Olympic Vật lý Quốc tế

Olympic Vật lý Quốc tế (tiếng Anh: International Physics Olympiad, viết tắt IPhO) là một kỳ thi Vật lý hàng năm dành cho học sinh trung học phổ thông. Đây là một trong những kỳ thi Olympic Khoa học Quốc tế. IPhO đầu tiên được tổ chức ở Warsaw, Ba Lan vào năm 1967.

Mỗi nước được cử một đoàn dự thi gồm tối đa năm học sinh và thêm hai lãnh đạo đoàn đã được lựa chọn ở cấp quốc gia. Các nhà quan sát cũng có thể đi cùng với đội tuyển quốc gia. Các học sinh cạnh tranh với tư cách cá nhân, và phải trải qua kỳ thi lý thuyết chuyên sâu và thi thực hành ở phòng thí nghiệm. Những nỗ lực của các thí sinh được ghi nhận bằng các giải thưởng là các huy chương vàng, bạc, đồng hoặc bằng danh dự.

Kỳ thi lý thuyết kéo dài 4 giờ đồng hồ và gồm 3 câu hỏi. Thông thường những câu hỏi này liên quan nhiều phần khác nhau. Kỳ thi thực hành diễn ra ở phòng thí nghiệm trong 5 giờ liên tục hoặc chia thành hai đợt với tổng thời gian là 5 giờ.

Lịch sửSửa đổi

Nhiều tháng trước khi diễn ra IPhO đầu tiên vào năm 1967, lời mời đã được gửi tới tất cả các nước Trung Âu. Lời mời được chấp nhận bởi Bulgaria, Tiệp Khắc, HungaryRomânia (năm nước gồm Ba Lan, nhà tổ chức kỳ thi). Mỗi đội gồm có ba học sinh trung học và kèm theo một giám sát viên. kỳ thi được sắp xếp diễn ra cùng với giai đoạn cuối Olympic Vật lý Ba Lan: một ngày dành cho các bài toán lý thuyết và một ngày thực hiện một thí nghiệm. Một sự khác biệt rõ ràng là những thí sinh đã phải chờ cho đến khi các script được đánh dấu xong. Trong thời gian chờ đợi ban tổ chức đã bố trí hai chuyến tham quan bằng máy bay đến KrakGdańsk. Tại IPhO lần đầu tiên này các thí sinh phải giải quyết bốn bài toán lý thuyết và một bài toán thực nghiệm.

Olympic lần thứ hai được tổ chức bởi Giáo sư Rezső Kunfalvi ở Budapest, Hungary, vào năm 1968. Tám quốc gia đã tham gia kỳ thi đó. Cộng hòa dân chủ Đức, Liên bang Xô ViếtNam Tư đã tham dự. Một lần nữa, mỗi nước được đại diện bởi ba học sinh trung học và một giám sát viên. Trước IPhO lần thứ hai không lâu, một phiên bản sơ bộ Điều lệ và Chương trình (tiếng Anh: Syllabus = Chương trình học, khóa học, hay kế hoạch) đã được soạn thảo. Sau đó những tài liệu này đã được chấp nhận chính thức bởi Hội đồng quốc tế bao gồm các giám sát viên của các đoàn tham gia kỳ thi. Việc này đã diễn ra trong một cuộc họp đặc biệt tổ chức tại Brno, Tiệp Khắc, nhiều tháng sau khi IPhO lần thứ hai được tổ chức.

IPhO lần ba được sắp xếp bởi Giáo sư Rostislav Kostial ở Brno, Tiệp Khắc, vào năm1969. Lần này mỗi đội bao gồm năm học sinh và hai giám sát viên. kỳ thi ở Brno được tổ chức tuân theo Điều lệ chính thức đã được công nhận trước đó.

Olympic tiếp theo được tổ chức ở Moskva, Liên bang Xô Viết, vào năm 1970. Mỗi quốc gia được đại diện bởi sáu học sinh và hai giám sát viên. Trong suốt Olympic lần này nhiều thay đổi nhỏ được đưa vào Điều lệ.

