Mở trình đơn chính

Paracetamol (tên nhãn hiệu quốc tế không độc quyền) hay acetaminophen, APAP (tên được chấp nhận tại Hoa Kỳ) là một thuốc có tác dụng hạ sốt và giảm đau,[1] tuy nhiên không như aspirin nó không hoặc ít có tác dụng chống viêm. Khả năng làm giảm sốt cho trẻ em của thuốc này còn đang được tranh cãi.[11][12]

Paracetamol
N-Acetyl-p-aminophenol.svg
Paracetamol-3D-balls.png
Dữ liệu lâm sàng
Phát âmParacetamol: /ˌpærəˈstəmɒl/
Acetaminophen: /əˌstəˈmɪnəfɪn/ ()
Tên thương mạiTylenol, Panadol, khác[2]
Đồng nghĩaN-acetyl-para-aminophenol (APAP), acetaminophen (USAN US)
AHFS/Drugs.comChuyên khảo
MedlinePlusa681004
Giấy phép
Danh mục cho thai kỳ
  • AU: A
  • US: C (Rủi ro không bị loại trừ) [1]
  • Không thử nghiệm, nhưng dường như an toàn
Dược đồ sử dụngUống, ngậm, đặt hậu môn, tiêm tĩnh mạch (IV).
Mã ATC code
Tình trạng pháp lý
Tình trạng pháp lý
Dữ liệu dược động học
Sinh khả dụng63–89%[4]:73
Liên kết protein huyết tương10–25%[5]
Chuyển hóa dược phẩmChủ yếu trong gan[3]
Chất chuyển hóaAPAP gluc, APAP sulfat, APAP GSH, APAP cys, NAPQI[6]
Bắt đầu tác dụngGiảm đau theo cách sử dụng:
Uống – 37 phút[7]
Đặt hậu môn – 15 phút[7]
Truyền ven – 8 phút[7]
Chu kỳ bán rã sinh học1–4 giờ[3]
Bài tiếtNước tiểu (85–90%)[3]
Các định danh
Số đăng ký CAS
PubChem CID
IUPHAR/BPS
DrugBank
ChemSpider
Định danh thành phần duy nhất
KEGG
ChEBI
ChEMBL
Phối tử ngân hàng dữ liệu protein
ECHA InfoCard100.002.870
Dữ liệu hóa lý
Công thức hóa họcC8H9NO2
Khối lượng phân tử151,163 g/mol g·mol−1
Mẫu 3D (Jmol)
Tỉ trọng1,263 g/cm3
Điểm nóng chảy169 °C (336 °F) [9][10]
Điểm sôi420 °C (788 °F)
Độ hòa tan trong nước
  • 7,21 g/kg (0 °C)[8]
  • 8,21 g/kg (5 °C)[8]
  • 9,44 g/kg (10 °C)[8]
  • 10,97 g/kg (15 °C)[8]
  • 12,78 g/kg (20 °C)[8]
  • ~14 mg/ml (20 °C)

So với các thuốc NSAID, paracetamol có rất ít tác dụng phụ với liều điều trị nên được cung cấp không cần kê đơn ở hầu hết các nước. Và thường được bán cùng với các thành phần khác trong các đơn thuốc trị cảm lạnh.[1] Paracetamol được dùng kết hợp với các thuốc giảm đau gốc thuốc phiện để làm giảm các cơn đau nặng hơn như đau do ung thư và đau hậu phẫu thuật.[13]

Paracetamol được hấp thu bằng đường miệng hoặc hậu môn và cũng có thể tiêm tĩnh mạch.[1][14] Tác dụng của thuốc trong vòng 2 đến 4 giờ sau khi dùng.[14]

Từ năm 1977, Paracetamol đã được đưa vào Danh sách các thuốc thiết yếu của WHO.

Tên gọiSửa đổi

Tên gọi acetaminophenparacetamol được lấy từ tên của hợp chất hóa học: para-acetylaminophenol và para-acetylaminophenol.

Lịch sửSửa đổi

Từ xa xưa, người ta đã biết sử dụng cây liễu để làm thuốc hạ sốt, mà sau này đã chiết xuất được aspirin. Thế kỷ 19, cây canh ki na và chất chiết xuất từ nó là quinin được sử dụng để hạ sốt cho bệnh nhân sốt rét.[15]

Khi cây canh ki na dần khan hiếm vào những năm 1880, người ta bắt đầu đi tìm các thuốc thay thế. Khi đó 2 thuốc hạ sốt đã được tìm ra là acetanilide năm 1886 và phenacetin năm 1887. Năm 1878 Harmon Northrop Morse lần đầu tiên đã tổng hợp được paracetamol từ con đường giáng hóa p-nitrophenol cùng với thiếc trong dấm đóng băng.[16] Tuy nhiên, paracetamol không được dùng làm thuốc điều trị trong suốt 15 năm sau đó. Năm 1893, paracetamol được tìm thấy trong nước tiểu của người uống phenacetin, và được cô đặc thành một chất kết tinh màu trắng có vị đắng. Năm 1899, paracetamol được khám phá là một chất chuyển hóa của acetanilide. Khám phá này đã bị lãng quên vào thời gian đó.

 
Julius Axelrod đang trình bày công thức hóa học của Paracetamol.

Năm 1946, Viện nghiên cứu về giảm đau và thuốc giảm đau (the Institute for the Study of Analgesic and Sedative Drugs) đã tài trợ cho Sở Y tế New York để nghiên cứu các vấn đề xung quanh các thuốc điều trị đau. Bernard BrodieJulius Axelrod được chỉ định nghiên cứu tại sao các thuốc không-aspirin lại liên quan đến tình trạng gây hemoglobin cao sắt (met-hemoglobin), (tình trạng làm giảm lượng oxy được mang trong hồng cầu và có thể gây tử vong). Năm 1948, Brodie và Axelrod liên kết việc sử dụng acetanilide với met-hemoglobin và xác định được rằng, tác dụng giảm đau của acetanilide là do paracetamol - chất chuyển hóa của nó gây ra. Họ chủ trương sử dụng paracetamol trong điều trị và từ đó đã không xuất hiện các độc tính như của acetanilide nữa.[17] Sản phẩm paracetamol lần đầu được McNeil Laboratories bán ra năm 1955 như một thuốc giảm đau hạ sốt cho trẻ em với tên Tylenol Children's Elixir.[18] Sau này, paracetamol trở thành thuốc giảm đau hạ sốt được sử dụng rộng rãi nhất với rất nhiều tên biệt dược được lưu hành.

Hoá họcSửa đổi

Cấu trúc và phản ứngSửa đổi

Paracetamol gồm có một vòng nhân benzen, được thế bởi một nhóm hydroxyl và nguyên tử nitơ của một nhóm amid theo kiểu para (1,4). Nhóm amid là acetamide (ethanamide). Đó là một hệ thống liên kết đôi rộng rãi, như cặp đôi đơn độc trong hydroxyl oxy, đám mây pi benzen, cặp đôi đơn độc ni-tơ, quỹ đạo p trong carbonyl carbon, và cặp đôi đơn độc trong carbonyl oxygen; tất cả đều được nối đôi. Sự có mặt của hai nhóm hoạt tính cũng làm cho vòng benzene phản ứng lại với các chất thay thế thơm có ái lực điện. Khi các nhóm thay thế là đoạn mạch thẳng ortho và para đối với mỗi cái khác, tất cả các vị trí trong vòng đều ít nhiều được hoạt hóa như nhau. Sự liên kết cũng làm giảm đáng kể tính ba-zơ của oxy và ni-tơ, khi tạo ra các hydroxyl có tính acid.

Tổng hợpSửa đổi

Từ nguyên liệu ban đầu là phenol, paracetamol có thể được tạo ra theo cách sau đây:

 
Tổng hợp paracetamol
  1. Phenol được nitrat hóa bởi acid sulfuricnatri nitrat (phenol là chất có hoạt tính cao, sự nitrat hóa của nó chỉ đòi hỏi điều kiện thông thường trong khi hỗn hợp hơi acid sulfuric và acid nitric cần có nitrate benzene).
  2. Chất đồng phân para được tách từ chất đồng phân ortho bằng thuỷ phân (sẽ có một ít meta, như OH là mạch thẳng o-p).
  3. Chất 4-nitrophenol được biến đổi thành 4-aminophenol sử dụng một chất khử như natri borohydride trong dung môi ba-zơ.
  4. 4-aminophenol phản ứng với acetic anhydride để cho paracetamol.

Dược lýSửa đổi

Dược động họcSửa đổi

Hấp thu nhanh qua ống tiêu hóa, sinh khả dụng là 80-90%, hầu như không gắn vào protein huyết tương. Chuyển hóa lớn ở gan và một phần nhỏ ở thận, cho các dẫn xuất glucuro và sulfo-hợp, thải trừ qua thận.

