau khi Hoàng đế Quang Trung băng hà (1792), triều Tây Sơn rơi vào thời kỳ ngày càng suy yếu. chúa Nguyễn ngày càng thắng thế, dồn dập tiến công đàn áp các lực lượng của Tây Sơn. Với nhiều chiến công của mình, Nguyễn Đình Đắc càng được chúa Nguyễn tin tưởng, trọng dụng.

Ngày 20/5/1793, chúa Nguyễn giao cho ông chức Cai Cơ, nhận 300 quân đánh đồn Tam Tòa và đồn Được Lăng. Ông chỉ huy quân sĩ giành thắng lợi hạ được cả hai đồn, bắt được hơn 800 tù binh, cả quan, cả lính, thu được 47 khẩu súng lớn và rất nhiều thứ khí giới khác. Chúa thăng chức Vệ úy, Vệ Hùng uy cho ông.

Năm Ất Mão (1795), ông lần lượt giao chiến với quân Tây Sơn ở Lò Chum, Tam Hợp, Tam Thắng, giành thắng lợi lớn, thu được 3 khẩu đại bác, truy đuổi quân Tây Sơn chạy đến thành Bàn Xã (tức Kinh đô Đồ Bàn xưa của Chiêm Thành). Tháng 11 năm ấy, Chúa trao ông chức Hậu Đồn Chánh Thống, chỉ huy 5 vệ: Hùng uy, Long võ, Uy võ, Phẩm võ và Toán phong.

Tháng 11 năm Đinh Tỵ (1797), ông được trao chức Chính thống quân Thần Sách. Năm Mậu Ngọ (1798), Chúa sai ông đi giúp Xiêm La đến tháng 5 lại triệu ông về thành Gia Định.

Tháng 4 năm Kỷ Mùi (1799), chúa Nguyễn trao chức Phó tướng phủ Nguyên soái Tả quân, theo Chúa đi đánh thành Bình Định (còn gọi thành Bàn Xá). Sau khi lấy được thành Bàn Xá, Chúa giao ông cầm quân đến đánh quân Tây Sơn ở Tân Quan, Sa Oanh, Miên Khê đều thắng lớn.

Tháng 3 năm Canh Thân (1800), chúa Nguyễn tự tay giao cho ông cờ Chỉ huy, cầm đầu 50 chiến thuyền tiến đánh Bình Khương, đánh thắng tướng Tây Sơn là Tư đồ Dũng. Tiếp đó, Chúa sai ông theo quan Bình tây đại tướng là Nguyễn Văn Thành đi đánh đồn Đồng Nghệ và đồn La Hai, bắt sống tướng Tây Sơn là Đô đốc Hoan. Thừa thắng, đánh tan 12 nơi phục binh của Tây Sơn, tiến thẳng tới Đồng Thị đối địch 6 tháng trời với quân Tây Sơn. Sau đó các tướng chúa Nguyễn hội quân cùng đánh thắng đồn Đồng Thị của Tây Sơn.

Ngày 12/12/1800, ông chỉ huy quân lính hạ đồn Đồng Tuần. Khi đó hào lũy đồn này chưa kịp củng cố, còn tan hoang, thì ngày 20/12/1800 tướng Tây Sơn là Thiếu phó Diệu quận công (Trần Quang Diệu) đem 4 vạn quân và 70 thớt voi đến bao vây đồn. Diệu quận công cậy có quân đông, nhiều voi, cho rằng Nguyễn Đình Đắc không thể địch nổi, bèn sai quân lính mỗi người chỉ cầm một cái dây, đứng ngoài hẹn khi phá đồn sẽ bắt sống hết, không cần vũ khí. Truyền lệnh xong, Diệu quận công đứng trên chòi quan sát tỏ ra chủ quan, kiêu ngạo, còn Nguyễn Đình Đắc thì cứ nói cười như không. Ông cho án binh bất động, lệnh cho quân lính hễ thấy người nào trong quân doanh mà thất sắc (tỏ ra sợ hãi) sẽ chém. Đến ngày cuối, khí thế địch quân đã giảm, ông mở cửa thành tung quân ra đánh, giết được một quan Đô đốc và vài nghìn quân sĩ. Cả kinh, quân Tây Sơn phải phá vây rút lui. Ngay sáng hôm sau Trần Quang Diệu sai người đưa thư tới dụ ông: hẹn sẽ cắt đất Nghệ An làm thái ấp và trả lại các đặc quyền mà trước đây vua Lê đã ban cho con cháu họ Nguyễn Công thần (họ Nguyễn Đình - Thái sư Cương quốc công Nguyễn Xí). Ông đem thư này tâu chúa Nguyễn để tỏ ý không bao giờ theo Tây Sơn. Chúa sai quan văn ghi chép lại việc này để lưu về sau.

Tháng Giêng năm Tân Dậu (1801), quân chúa Nguyễn đẩy lùi quân Tây Sơn tại các lũy Đồng Tuần, Đồng Hiệp, Lò Giấy. Ông được lệnh giữ đồn Cầu Ngõa. Chúa Nguyễn Ánh đích thân đến Úy lão, sai ông cùng Thành quận công (Nguyễn Văn Thành) ở lại giữ tuyến này. Còn Chúa thân chinh chỉ huy quân thủy bộ ra đánh thành Phú Xuân.

Lúc bấy giờ, tướng Tây Sơn là Thiếu phó Diệu quận công và Tư đồ Dũng quận công vây hãm, tấn công thành Bình Định của chúa Nguyễn. Thường Hầu Quán Hội quận công (Võ Tánh) cùng Lễ Bộ Thượng thư Ngô Tùng Châu đều phải tự vẫn. Sau khi lấy được thành Bình Định, Diệu quận công và Dũng quận công thừa thắng tấn công lũy Lò Giấy. Nguyễn Đình Đắc chỉ huy chống trả, buộc quân Tây Sơn phải lùi về các đồn Bá Hào, cây Đa. Chúa Nguyễn Ánh thưởng công ông 300 đồng hoa viên (đồng bạc). Tiếp đến, ông đem quân đến lập đồn Quần Úc để chống lại quân Tây Sơn.

Tháng 8/1801, tướng Tây Sơn là Thiếu phó Diệu quận công đem quân vây đánh thành. Nguyễn Đình Đắc chỉ huy đánh mạnh phá vòng vây, khiến quân Tây Sơn không dám tiếp cận. Chúa thưởng 300 quan tiền. Tháng 9, ông chỉ huy hạ đồn Tháp, giao đồn cho quân tiên phong trấn giữ rồi quay về đồn Quần Úc. Tháng 10, Thống tướng Đức của Tây Sơn chỉ huy quân tập kích đồn. Ông bị thương.

Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1802), ông chỉ huy đánh đồn Kỳ Sơn và đồn Bảo Quăng. Trong khi đó, Thành quận công mang quân đến thì bị quân Tây Sơn bao vây. Thấy vậy, ông dẫn đầu quân sĩ vượt sông áp đánh. Diệu quận công và Dũng quận công đều phải bỏ chạy. Ông hợp lực với Thành quận công hạ đồn Kỳ Sơn. Tiếp đó, cùng nhau quay lại đánh nhau với quân Tây Sơn ở Quần Úc và Phú Trung. Diệu quân công và Dũng quận công phải chạy lên rừng. Ông lại kéo quân về đóng ở thành Bàn Xà.

Ngày 5/5/1802, chúa Nguyễn Ánh triệu ông về Phú Xuân ban thưởng 4 nén vàng, 100 nén bạc và 1.000 đồng hoa viên; giao ông làm Phó tướng đạo quân thủy để tiến ra Bắc Hà. Ông dâng biểu xin không nhận chức này, đồng thời xin làm tiên phong trên bộ. Chúa không đồng ý mà cho đi theo hộ giá Chúa ra Bắc Hà. Khi đến địa đầu trấn Nghệ An, Chúa lên ngôi Hoàng đế Gia Long. Đây là một cú sốc lớn về tư tưởng của Nguyễn Đình Đắc, chấm dứt ước vọng mấy chục năm ông quên mình theo đuổi. Hào khí của ông đối với chúa Nguyễn cũng phai nhạt từ đây. Đến thành Nghệ An, nhà vua hạ chiếu cho ông chức Trấn thủ Nghệ An. Ông dâng biểu từ chối.

Ngày 16/6/1802, đến Trấn Sơn Nam Thượng, nhà vua nhận định: Trấn này có 3 dãy núi (Tam Điệp), quân vô lại thường dựa vào núi tiến ra quấy phá. Nếu không có tướng tài thì không trị nổi, bèn sắc cho ông chức Trấn thủ ở đó. Không dám chối từ lần thứ ba, nhưng mỗi khi trò chuyện với người khác, ông tỏ ý buồn bã không vui. Ít lâu sau, ông xin về thăm quê, bái yết và tâu với nhà vua rằng: “Thuộc hạ đã được bình định. Qua 20 năm xông pha chiến trận, thần có nguyện vọng muốn được nghỉ ngơi ở chốn thôn dã, lo việc mồ mả ông cha, thờ phụng tổ tiên. Kính mong được bệ hạ cho về”. Nghe tấu trình, nhà vua chẳng những không đồng ý, lại còn sai ông giữ chức Chưởng dinh Tham Sự Chính Sự Bắc Thành.