Từ IPhO lần thứ năm được tổ chức ở Sofia, Bulgaria, vào năm 1971, mỗi đội bao gồm năm học sinh và hai giám sát viên. Vào năm 1978 và năm 1980, IPhO không được tổ chức. Điều này là do sự gia nhập của các nước phương Tây mà đầu tiên là Pháp.[1] Ban đầu, các nước phương Tây tham dự đã từ chối chấp nhận nguyên tắc IPhO được tổ chức hai năm một lần tại một quốc gia khối phương Đông và phương Tây. Vì vậy, các nước thuộc khối phương Đông đã từ chối tổ chức Olympic các năm 1978 và 1980. Từ năm 1982 trở đi, kỳ thi Olympic hàng năm đã được khôi phục vì có các nước phương Tây tham gia đủ để chia sẻ gánh nặng. Hiện nay, các địa điểm tổ chức Olympic sẽ được quyết định cho năm kế tiếp. Sau khi gia nhập vào IPhO, mỗi quốc gia phải thông báo cho những thành viên khác trong vòng ba năm về sự sẵn sàng làm chủ nhà tổ chức IPhO của mình. Sau đó, quốc gia này sẽ được xếp vào danh sách chờ, mà danh sách này rất dài (vào thời điểm năm 2006 đã trải dài tới thập niên 2050). Việc tổ chức Olympic IPhO thất bại của một nước khi đến lượt mình sẽ dẫn tới việc nước đó bị trục xuất tạm thời ra khỏi IPhO. Điều này đã từng xảy ra với Pháp vào năm 1986.

Quy chế kỳ thiSửa đổi

Kỳ thi kéo dài hai ngày. Một ngày dành cho các bài toán lý thuyết (ba bài toán liên quan ít nhất bốn lĩnh vực vật lý đã được dạy trong trường trung học phổ thông, tổng số điểm là 30). Ngày còn lại dành cho các bài toán thí nghiệm (một hoặc hai bài toán, tổng số điểm là 20). Hai ngày này được cách ra bởi ít nhất một ngày nghỉ. Ở cả hai cuộc thi lý thuyết và thực hành thời gian giới hạn để giải quyết các bài toán là năm giờ. Mỗi đội gồm các học sinh đến từ các trường trung học thông thường (tổng hợp) hoặc các trường trung học kỹ thuật (không phải các trường cao đẳng hoặc đại học) hoặc đã tốt nghiệp nhưng chưa vào đại học, và phải có độ tuổi dưới 20. Thông thường mỗi đội bao gồm năm học sinh và hai giám sát viên.

Phân bố huy chươngSửa đổi

Điểm số tối thiểu để được trao huy chương Olympic và bằng danh dự được chọn bởi nhà tổ chức dựa vào các quy tắc sau:

  • Huy chương Vàng được trao cho top 8% số thí sinh tham gia
  • Huy chương Bạc hoặc tốt hơn được trao cho top 25% số thí sinh tham gia
  • Huy chương Đồng được trao cho top 50% số thí sinh tham gia
  • Bằng danh dự hoặc tốt hơn được trao cho top 67% số thí sinh tham gia

Tất cả các thí sinh còn lại nhận giấy chứng nhận đã tham gia kỳ thi.

Thí sinh có điểm số cao nhất (thắng tuyệt đối) ngoài Huy chương Vàng còn nhận thêm giải đặc biệt.[2]

Danh sách các địa điểm tổ chức thi IPhO, các cuộc thi đã và sẽ diễn raSửa đổi

Thứ tự Năm Nước chủ nhà Thành phố chủ nhà Người chiến thắng Điểm số Trang chủ
I 1967   Ba Lan Warsaw   HUN Sándor Szalay 39/40
II 1968   Hungary Budapest   POL Tomasz Kręglewski
  TCH Mojmír Simerský
35/40
III 1969   Tiệp Khắc Brno   TCH Mojmír Šob 48/48
IV 1970   Liên Xô Moskva   URS Mikhaïl Volochine 57/60
V 1971   Bulgaria Sofia   TCH Karel Šafařík
  HUN Ádám Tichy-Rács
48.6/60
VI 1972   Romania Bucharest   HUN Zoltán Szabó 57/60
1973 Không tổ chức
VII 1974   Ba Lan Warsaw   POL Jarosław Deminet
  POL Jerzy Tarasiuk
46/50
VIII 1975   Đông Đức Güstrow   URS Sergey Korshunov 43/50
IX 1976   Hungary Budapest   POL Rafał Łubis 47.5/50
X 1977   Tiệp Khắc Hradec Králové   TCH Jiří Svoboda 49/50
1978 Không tổ chức
XI 1979   Liên Xô Moskva   URS Maksim Tsipine 43/50
1980 Không tổ chức
XII 1981   Bulgaria Varna   URS Aleksandr Goutine 47/50
XIII 1982   Tây Đức Malente   FRG Manfred Lehn 43/50
XIV 1983   Romania Bucharest   BUL Ivan Ivanov 43.75/50
XV 1984   Thụy Điển Sigtuna   NED Jan de Boer
  ROM Sorin Spânoche
43/50
XVI 1985   Nam Tư Portorož   TCH Patrik Španĕl 42.5/50
XVII 1986   Vương quốc Anh Luân Đôn-Harrow   URS Oleg Volkov 37.9/50
XVIII 1987   Đông Đức Jena   ROM Catalin Malureanu 49/50
XIX 1988   Áo Bad Ischl   GBR Conrad McDonnell 39.38/50
XX 1989   Ba Lan Warsaw   Hoa Kỳ Steven Gubser 46.33/50
XXI 1990   Hà Lan Groningen   GBR Alexander H. Barnett 45.7/50
XXII 1991   Cuba Havana   URS Timour Tchoutenko 48.2/50
23 1992   Phần Lan Helsinki   CHN Chen Han 44/50
24 1993   Hoa Kỳ Williamsburg   CHN Zhang Junan
  GER Harald Pfeiffer
40.65/50
25 1994   Trung Quốc Bắc Kinh   CHN Yang Liang 44.3/50
26 1995   Úc Canberra   CHN Yu Haitao 95/100
27 1996   Na Uy Oslo   CHN Liu Yurun 47.5/50
28 1997   Canada Sudbury   IRN Mahdi Anvari 47.25/50
29 1998   Iceland Reykjavík   CHN Chen Yuao 47.5/50 1998 IPhO
30 1999   Ý Padova   RUS Konstantin Kravtsov 49.8/50 1999 IPhO
31 2000   Vương quốc Anh Leicester[3]   CHN Lu Ying[3] 43.4/50[3] IPHO2000 (via archive.org)
32 2001   Thổ Nhĩ Kỳ Antalya   RUS Daniyar Nourgaliev 47.55/50
33 2002   Indonesia Bali   VIE Đặng Ngọc Dương 45.40/50 ipho33 (via archive.org)
34 2003   Đài Loan Đài Bắc   Hoa Kỳ Pavel Batrachenko 42.30/50 ipho2003
35 2004   Hàn Quốc Pohang   BLR Alexander Mikhalychev 47.70/50 IPHO2004 (via archive.org)
36 2005   Tây Ban Nha Salamanca   HUN Gábor Halász
  TWN Lin Ying-hsuan
49.50/50 ipho2005
37 2006   Singapore Singapore   INA Jonathan Pradana Mailoa 47.20/50 ipho2006.org
38 2007   Iran Isfahan   KOR Choi Youngjoon 48.80/50 IPHO2007.ir (via archive.org)
39 2008   Việt Nam Hà Nội   CHN Tan Longzhi 44.60/50 IPHO2008 (via archive.org)
40 2009   México Mérida   CHN Shi Handuo 48.20/50 ipho2009.smf.mx
41 2010   Croatia Zagreb   CHN Yu Yichao 48.65/50 ipho2010.hfd.hr
42 2011   Thái Lan Bangkok   TWN Hsu Tzu-ming 48.50/50 IPhO 2011 Thailand
43 2012   Estonia TartuTallinn   HUN Attila Szabó 45.80/50 ipho2012.ee
44 2013   Đan Mạch Copenhagen   HUN Attila Szabó 47/50 ipho2013.dk
45 2014   Kazakhstan Astana   CHN Xiaoyu Xu 41.20/50 ipho2014.kz
46 2015   Ấn Độ Mumbai   KOR Taehyoung Kim 48.30/50 ipho2015.in
47 2016   Thụy Sĩ  Liechtenstein Zurich   CHN Mao Chenkai 48.10/50 ipho2016.org
48 2017   Indonesia Yogyakarta   JPN Akihiro Watanabe Không công bố (dưới 40) ipho2017.id
49 2018   Bồ Đào Nha Lisbon   CHN Yang Tianhua 46.8/50 ipho2018.pt
50 2019   Israel TBD TBD TBD
51 2020   Lithuania TBD TBD TBD
52 2021   Indonesia TBD TBD TBD
53 2022   Nhật Bản TBD TBD TBD
54 2023   Iran TBD TBD TBD
55 2024   Pháp TBD TBD TBD
56 2025   Colombia TBD TBD TBD
57 2026 TBD TBD TBD TBD
58 2027   Hàn Quốc TBD TBD TBD
59 2028   Ecuador TBD TBD TBD

List of venues

  • Trong một số kì thi, Đài Loan dùng Trung Hoa Đài Bắc làm tên đội để tham gia kì thi.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi