Nguyễn Thị Bình

Phó Chủ tịch nước Việt Nam

Nguyễn Thị Bình (sinh năm 1927), là một nữ chính trị gia người Việt Nam. Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973. Bà là một trong những người đại diện các bên ký hiệp định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định. Bà cũng từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ 1992 đến 2002.

Nguyễn Thị Bình
Yến Sa
Nguyen Thi Binh and Dinh (crop).jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ23 tháng 9 năm 1992 – 25 tháng 7 năm 2002
&00000000000000090000009 năm, &0000000000000305000000305 ngày
Chủ tịch nướcLê Đức Anh (1992-1997)
Trần Đức Lương (1997-2002)
Tiền nhiệmNguyễn Thị Định
Kế nhiệmTrương Mỹ Hoa
Vị trí Việt Nam
Logo of Vietnamese Ministry of Education and Training.svg
Bộ trưởng Bộ Giáo dục
Nhiệm kỳ3 tháng 7 năm 1976 – 16 tháng 2 năm 1987
&000000000000001000000010 năm, &0000000000000228000000228 ngày
Tiền nhiệmNguyễn Văn Huyên
Kế nhiệmPhạm Minh Hạc
Vị trí Việt Nam
Nhiệm kỳ8 tháng 6 năm 1969 – 3 tháng 7 năm 1976
&00000000000000070000007 năm, &000000000000002500000025 ngày
Tiền nhiệmkhông có
Kế nhiệmkhông có
Vị tríFNL Flag.svg Miền Nam Việt Nam
Đại biểu Quốc hội khóa VI, VII, VIII, IX, X
Nhiệm kỳ25 tháng 4 năm 1976 – 19 tháng 7 năm 2002
&000000000000002600000026 năm, &000000000000008500000085 ngày
Thông tin chung
Quốc tịch Việt Nam
Sinh26 tháng 5, 1927 (94 tuổi)
làng Tân Hiệp, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc, Nam Kỳ, Đông Dương thuộc Pháp
Dân tộcKinh
Tôn giáokhông
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam
ChồngĐinh Khang
Gia quyếnPhan Châu Trinh (ông ngoại)

Thân thế và bước đầu sự nghiệp chính trịSửa đổi

Bà tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa,[1] sinh ngày 26 tháng 5 năm 1927 tại làng Tân Hiệp, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay là xã An Hiệp (ghép hai xã An Tịch và Tân Hiệp), huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp). Tuy nhiên, nguyên quán của cha bà là Cụ Nguyễn Đồng Hợi, lại ở Gò Nổi, TX.Điện Bàn, Quảng Nam. Mẹ bà là bà Phan Thị Châu Lan (tục gọi là cô Mè, 1904-1944), là người con gái thứ hai của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh.

Cha của bà là ông Nguyễn Đồng Hợi từng làm tham tá công chánh thời Pháp thuộc, làm công tác họa đồ (nên ông còn được gọi là Họa đồ Hợi) nên thuở nhỏ gia đình bà cư trú tại Phnôm Pênh, Campuchia, do đó bà được cho ăn học ở một trường nổi tiếng ở Đông Dương thời bấy giờ tại Phnôm Pênh là trường Lycée Sisowath. Bà được học tiếng Pháp ở đây cho hết tú tài I, và học rất khá.

Năm 1944, mẹ bà qua đời lúc bà mới 17 tuổi, bà theo gia đình trở về nước và bắt đầu tham gia các hoạt động yêu nước trong phong trào sinh viên học sinh như cứu tế và cướp chính quyền tại Sài Gòn. Sau khi Pháp tái chiếm Nam Bộ cuối năm 1945, cha bà ra chiến khu theo lời kêu gọi của Ủy ban hành chánh kháng chiến Nam Bộ (sau được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam, Lê Đức Anh - sau này là Đại tướng, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam - là một trong hai người giới thiệu). Riêng bà ở lại để chăm sóc các em, vừa hoạt động bí mật cho phong trào Việt Minh khối sinh viên học sinh và phụ nữ. Lúc này, bà lấy bí danh là Yến Sa [2]. Năm 1948, bà được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương [3]. Năm 1951, bà bị thực dân Pháp bắt giam và bị tra khảo tại bót Catinat, sau đó bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn rồi khám Chí Hòa (1951-1953).