Đặc điểm tác dụngSửa đổi

Cũng như các thuốc chống viêm non-steroid khác, paracetamol có tác dụng giảm đau và hạ sốt mạnh, tuy nhiên lại không có tác dụng chống viêm và thải trừ acid uric, không kích ứng tiêu hóa, không ức chế ngưng tập tiểu cầu và đông máu. Vì vậy, thường chỉ được sử dụng để hạ sốt, giảm đau thông thường như nhức đầu, đau cơ, đau răng.

Cơ chế tác dụngSửa đổi

Cơ chế tác của paracetamol đang còn được tranh cãi, do thực tế là nó cũng có tác dụng ức chế men cyclooxygenase (COX) làm giảm tổng hợp prostaglandin giống như aspirin, tuy nhiên paracetamol lại không có tác dụng chống viêm. Các nghiên cứu tập trung khám phá cách thức ức chế COX của paracetamol đã chỉ ra hai con đường:[19][20][21][22]

Các men COX chịu trách nhiệm chuyển hóa arachidonic acid thành prostaglandinH2, là chất không bền vững và có thể bị chuyển hóa thành nhiều loại chất trung gian viêm khác. Các thuốc chống viêm kinh điển như NSAIDs tác động ở khâu này. Hoạt tính của COX dựa vào sự tồn tại của nó dưới dạng oxy hóa đặc trưng, tyrosine 385 sẽ bị oxy hóa thành một gốc.[23][24] Người ta đã chỉ ra rằng, paracetamol làm giảm dạng oxy hóa của men này từ đó ngăn chặn nó chuyển hóa các chất trung gian viêm.[20][25]

Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, paracetamol còn điều chỉnh hệ cannabinoid nội sinh.[26] Paracetamol bị chuyển hóa thành AM404, một chất có các hoạt tính riêng biệt; quan trọng nhất là nó ức chế sự hấp thu của cannabinoid nội sinh bởi các neuron. Sự hấp thu này gây hoạt hóa các thụ thể đau tổn thương của cơ thể. Hơn nữa, AM404 còn ức chế kênh natri giống như các thuốc tê lidocaine và procaine.[27]

Một giả thiết rất đáng chú ý nhưng hiện nay đã bị loại bỏ cho rằng paracetamol ức chế men COX-3.[19][28] Men này khi thí nghiệm trên chó đã cho hiệu lực giống như các men COX khác, đó là làm tăng tổng hợp các chất trung gian viêm và bị ức chế bởi paracetamol. Tuy nhiên trên người và chuột, thì men COX-3 lại không có hoạt tính viêm và không bị tác động bởi paracetamol.[19]

Chuyển hóaSửa đổi

 
Các phản ứng trong chuyển hóa paracetamol.

Paracetamol trước tiên được chuyển hóa tại gan, nơi các sản phẩm chuyển hóa chính của nó gồm các tổ hợp sulfat và glucuronide không hoạt động rồi được bài tiết bởi thận. Chỉ một lượng nhỏ nhưng rất quan trọng được chuyển hóa qua con đường hệ enzyme cytochrome P450 ở gan (các CYP2E1 và isoenzymes CYP1A2) và có liên quan đến các tác dụng độc tính của paracetamol do các sản phẩm alkyl hóa rất nhỏ (N-acetyl-p-benzo-quinone imine, viết tắt là NAPQI).[29] Có nhiều hiện tượng đa dạng trong gien P450, và đa hình thái gien trong CYP2D6 đã được nghiên cứu rộng rãi. Nhóm này có thể được chia thành chuyển hóa "rộng rãi," "cực nhanh," và "chuyển hóa kém" dựa vào sự biểu lộ của CYP2D6. CYP2D6 cũng có thể góp phần trong sự hình thành NAPQI, dù tác động kém hơn các P450 isozymes khác, và hoạt tính của nó có thể tham gia độc tính của paracetamol trong dạng chuyển hóa rộng rãi và cực nhanh và khi paracetamol được dùng với liều rất lớn.[30]

 
Cấu trúc của N-Acetyl-p-benzochinonimin (NAPQI)

Sự chuyển hóa của paracetamol là ví dụ điển hình của sự ngộ độc, bởi vì chất chuyển hóa NAPQI chịu trách nhiệm trước tiên về độc tính hơn là bản thân paracetamol. Ở liều thông thường chất cuyển hóa độc tính NAPQI nhanh chóng bị khử độc bằng cách liên kết bền vững với các nhóm sulfhydryl của glutathione hay sự kiểm soát của một hợp chất sulfhydryl như N-acetylcysteine, để tạo ra các tổ hợp không độc và thải trừ qua thận.[29] Hơn nữa, methionine đã được nhắc đến trong một số trường hợp,[31] mặc dù các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng N-acetylcysteine là thuốc giải độc quá liều paracetamol hiệu quả hơn.[32]

Tương tácSửa đổi

  • Uống paracetamol liều cao dài ngày có thể làm tăng nhẹ tác dụng chống đông của coumarin và dẫn chất indandion.
  • Cần phải chú ý đến khả năng gây hạ sốt nghiêm trọng ở người bệnh dùng đồng thời phenothiazin và liệu pháp hạ nhiệt.
  • Các thuốc chống giật (như phenytoin, barbiturat, carbamazepin...) gây cảm ứng enzymemicrosom thể gan, có thể làm tăng tính độc hại gan của paracetamol do tăng chuyển hoá thuốc thành những chất độc hại với gan. Ngoài ra, dùng đồng thời isoniazid với paracetamol cũng có thể dẫn đến tăng nguy cơ độc tính với gan, nhưng chưa xác định được cơ chế chính xác của tương tác này. Nguy cơ paracetamol gây độc tính gan gia tăng đáng kể ở người bệnh uống liều paracetamol lớn hơn liều khuyên dùng trong khi đang dùng thuốc chống co giật hoặc isoniazid. Thường không cần giảm liều người bệnh dùng đồng thời liều điều trị paracetamol và thuốc chống co giật, tuy vậy người bệnh phải hạn chế tự dùng paracetamol khi đang dùng thuốc chống co giật hoặc isoniazid.

Tác dụng phụSửa đổi

  • Ở liều thông thường, paracetamol không gây kích ứng niêm mạc dạ dày, không ảnh hưởng đông máu như các NSAIDs, không ảnh hưởng chức năng thận. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho biết dùng paracetamol liều cao (trên 2000 mg/ngày) có thể làm tăng nguy cơ biến chứng dạ dày.[33]
  • Đôi khi xảy ra ban da và những phản ứng dị ứng khác. Thường là ban đỏ hoặc ban mày đay, nặng hơn có thể kèm theo sốt do thuốc và thương tổn niêm mạc. Người bệnh mẫn cảm với salicylat hiếm khi mẫn cảm với paracetamol và những thuốc có liên quan.
  • Ở một số ít trường hợp riêng lẻ, paracetamol đã gây giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu.
  • Sử dụng paracetamol (acetaminophen) trong năm đầu tiên của cuộc sống và sau đó trong thời kỳ thơ ấu có thể tăng nguy cơ bị hen, viêm mũi kết mạc mắteczema vào lúc 6 đến 7 tuổi, theo các kết quả của giai đoạn 3 của Chương trình nghiên cứu quốc tế về Hen và các Bệnh dị ứng ở trẻ em.[34]

Tác dụng trên động vậtSửa đổi

Paracetamol là chất độc tính cao đối với mèo, không cho chúng uống thuốc trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nguyên nhân do mèo không có các enzyme glucuronyl transferase để phân hủy paracetamol.[35] Triệu chứng đầu tiên là nôn, sùi bọt mép, đổi màu lưỡi và lợi. Trong vòng 2 ngày, tổn thương gan sẽ rõ ràng, với biểu hiện là vàng da. Không giống như qua liều ở người, tổn thương gan hiếm khi là nguyên nhân gây chết, thay vào đó là do tình trạng methaemoglobin làm hồng cầu không vận chuyển được oxy và gây ngạt.

chó, paracetamol được ghi nhận là thuốc chống viêm rất hữu ích, gây ra tác động loét dạ dày thấp hơn các NSAIDs. Nó được dùng trong các tài liệu thú y. Một sản phẩm paracetamol-codeine (tên thương mại là Pardale-V)[36] được cấp phép để dùng cho chó trong các đơn thuốc thú y ở Anh.[37]

Bất cứ sự nghi ngờ về khả năng mèo ăn vào hoặc chó uống quá liều paracetamol đều phải đi gặp bác sĩ thú y ngay để điều trị giải độc.[38] Các tác động độc tính có thể gồm tổn thương gan, thiếu máu huyết tán, tổn thương oxy hồng cầu và xu hướng chảy máu. Điều trị quá liều paracetamol do bác sĩ thú y có thể dùng acetylcysteine (tên thương mại Mucomyst), methionine, hoặc S-adenosyl-L-methionine (SAMe) làm chậm tổn thương gan; và cimetidine (tên thương mại Tagamet) để bảo vệ niêm mạc dạ dày.[39]

Paracetamol còn gây chết ở rắn, và dùng để kiểm soát loài rắn cay nâu (Boiga irregularis) ở Guam.[40]

Độc tínhSửa đổi

Với liều điều trị hầu như không có tác dụng phụ, không gây tổn thương đường tiêu hóa, không gây mất thăng bằng kiềm toan, không gây rối loạn đông máu. Tuy nhiên, khi dùng liều cao (>4g/ngày) sau thời gian tiềm tàng 24 giờ, xuất hiện hoại tử tế bào gan có thể tiến triển đến chết sau 5-6 ngày.

Biểu hiệnSửa đổi

  • Buồn nôn, nôn và đau bụng thường xảy ra trong vòng 2 - 3 giờ sau khi uống liều độc của thuốc.
  • Met-hemoglobin máu, dẫn đến chứng xanh tím da, niêm mạc và móng tay là một dấu hiệu đặc trưng nhiễm độc cấp tính dẫn chất p - aminophenol, một lượng nhỏ sulfhemoglobin cũng có thể được sản sinh. Trẻ em có khuynh hướng tạo met-hemoglobin dễ hơn người lớn sau khi uống paracetamol.
  • Khi bị ngộ độc nặng, ban đầu có thể vật vã, kích thích mê sảng. Sau đó có thể là ức chế hệ thần kinh trung ương, sững sờ, hạ thân nhiệt, mệt lả, thở nhanh, nông, mạch nhanh, yếu, không đều, huyết áp tụt và suy tuần hoàn.
    • Truỵ mạch do giảm oxy huyết tương đối và do tác dụng ức chế trung tâm, tác dụng này chỉ xảy ra với liều rất lớn.
    • Sốc có thể xảy ra nếu giãn mạch nhiều. Cơn co giật ngẹt thở gây tử vong có thể xảy ra.
    • Thường hôn mê xảy ra trước khi chết đột ngột hoặc sau vài ngày hôn mê.

Nguyên nhânSửa đổi

Do paracetamol bị oxy hóa ở gan cho N-acetyl parabenzoquinonimin. Bình thường, chuyển hóa này bị khử độc ngay bằng liên hợp các glutathion của gan. Nhưng khi dùng liều cao, N-acetyl parabenzo quinonimin quá thừa(glutathion của gan sẽ không còn đủ để trung hoà nữa) sẽ gắn vào protein của tế bào gan và gây hoại tử tế bào.[41][42][43]

Điều trịSửa đổi

  • Cần rửa dạ dày trong mọi trường hợp, tốt nhất trong vòng 4 giờ sau khi uống.
  • Liệu pháp giải độc chính là dùng những hợp chất sulfhydryl, có lẽ tác động một phần do bổ sung dự trữ glutathion ở gan. N - acetylcystein (NAC) là tiền chất của glutathion có tác dụng khi uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Phải cho thuốc ngay lập tức nếu chưa đến 36 giờ kể từ khi uống paracetamol, nếu sau 36 giờ gan đã bị tổn thương thì kết quả điều trị sẽ kém.
  • Ngoài ra có thể dùng than hoạt hoặc thuốc tẩy muối, hoặc nước chè đặc để làm giảm hấp thu paracetamol.

AcetylcysteineSửa đổi

Acetylcystein (N - acetylcystein) là dẫn chất N - acetyl của L - cystein, một amino - acid tự nhiên. Acetylcystein được dùng làm thuốc giải độc khi quá liều paracetamol và tiêu chất nhầy. Thuốc làm giảm độ quánh của đờm ở phổi có mủ hoặc không bằng cách tách đôi cầu nối disulfua trong mucoprotein và tạo thuận lợi để tống đờm ra ngoài bằng ho, dẫn lưu tư thế hoặc bằng phương pháp cơ học. Acetylcystein cũng được dùng tại chỗ để điều trị không có nước mắt.

Acetylcystein dùng để bảo vệ chống gây độc cho gan do quá liều paracetamol, bằng cách duy trì hoặc khôi phục nồng độ glutathion của gan là chất cần thiết để làm bất hoạt chất chuyển hóa trung gian của paracetamol gây độc cho gan. Trong quá liều paracetamol, một lượng lớn chất chuyển hóa này được tạo ra vì đường chuyển hóa chính (liên hợp glucuronid và sulfat) trở thành bão hòa. Acetylcystein chuyển hóa thành cystein kích thích gan tổng hợp glutathion và do đó, acetylcystein có thể bảo vệ được gan nếu bắt đầu điều trị trong vòng 12 giờ sau quá liều paracetamol. Bắt đầu điều trị càng sớm càng tốt.

