Mở trình đơn chính

Nguyễn Thị Nguyệt Hường (sinh ngày 9 tháng 4 năm 1970, quê xã Thành Lợi, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), là một doanh nhânchính khách người Việt Nam. Bà từng là đại biểu HĐND TP Hà Nội khóa XII, XIII; Quốc hội Việt Nam khoá XIIQuốc hội Việt Nam khoá XIII thành phố Hà Nội.[1]

Bà Hường cũng đắc cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá XIV năm 2016 ở Hà Nội với tỉ lệ số phiếu cao nhất đơn vị bầu cử. Ngoài ra bà còn là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần đầu tư TNG Holdings Việt Nam; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Tập đoàn đầu tư phát triển Việt Nam; Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hiệp hội Công thương TP Hà Nội; Phó chủ tịch Hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài TP Hà Nội; Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội nữ Doanh nhân Việt Nam.

Tuy nhiên, Hội đồng bầu cử quốc gia đã họp, bỏ phiếu kín không công nhận tư cách đại biểu Quốc hội khóa XIV đối với bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường vào ngày 17 tháng 7 năm 2016 do bà không đủ tiêu chuẩn đại biểu vì bà có quốc tịch thứ hai là của Cộng hòa Malta.[2]

Giáo dụcSửa đổi

  • Cử nhân Ngôn ngữ
  • Cử nhân Anh văn, kế toán, quản trị doanh nghiệp
  • Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh
  • Trung cấp lí luận chính trị

Tiểu sửSửa đổi

  • 1987-1992 đại học tổng hợp Moskva.[3]
  • 1992 Phó giám đốc công ty TNHH Intelcom Moskva.
  • 1996 Về nước, làm việc cho CTCP Nam Thắng.
  • 1999 Đại biểu HĐND TP Hà Nội.
  • 2005 TV HĐQT Ngân hàng Hải Hưng
  • 2006 chủ tịch VID group
  • 2007 chủ tịch HĐQT CTCP Bất động sản Mùa Đông; đại biểu HĐND TP Hà Nội
  • 2010 phó chủ tịch HĐQT VP Bank
  • Ngày 3-8-2016 HĐND TP Hà Nội thông qua nghị quyết về việc bãi nhiệm đại biểu HĐND với bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường. Ngoài việc vi phạm luật Quốc tịch, bà đã vi phạm Luật Bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp khi không khai báo tiền và tài khoản ở nước ngoài.[4]

Vụ không công nhận tư cách đại biểu Quốc hội khóa XIVSửa đổi

Chánh Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, bà Nguyệt Hường đã vi phạm điều 4, Luật Quốc tịch Việt Nam. Theo ông Phúc, Hiến pháp quy định "Công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam". Và tại điều 4, Luật quốc tịch Việt Nam quy định về nguyên tắc quốc tịch, nêu rõ "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác". Đạo luật nêu trên đề ra nguyên tắc một quốc tịch, việc công nhận hai quốc tịch chỉ áp dụng với một số ngoại lệ, trong đó chủ yếu là áp dụng với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam. Các trường hợp này phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam.[2]

Tham khảoSửa đổi