Năm Ất Sửu (1805), có chiếu nhà vua triệu ông về kinh. Vua úy lạo thăm hỏi mấy ngày. Ông ở lại Kinh ba tháng, điều trần lên nhà vua 18 việc nên làm. Vua rất khen và cho đem đi thi hành. Ông lại xin nghỉ một năm về quê. Vua thuận cho. Ngày ông vinh qui bái tổ, già trẻ gái trai, bà con đi đón đầy đường. Ông lấy làm vui sướng. Trong thời gian ở quê một năm, ông lo việc sửa sang nhà thờ và lăng mộ tổ tiên. Sau đó trở lại Bắc Thành làm việc quân.

Tháng 2 năm Mậu Thìn (1808), có bọn giặc từ trong núi Tam Điệp ra cướp phá các huyện. Trấn thủ Sơn Nam Thượng là Chương Tân Lục Hầu không dẹp nổi, bị cách chức xuống làm dân thường. Tổng trấn Bắc Hà, Thành quận công giao ông tạm quyền Trấn thủ. Chẳng bao lâu mà giặc yên.

Việc cho một tướng lĩnh tài giỏi, chưa đầy 55 tuổi nghỉ hưu chắc vua Gia Long không an tâm và có phần lo ngại. Bởi thế, Nguyễn Đình Đắc về quê chưa đầy một năm, tháng 2 năm Canh Ngọ (1810), nhà vua có chiếu triệu ông về kinh nhận việc. Ông vào kinh theo vua đi Quảng Nam để đo đất đắp thành, rồi trở về kinh. Từ sau đó, vua không hỏi gì và cũng không giao công việc gì cho ông nữa. Đây có thể là một biểu hiện cho thấy vua Gia Long đã có lòng nghi kỵ ông.

Ở kinh vừa một năm, ngày 17 tháng 3 năm Tân Mùi (1811), lúc giờ Mùi, ông đột nhiên đau bụng dữ dội, miên man bất tỉnh. Lễ bộ Thượng thư Nam Phong Hầu tâu nhà vua giao Viện Ngự Y cho người đến chăm sóc. Các quan lớn bé trong triều đều đến thăm hỏi. Đến sáng ngày 24 tháng 3, bệnh tình của ông nặng hơn. Thành quận công - lúc này cũng đang được triệu vào kinh - thương tình bạn chiến đấu cũ, sai người rước ông về tư thất mình để tiện bề chăm sóc, vì gia đình ông ở xa. Nhưng ngày hôm đó, vào đúng giờ Mùi, ông trút hơi thở cuối cùng, lúc 57 tuổi. Vua sai Lễ bộ Thượng thư lấy của kho ra khâm liệm chu đáo. Triều đình tiến hành lễ tang, điếu tế xong, sai quan quân đưa quan tài theo đường biển về an tang tại quê nhà ở làng Thượng Xá, phủ Đức Quang (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An).

Tháng 6 năm Tân Mùi (1811), Hiệp trấn Nghệ An là Ngô Gia Tĩnh được vua Gia Long giao trọng trách thay mặt triều đình tổ chức Lễ an táng ông. Lại sai đem văn tế và các vật tộc tư dinh làm Lễ vua tế. Vua lại ban 4.000 cân vôi, 100 quan tiền, 100 phương lúa, 100 thùng mật và giao cho quan phủ địa phương lo xây lăng mộ.

Ngày 1 tháng 6 năm Tân Mùi, niên hiệu Gia Long thứ 10, Hoàng thượng sai Binh bộ Hữu tham trí hành Nghệ An trấn, Hiệp trấn Thanh Hầu Ngô Gia Tĩnh đến tế trước linh vị của ông:

“Suy trung dục viên công thần, Đắc tiến phục quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Khâm sai Chương Đình Đắc Lộc Hầu, Tặng Thiếu bảo Nguyễn Tướng quân”.

Bài Văn tế của vua Gia Long:

“Rằng, Nhớ tướng quân xưa!

Tài sắc bén như lưỡi gươm thần

Tiết vững bền như cây tùng bách

Vua liền sớm gặp người tài

Mây gió ấy ngàn năm một hội

Tôi giỏi bao năm lo việc nước

Súng gươm này trăm trận nên công

Trước sau đeo đuổi một dạ trung thành

Nguy hiểm xông pha, dốc lòng phò tá

Chỉ tiếc Trẫm mười năm ngôi báu,

chưa đền đại thụ công cao.

