Novaculichthys taeniourus, còn được gọi là bàng chài đai đuôi[1], loài cá biển duy nhất thuộc chi Novaculichthys trong họ Cá bàng chài. Loài này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1839.

Novaculichthys taeniourus
Rockmover wrasse (Novaculichthys taeniourus) (46387007204).jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Actinopterygii
Bộ (ordo)Perciformes
Họ (familia)Labridae
Chi (genus)Novaculichthys
Bleeker, 1862
Loài (species)N. taeniourus
Danh pháp hai phần
Novaculichthys taeniourus
(Lacépède, 1801)
Danh pháp đồng nghĩa

Chi:

  • Malacocentrus Gill, 1862
  • Dimalacocentrus Gill, 1863
  • Semachlorella Fowler & Bean, 1928

Loài:

  • Labrus taeniourus Lacépède, 1801
  • Hemipteronotus taeniourus (Lacépède, 1801)
  • Julis bifer Lay & Bennett, 1839
  • Novaculichthys bifer (Lay & Bennett, 1839)

Phân bố và môi trường sốngSửa đổi

N. taeniourus có phạm vi phân bố rộng khắp các vùng biển thuộc Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Ở Ấn Độ Dương, loài cá này được tìm thấy từ Biển Đỏ và vùng biển phía đông nam bán đảo Ả Rập, trải dài theo đường bờ biển Đông Phi, bao gồm Madagascar và các hòn đảo, bãi cạn xung quanh, đến vùng biển phía nam Ấn Độ, bao gồm Sri Lanka và các quần đảo lân cận, cũng như khắp biển Andaman. Phía tây Thái Bình Dương, chúng có mặt ở khắp vùng biển các nước Đông Nam Á; về phía bắc, phạm vi của N. taeniourus trải dài đến quần đảo Ryukyuquần đảo Hawaii; phạm vi phía nam giới hạn đến đảo Lord Howe; ở phía đông, N. taeniourus có mặt xung quanh các quần đảo thuộc 3 tiểu vùng: Melanesia, Micronesia, Polynesia. Phía đông Thái Bình Dương, loài này xuất hiện từ vịnh California dọc theo Trung Mỹ đến Panamaquần đảo Galapagos ở ngoài khơi[2].

N. taeniourus sống gần các rạn san hô và những bãi đá ngầm ở độ sâu khoảng 35 m trở lại. Chúng sống phổ biến tại những khu vực có cát và đá vụn hỗn hợp[2][3].

Mô tảSửa đổi

Chiều dài cơ thể tối đa được ghi nhận ở N. taeniourus là 30 cm. Cơ thể và các vây của cá trưởng thành có màu nâu lục; hai bên lườn có những đốm trắng trên mỗi vảy. Đầu có các sọc nâu viền trắng ở quanh phía sau của mắt. Vây đuôi có dải trắng đặc trưng bao quanh cuống đuôi. Những cá thể lớn hơn thường có bụng và ngực màu đỏ nâu[4][5].

Cá con có màu nâu lục, đỏ nâu hoặc xanh lục, với rải rác các đốm trắng khắp cơ thể. Hai gai vây lưng của cá con ở gần đầu vươn cao trông như cặp sừng của rồng nên khi còn nhỏ, N. taeniourus còn được gọi là Dragon wrasse (bàng chài rồng)[4]. Do màu sắc và cấu tạo hình dáng cơ thể nên thoạt nhìn những cá thể con rất giống với những chiếc lá hoặc rong tảo trôi theo dòng nước[2][3][4].

Số gai ở vây lưng: 9 (2 gai đầu tiên vươn dài ở cá con); Số tia vây mềm ở vây lưng: 12 - 13; Số gai ở vây hậu môn: 3; Số tia vây mềm ở vây hậu môn: 12 - 13[3].

Tập tínhSửa đổi

N. taeniourus trưởng thành thường bơi theo cặp. Chúng dùng mõm để đẩy và bới những mảnh đá lớn để tìm thức ăn. Thông thường, một con sẽ chịu trách nhiệm công việc đào bới, và con còn lại chỉ việc chộp lấy con mồi, và cứ thế thay phiên nhau[3]. Vì tập tính này mà N. taeniourus còn có tên gọi khác là Rockmover wrasse (bàng chài di chuyển đá)[3][4].

Thức ăn của N. taeniourus là các loài động vật thân mềm, động vật giáp xác và cả loài nhím biển[2][3].

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Novaculichthys taeniourus (Lacépède, 1801)”. Hệ Thống Cơ Sở Dữ Liệu Quốc Gia Về Đa Dạng Sinh Học Việt Nam. Truy cập 5 tháng 2 năm 2020. 
  2. ^ a ă â b Novaculichthys taeniourus. Sách Đỏ IUCN. Truy cập 5 tháng 2 năm 2020. 
  3. ^ a ă â b c d Novaculichthys taeniourus (Lacépède, 1801)”. FishBase. Truy cập 5 tháng 2 năm 2020. 
  4. ^ a ă â b Monika Mira (2009), The Complete Hawaiian Reef Fish Coloring Book, Nhà xuất bản Lucid Publishing, tr.33 ISBN 9780979337406
  5. ^ Novaculichthys taeniourus (Lacepède, 1801) - FAO” (PDF). Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc. Truy cập 5 tháng 2 năm 2020.