Khi dùng Acetylcystein làm thuốc giải độc quá liều paracetamol có thể sử dụng đường tiêm truyền tĩnh mạch hoặc đường uống:

  • Liều tiêm truyền tĩnh mạch: Liều đầu tiên 150 mg /kg thể trọng, dưới dạng dung dịch 20% trong 200 ml glucose 5%, tiêm tĩnh mạch trong 15 phút, tiếp theo, truyền nhỏ giọt tĩnh mạch 50 mg/kg trong 500 ml glucose 5%, trong 4 giờ tiếp theo và sau đó 100 mg/kg trong 1 lít glucose 5% truyền trong 16 giờ tiếp theo. Ðối với trẻ em thể tích dịch truyền tĩnh mạch phải thay đổi.
  • Liều uống: Liều đầu tiên 140 mg/kg, dùng dung dịch 5%; tiếp theo cách 4 giờ uống 1 lần, liều 70 mg/kg thể trọng và uống tổng cộng thêm 17 lần..[44]

Acetylcystein được thông báo là rất hiệu quả khi dùng trong vòng 8 giờ sau khi bị quá liều paracetamol, hiệu quả bảo vệ giảm đi sau thời gian đó. Nếu bắt đầu điều trị chậm hơn 15 giờ thì không hiệu quả, nhưng các công trình nghiên cứu gần đây cho rằng vẫn còn có ích..[45]

Một số chế phẩm tại Việt Nam là:ACC 200; Acehasan 100; Acetylcystein 200 mg; Acinmuxi 200 mg; Exomuc 200 mg; Mucomyst 200 mg

Chế phẩmSửa đổi

 
500 mg Thuốc đạn Panadol

Panadol, tên thương mại ở châu Âu, châu Phi, châu Á, Trung Mỹ, và Australasia, là tên biệt dược rộng rãi nhất được bán ở trên 80 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ở Bắc Mỹ, paracetamol được bán với các tên biệt dược, như Tylenol (McNeil-PPC, Inc), Anacin-3, Tempra, và Datril. Tuy nhiên những tên này ít được dùng ở Anh Quốc và Việt Nam. --- Trong một số chế phẩm, paracetamol được phối hợp với opioid codeine. Ở Mỹ và Canada, có tên thương mại là Tylenol #1/2/3/4, theo thứ tự bao gồm 1/8 grain, 1/4 grain, 1/2 grain, và 1 grain (đơn vị đo lường) codeine. Một đơn vị grain là 64.78971 milligrams - thường được các nhà sản xuất làm tròn theo bội số của 5 mg (do đó #3 chứa 30 mg, và #4 chứa 60 mg trong khi #1 có thể là 8 mg hoặc 10 mg tùy thuộc vào nhà sản xuất). Paracetamol còn được phối hợp với các opioids khác như dihydrocodeine, propoxyphene napsylate. Các chế phẩm phối hợp với opioid thường được chỉ định điều trị đau vừa và đau nặng.

Tên biệt dược[46]
Acetalgine, Aferadol (Pháp), Afebrin (Philippin), Akindol (Pháp), Algotroppine, Alvedol, Apo-Acetaminophen (Canada), Claradol (Pháp), Coldcap (Đài Loan), Curpol (Anh), Doliprrane (Pháp), Datril, Effralgan (Pháp), Exdol, Febretol, Febridol, Fevrin, Fendon, Gynospasmine Sarein, Pacemol, Panadol (Mỹ), Parmol, Paraspen, Para-Lyoc (Pháp), Reliv, Servigesic (Thuỵ sĩ), Sinpro-N (Đức), Tabalgin, Tylenol (Mỹ), Tempra, Valadol, Valorin, SK-APAP, Zolben (Thuỵ sĩ).

Một số chế phẩm có tại Việt NamSửa đổi

 
Viên nén Paracetamol.
 
Viên sủi Efferalgan codein.
  • Chế phẩm viên nén: Paracetamol, Panadol, Donodol… 500 mg.
  • Chế phẩm viên đạn: Efferalgan, Panadol 80 mg, 150 mg, 300 mg.
  • Chế phẩm viên sủi: Efferalgan, Donodol, Panadol 500 mg.
  • Chế phẩm gói bột Efferalgan 80 mg.
  • Chế phẩm dạng bột tiêm: Pro-Dafalgan 2g proparacetamol tương đương 1g paracetamol.
  • Chế phẩm dạng dung dịch uống.
  • Các chế phẩm kết hợp với các thuốc khác:
    • Pamin viên nén gồm Paracetamol 400 mg và Chlorpheniramin 2 mg.Chlorpheniramin
    • Decolgen, Typhi... dạng viên nén gồm Paracetamol 400 mg, Phenyl Propanolamin 5 mg, Chlorpheniramin 2 mg có tác dụng hạ sốt, giảm đau, giảm xuất tiết đường hô hấp để chữa cảm cúm.
    • Efferalgan-codein, Paracetamol-codein, Codoliprane, Claradol-codein, Algeisedal, Dafagan-codein dạng viên sủi gồm Paracetamol 400–500 mg và Codein sulphat 20–30 mg có tác dụng giảm đau nhanh và mạnh, giảm ho.
    • Di-Antalvic dạng viên nang trụ gồm Paracetamol 400 mg và Dextro-propoxyphen hydrochloride 30 mg (thuộc nhóm opiat yếu) có tác dụng giảm đau mạnh (ở mức độ trung gian so với giảm đau gây nghiện và giảm đau non-steroid).

Áp dụng điều trịSửa đổi

Chỉ địnhSửa đổi

  • Giảm đau: dùng chữa các chứng đau nông mức độ nhẹ hoặc vừa do bất cứ nguyên nhân gì, như: đau đầu, đau răng, đau nhức mình mẩy, đau cơ xương khớp, đau bụng kinh…
  • Hạ nhiệt: điều trị các chứng sốt do bất cứ nguyên nhân gì, như: viêm khớp, nhiễm khuẩn tai mũi họng, miệng, phế quản-phổi, say nắng, phát ban và truyền nhiễm ở trẻ em, sốt do tiêm chủng...

Chống chỉ địnhSửa đổi

  • Người bệnh suy gan, suy thận, thiếu máu nặng.
  • Mẫn cảm với paracetamol.
  • Người thiếu hụt glucose-6-phosphat dehydrogenase.

Thận trọng khi dùng thuốcSửa đổi

Thuốc ít độc tính và hầu như không có tác dụng phụ, được bán tự do tại Việt Nam, tuy nhiên khi sử dụng cần chú ý một số trường hợp sau đây, đặc biệt khi dùng các chế phẩm kết hợp với các dược chất khác:

  • Các chế phẩm kết hợp với Chlorpheniramin gây buồn ngủ, không dùng cho những người mà yêu cầu cần độ tập trung cao trong công việc hoặc sinh hoạt.
  • Các chế phẩm kết hợp với Phenyl Propanolamin, là chất gây co mạch, không dùng cho người tăng huyết áp.
  • Các chế phẩm kết hợp với Codein hoặc Dextro-propoxyphen không dùng cho trẻ em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và người suy hô hấp.
  • Một số chế phẩm kết hợp với sulfit có thể gây phản ứng dị ứng, gồm cả phản vệ và những cơn hen đe doạ tính mạng hoặc ít nghiêm trọng hơn cả là ở một số người quá mẫn.
  • Người bị phenylceton - niệu (nghĩa là thiếu hụt gan xác định tình trạng của phenylalamin đưa vào cơ thể phải được cảnh báo là một số chế phẩm paracetamol chứa aspartam, sẽ chuyển hoá trong dạ dày ruột thành phenylalamin sau khi uống.
  • Dùng paracetamol thận trọng ở người bệnh có thiếu máu từ trước, vì trong trường hợp này nếu xảy ra tình trạng met-hemoglobin trong máu thì triệu chứng không được phát hiện kịp thời do tình trạng xanh tím đã có sẵn do thiếu máu.
  • Uống nhiều rượu có thể gây tăng độc tính với gan của paracetamol, nên tránh hoặc hạn chế uống rượu.
  • Chỉ nên dùng paracetamol cho phụ nữ có thai khi thật cần thiết.

Liều lượngSửa đổi

Liều hạ sốt cho người lớn:

Liều chung: 325-650mg mỗi 4-6 giờ hoặc 1000mg mỗi 6-8 giờ uống hoặc đặt hậu môn.

Viên nén paracetamol 500mg: 2 viên 500mg uống mỗi 4-6 giờ.

Liều giảm đau cho người lớn:

Liều chung: 325-650mg mỗi 4-6 giờ hoặc 500mg mỗi 6-8 giờ uống hoặc đặt hậu môn.

Viên nén paracetamol 500mg: 1 viên  uống mỗi 4-6 giờ.