Năm 1954, bà ra tù và tham gia luôn vào phong trào hoà bình đòi thi hành Hiệp định Genève. Năm 1955, bà được điều ra Bắc tập kết và được đào tạo thêm theo chương trình bồi dưỡng cán bộ đặc biệt.

Trở thành nhà ngoại giaoSửa đổi

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập. Năm 1962, bà được điều trở lại miền Nam với cái tên mới là Nguyễn Thị Bình, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương Mặt trận Giải phóng, hoạt động ở mảng đối ngoại, kiêm Phó Tổng thư ký Hội Phụ nữ Giải phóng.

Năm 1963 bà sang Trung Quốc và được lãnh tụ Mao Trạch Đông tiếp.

Cuối năm 1968, bà được cử làm Trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng sang Paris dự Hội nghị Paris về Việt Nam, đến đầu tháng 1 năm 1969, ông Trần Bửu Kiếm giữ chức vụ trưởng đoàn, còn bà được rút về nước để chuẩn bị cho việc thành lập Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ngày 6 tháng 6 năm 1969, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập, bà được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Sau đó bà lại trở sang Paris đảm nhận lại chức vụ Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ lâm thời. Trong suốt thời gian 1968-1972, bà nổi tiếng trong các cuộc họp báo tại hội nghị 4 bên tại Paris, với phong cách ngoại giao lịch lãm và duyên dáng, được giới truyền thông đặt cho biệt hiệu Madame Bình.

Khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, bà là người đại diện của Cộng hòa miền Nam Việt Nam, một trong bốn bên ký vào bản Hiệp định.

Lịch sử ngành ngoại giao Việt Nam ghi nhận bà Nguyễn Thị Bình là nữ bộ trưởng đầu tiên.

Các chức vụ thời bìnhSửa đổi

Sau sự kiện 30 tháng 4, bà làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1976-1987), rồi Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1987-1992). Bà còn là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá V (03/1982-1986), Đại biểu Quốc hội từ khoá VI đến khoá X (1976-2002).

Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu làm Phó chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và giữ chức vụ này liên tục trong 10 năm (1992-2002). Bà là người phụ nữ Việt Nam thứ hai giữ chức vụ phó nguyên thủ[4] sau bà Nguyễn Thị Định - Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (tương đương Phó Chủ tịch nước hiện nay).

Sau khi nghỉ hưu vào năm 2002, bà tiếp tục làm Chủ tịch của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam. Năm 2003, bà thành lập Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam và làm Chủ tịch của tổ chức này cho đến nay. Ngoài ra, bà cũng là Chủ tịch danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam kể từ khi hội này được thành lập vào tháng 1/2004. Năm 2001, bà được Chủ tịch nước Trần Đức Lương trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

Gia đìnhSửa đổi

Bà sinh ra ở trong 1 gia đình có 6 anh chị em, cha bà là ông Nguyễn Đồng Hợi, mẹ là bà Phan Thị Châu Lan. Ông ngoại bà là nhà hoạt động chính trị Phan Châu Trinh.

Bà lập gia đình với ông Đinh Khang[5] năm 1955. Họ có hai người con: Đinh Nam Thắng (sinh năm 1956) và Đinh Thùy Mai (sinh năm 1960). Ông Đinh Khang qua đời năm 1989.

Tác phẩmSửa đổi

  • Gia đình, bạn bè, đất nước (hồi ký), Nhà xuất bản Tri Thức, Hà Nội, 2012 (đã được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Nhật)

Phong tặngSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Có tài liệu ghi tên bà được đặt ghép từ địa danh nơi bà sinh ra là Sa Đéc và lấy từ chữ Châu từ chữ lót của ông ngoại và thân mẫu bà
  2. ^ Có tài liệu ghi là Kim Sa
  3. ^ lúc đó đã rút vào bí mật, hoạt động dưới tên gọi Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương
  4. ^ Người phụ nữ đầu tiên là bà Nguyễn Thị Định, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước 1987-1992
  5. ^ sau là Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam
  6. ^ “Trao Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng tặng đồng chí Nguyễn Thị Bình”. Báo Nhan dân. 31 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017.

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi