Mở trình đơn chính

Nguyễn Kế Hưng (chữ Hán: 阮繼興) Tước Hiệu: Hoằng Quận Công (1534-1602)[1]là một tướng lĩnh nhà - Trịnh . sinh năm Giáp Ngọ (1534) tại làng Ngoài, xã Thượng Xá, tổng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An),

Hằng Quận Công
挂郡公
Trí Dũng Đại Tướng Quân. (chi tiết...)
Thiếu bảo Đô đốc
Tại vị1551 - 1600
Tiền nhiệm?
Kế nhiệmTrịnh Quận Công
Thông tin chung
Phu nhânHồ Thị Cẩm
Hậu duệNguyễn Trọng Thưởng Nguyễn Kế Đại
Tên đầy đủ
Nguyễn Kế Hưng 阮繼興
Tước hiệuHằng Quận Công .
Tước vịThiếu Bảo Đô đốc ...
Trí Dũng Đại Tướng Quân...
Thụy hiệuAn Nam Vương
Thân phụ Quỳnh Sơn Hầu
Thân mẫuLê Thị
Sinh1534
Nghệ An
Mất1602
Thái Bình

Tiểu sửSửa đổi

Nguyễn Kế Hưng sinh năm Giáp Ngọ (1534) tại làng Ngoài, xã Thượng Xá, tổng Thượng Xá, huyện Chân Phúc (nay là xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An), trong một gia đình danh gia vọng tộc, ông là con trai thứ hai của Quỳnh Sơn Hầu Nguyễn Đình Báu, cháu đời thứ năm của Thái sư Cương Quốc Công Nguyễn Xí. Vì vậy, ngay từ nhỏ, ông đã được cha mẹ cho học hành chu đáo cả văn và võ. Đến tuổi trưởng thành, ông gia nhập quân đội của vua Lêchúa Trịnh. Với tài năng nổi trội, am hiểu binh thư, ông nhanh chóng được vua Lêchúa Trịnh tin tưởng, trọng dụng, cất nhắc lên chức Đô đốc. Ông đã tham gia nhiều trận chiến, lập được nhiều công trạng to lớn. Tiêu biểu là năm 1574, nhà Mạc sai tướng Nguyễn Quyện dẫn binh thuyền vượt biển vào Hoan Châu chiếm Nghệ An. Trịnh Tùng đã cử ông cùng một số tướng lĩnh khác vào cứu viện. Tại đây, Nguyễn Kế Hưng đã tỏ rõ là một vị tướng am hiểu binh thư, tinh thông trận mạc, góp phần quan trọng làm cho quân Nguyễn Quyện phải rút lui. Sau trận đánh này, Nguyễn Kế Hưng được Trịnh Tùng khen ngợi là “trí dũng đại tướng quân”. Sau đó, ông còn phò tá Trịnh Tùng đi chinh phạt nhà Mạc ở nhiều nơi và lập được nhiều chiến công. Do có công lao lớn nên ông được triều đình vinh phong tước Hoằng quận công .

Năm Canh Tý (1600), Nguyễn Kế Hưng được triều đình điều làm Tổng quan, đi tu bổ đường sá, đê điều ở hai huyện Quỳnh Côi và Thụy Nguyên (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Ông đích thân đi khảo sát thực địa đường sá, đê điều ở cả hai huyện. Sau đó, huy động quân lính cùng nhân dân khẩn trương tu bổ các con đường lớn bị hư hỏng; tu bổ, củng cố lại các đoạn đê có nguy cơ bị vỡ để nhân dân yên tâm sản xuất. Những việc làm của ông đã bước đầu mang lại kết quả: mùa màng bội thu, giao thông đi lại thuận tiện. Nhân dân hai huyện vô cùng phấn khởi, ghi ơn công lao của ông.

Nguyễn Kế Hưng mất năm 1602 trong một trận đánh với quân phản loạn, lúc đó ông 68 tuổi. Thi hài ông được triều đình đem về táng tại quê nhà xã Thượng [2]

Sắc PhongSửa đổi

Năm Kỷ Tỵ (1629), vua Lê Thần Tông ban sắc ghi nhận công lao của ông. Nội dung sắc phong có đoạn: "Ông là người mang chí lớn tang bồng, gây dựng nên dòng họ vinh hiển, nên nhiều đời nhận được ân thưởng của triều đình. Ông kế thừa sự nghiệp của tiền nhân lại có công lớn giúp nước nhà. Công tích ngày trước đã làm rạng rỡ cho tên tuổi ngày nay". Triều đình truy phong cho ông chức Thiếu bảo.Ông không chỉ làm vẻ vang dòng dõi Trung Trinh Đại Vương Nguyễn Xí mà còn là tấm gương sáng để hậu duệ noi theo.

Gia đìnhSửa đổi

Vợ ông là bà Hồ Thị Cẩm, quê ở xã Lan Hương, huyện Đông Thành, Nghệ An - con gái ngài Hồ Hoằng hiến sát thừa tuyên Quảng Nam. Ông bà sinh được 2 người con trai, cả hai đều là công thần triều Lê Trung Hưng, có công lớn, được vua vinh phong chức tước rất cao: - Con trưởng là Nguyễn Trọng Thưởng, hiệu là: “ Phụ quốc, Thần tín, Dương võ, Uy dũng, Tán trị công thần”. Chức là: “ Đặc tiến phụ Thượng tướng quân, Điện tiền Đô hiệu úy điểm ty, Trụ quốc Thượng trật Trinh Quân Công”; - Con thứ là Nguyễn Kế Đại, giữ chức : “ Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Kim ngô vệ, Đô chỉ huy sứ ty, Hữu hiệu điểm, Hòa Thắng Hầu.[3]

Vinh DanhSửa đổi

Nhà thờ Thiếu bảo đô đốc Nguyễn kế Hưng Được Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 5381/QĐ-BVHTTDL ngày 29/12/2017 công nhận Nhà thờ Nguyễn Kế Hưng là di tích lịch lịch cấp quốc gia. Việc công nhận di tích lịch sử đã tạo ra hành lang pháp lý quang trọng để bảo vệ và phát huy tốt giá trị di tích trong thời gian tới.

Tham khảoSửa đổi