Nào hay người một đấng tối trung,

vội thấy trường thành, bóng xế.

Ôi thôi!

Nhật Lệ mênh mang, thanh kiếm lặn,

lập lòe chiếu ánh hào quang

Hoành Sơn vời vợi cùng mây bay,

thao thức nghe chuông xúc cảm

Đành riêng bò xôi, cỗ bàn các thứ,

sai quan đến tế tướng quân,

May ra nhận được ơn nước để an ủi lòng trung.

Thương thay!”

Bài Văn tế, tang tế Thành Hầu do quan Tham bồi họ Đinh ở làng Kim Khê soạn:

Than ôi!

Sương lạnh nhà xuân,

Trò múa hết thời phô đạo hiếu

Mùa hè dinh liễu

Điếu văn khôn nỗi thấu hồn trung

Nhớ cha xưa:

Công lao thật lớn

Trung hiếu vẹn tuyền

Tuổi sắp lục tuần, chưa tròn chữ thọ

Vị tốt nhất phẩm, đạt đến mới cao

Trời cho thật hậu

Con chẳng dám kêu.

Chỉ tiếc cách trở xa xôi mà sinh lòng ăn năn ấm ức

Chín chữ cù lao ơn dưỡng dục,

nhớ hoài công đức như trời

Mấy tầng mây nước lỗi thần hồn,

còn mong dịp vui con đón bố.

Ai biết nỗi:

Sinh ly chưa hết

Tử biệt dồn theo!

Đớn đau thay!

Trời xanh khó hỏi

Con trẻ biết sao

Bệnh không được phục thuốc

Chết không được liệm thây

Hồn quê lai láng biển mù khơi

Chu toàn được nhờ tình bè bạn

Ơn nước tràn trề trời vòi vọi

An ủi trông chờ nghĩa vua tôi

Cha đã tận trung,

Chẳng còn gì chưa vừa ý.

Chúng con bất hiếu,

Kể mãi tội chẳng toại lòng.

Ôi!

Mong manh cánh bướm, sống chết số trời

Tan hợp làn mây, phồn hoa tỉnh mộng!

Chôn là dấu, sẽ thành ngôi mộ ngàn thu

Tế là để cầu, mong nhận tấc thành muôn một!

Bài Văn tế trên là của một đại khoa, thật là lời hay ý đẹp. Nhưng bài thơ điếu bằng chữ Nôm sau đây của “Nữ tử Mi Sơn” mà đến nay hậu thế chưa sưu tầm được họ tên, quê quán của tác giả, càng đáng nể phục. Bài thơ tế chỉ có 8 câu mà nói lên được những điều đáng nói về quan Phó Tướng Đắc.

“Năm mươi bảy tuổi thế mà thôi

Một kiếp phù sinh khéo hẹp hòi

Chín bạn hàng xang hơi họ vậy

Sáu con bú bớ tiếng Cha ôi!

Công danh sử sách vài hàng mực

Hồn phách cung tên mấy lớp vôi

Nợ nước đành đem ngay thân trả

Nợ nhà dành lại chúng mồ côi”.

Tương truyền, Nguyễn Đình Đức là con trai út của Phó Tướng Đắc đã sáng tác một bài hát về cha mình với ca từ:

Niềm tự hào

Hội bình trị dạo chơi non nước

Vác chuông này ai kém chi ai đâu

Voi Thung Sơn(3) ngoảnh cổ về chầu

Gươm Lò Thủy(4) dựng nên tài kế thế

Bất cải sơn(5) hà y đai lễ

Tương truyền chung đỉnh kỷ(6) xuân phu

Tấm trung can dặm kẻ tang hồ(7)

Cờ nghĩa khí xanh vàng còn chép để(8)

Xiêm khanh tướng đã lẫy lừng trước bệ

Mũ công hầu còn chất để lên non(9)

Song Ngư biết thuở nào mòn(10)

Gia đìnhSửa đổi

Thời gian làm quan, ông là người công liêm, có uy tín lớn. Ngoài lương, không có bổng lộc. Sau khi ông mất, gia đình vợ con sống trong nghèo khó. Ông có 3 bà vợ. Bà vợ cả quê ở Gia Định. Bà vợ thứ 2 quê ở Quy Nhơn, sinh được 1 người con trai. Bà vợ thứ 3 quê ở huyện Duy Tiên trấn Sơn Nam Thượng, sinh được 4 con trai, 1 con gái.

Tham khảoSửa đổi

Phó tướng Nguyễn Đình Đắc là một nhân vật khá đặc biệt của lịch sử thời phong kiến. Ông xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, của một dòng họ công thần, trên một vùng quê địa linh nhân kiệt. Thủy tổ ông là Nguyễn Xí - Đại thần suốt bốn triều thời Hậu Lê, người được vinh danh “Hai lần khai quốc” như câu đối vua Lê Thánh Tông đã ban tặng: “Bình Ngô khai quốc/ Tịnh nạn trung hưng”. Tiếp đó, các bậc chư tổ của ông có nhiều người là đại thần, tướng lĩnh, quan lại... trong các triều vua Lê. Ông thừa hưởng tư tưởng “Trung quân ái quốc” của tiên tổ và các bậc tiền nhân. Với truyền thống của dòng họ Nguyễn Công thần là trung thành với nhà Lê. Trong thời kỳ khủng hoảng chính trị xã hội đương thời, ông cố tìm cho mình một minh chủ để thực hiện khát vọng phục hưng nhà Lê. Và ông đã dấn thân vào cuộc nội chiến giữa các thế lực Trịnh - Nguyễn - Tây Sơn với biết bao trận mạc, biến cố. Theo dòng thời gian và sự kiện, ông khi ở bên này khi ở bên kia, nhưng dẫu ở bên nào, thì ông cũng đều là một người giỏi cầm quân. Qua các trận chiến, ông đều tỏ ra là một vị tướng trí, dũng song toàn. Điều đặc biệt là, dẫu đầu quân chiến đấu dưới ngọn cờ nào, thì chí hướng nhất quán, xuyên suốt, dựa trên nền tảng tư tưởng “dĩ bất biến” của ông vẫn là phò Lê. Khi thấy chúa Trịnh lộng hành lấn lướt vua Lê, ông đã chạy vào phía Nam để tìm minh chủ và lực lượng để diệt Trịnh, phò Lê. Nhưng khi vào Nam tham gia đội quân của Triều Tây Sơn, ông sớm nhận ra chí hướng anh em Nguyễn Nhạc không có ý định phò Lê. Trong khi đó, với tầm nhìn của mình, ông những tưởng chúa Nguyễn Ánh là hậu duệ của Nguyễn Kim - một cựu thần của nhà Lê - chắc có lý tưởng phò Lê, thì ông đã đầu quân và 20 năm ròng rã hết lòng xông pha chiến đấu lập nên bao công trạng. Phải chăng, những sự kiện thay đổi bước ngoặt trong cuộc đời ông là cái “ứng vạn biến”. Trong những năm tháng tham gia trận mạc, ông hằng ấp ủ rằng, sau khi thời cuộc được bình định, giang sơn thu về một mối, chúa Nguyễn sẽ phục hưng nhà Lê. Nhưng rồi, thế cuộc không diễn ra như ông mong muốn. Đến ngày thắng lợi hoàn toàn, tháng 5-1802, khi ra Bắc mới tới địa đầu trấn Nghệ An - còn cách Thăng Long hơn 300 cây số - chúa Nguyễn Ánh đã xưng ngôi Hoàng đế Gia Long, không đếm xỉa gì đến việc lập lại con cháu nhà Lê. Nhận rõ sự thật bất khả kháng đó, giấc mộng phò Lê trong ông đã tan thành mây khói. Lòng ông trĩu nặng một nỗi buồn nhân thái - nỗi buồn của người thất cơ, lỡ vận, không thực hiện được chí hướng. Sau đó, ông không còn màng đến thế sự, xin được trở về sống nốt phần đời còn lại nơi quê cha đất tổ. Nhưng rồi thế sự cũng không buông tha ông. Ông bị vua Gia Long nghi ngờ, không tin dùng nữa. Từ xưa đến nay, trong dân gian ở vùng quê ông về cái chết của ông là một dư luận tồn nghi lịch sử: Vua Gia Long đã dùng thuốc độc sát hại ông. Những nghi thức tổ chức điếu phúng linh đình, rực rỡ chẳng qua để xoa dịu cho một việc làm mờ ám mà thôi.

Cuộc đời Phó Tướng Nguyễn Đình Đắc để lại dấu ấn bi tráng. Ở cấp độ và tính chất khác hơn, nhưng có thể Nguyễn Đình Đắc cũng không tránh khỏi kết cục bi kịch của những khai quốc công thần triều nhà Nguyễn như: Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường,… Âu đó cũng là một vấn đề có tính qui luật của lịch sử thời phong kiến.

Chú thíchSửa đổi