Liều hạ sốt và giảm đau cho trẻ em:

Giảm đau: Dạng uống hoặc đặt hậu môn:

  • <= 1 tháng: 10-15 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ nếu cần.
  • Trên 1 tháng đến 12 tuổi: 10-15 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ khi cần thiết (tối đa: 5 liều trong 24 giờ)

Sốt:

  • 4 tháng đến 9 tuổi: Liều khởi đầu: 30 mg/kg (Theo nghiên cứu, liều lượng này có hiệu quả hơn trong việc giảm sốt so với liều duy trì 15 mg/kg và không có sự khác biệt về độ dung nạp lâm sàng.)
  • >= 12 tuổi: 325-650mg mỗi 4-6 giờ hoặc 1000mg trong 6-8 giờ.

Liều dùng paracetamol cho trẻ emSửa đổi

Liều dùng thông thường hạ sốt cho trẻ emSửa đổi

Trẻ sơ sinh non tháng 28-32 tuần:

  • Tiêm mạch liều 20 mg/kg tiếp theo là 10 mg/kg/liều mỗi 12 giờ.
  • Uống: 10-12 mg/kg/liều mỗi 6-8 giờ. Liều uống tối đa hàng ngày: 40 mg/kg/ngày.
  • Trực tràng: 20 mg/kg/liều mỗi 12 giờ. Liều dùng tối đa hàng ngày: 40 mg/kg/ngày.

Trẻ sơ sinh non tháng 32-37 tuần và trẻ sơ sinh dưới 10 ngày:

  • Tiêm tĩnh mạch liều 20 mg/kg tiếp theo là 10 mg/kg/liều mỗi 6 giờ.
  • Uống: 10-15 mg/kg/liều mỗi 6 giờ. Liều tối đa hàng ngày: 60 mg/kg/ngày.
  • Trực tràng: 30 mg/kg; sau đó 15 mg/kg/liều mỗi 8 giờ. Liều tối đa hàng ngày: 60 mg/kg/ngày.

Trẻ sơ sinh tròn hoặc lớn hơn 10 ngày:

  • Tiêm tĩnh mạch liều 20 mg/kg tiếp theo là 10 mg/kg/liều mỗi 6 giờ.
  • Uống: 10-15 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ.Liều tối đa hàng ngày: 90 mg/kg/ngày.
  • Trực tràng: 30 mg/kg; sau đó 20 mg/kg/liều mỗi 6-8 giờ. Liều tối đa hàng ngày: 90 mg/kg/ngày.

Trẻ sơ sinh và trẻ em:

Nhỏ hơn 2 tuổi:

  • Tiêm tĩnh mạch: 7,5 đến 15 mg/kg/liều mỗi 6 giờ.
  • Liều tối đa hàng ngày: 60 mg/kg/ngày.

Từ 2 đến 12 tuổi:

  • Tiêm tĩnh mạch: 15 mg/kg mỗi 6 giờ hoặc 12,5 mg/kg mỗi 4 giờ.
  • Liều đơn tối đa 15 mg/kg.
  • Liều tối đa hàng ngày: 75 mg/kg/ngày không được vượt quá 3750 mg/ngày.
  • Uống: 10-15 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ khi cần thiết; không vượt quá 5 liều trong 24 giờ.

Ngoài ra, các nhà sản xuất liệt kê các liều khuyến cáo sau đây:

  • 2,7-5,3 kg: 0-3 tháng: 40 mg.
  • 5,4-8,1 kg: 4-11 tháng: 80 mg.
  • 8,2-10,8 kg: 1-2 tuổi: 120 mg.
  • 10,9-16,3 kg: 2-3 tuổi: 160 mg.
  • 16,4-21,7 kg: 4-5 tuổi: 240 mg.
  • 21,8-27,2 kg: 6-8 tuổi: 320 mg.
  • 27,3-32,6 kg: 9-10 tuổi: 400 mg.
  • 32,7-43,2 kg: 11 tuổi: 480 mg.

Các nhà sản xuất khuyến cáo việc dựa vào trọng lượng để chọn liều lượng là phương pháp thích hợp. Nếu chưa biết chính xác trọng lượng của bé, có thể dựa vào tuổi tác.

Trực tràng: 10-20 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ khi cần thiết (mặc dù việc sử dụng liều cao paracetamol ở trực tràng (ví dụ, 25-45 mg/kg/liều) đã được nghiên cứu, việc sử dụng nó vẫn còn gây tranh cãi; liều tối ưu và tần suất dùng thuốc để đảm bảo hiệu quả và độ an toàn chưa được nghiên cứu, cần tìm hiểu thêm).

Trẻ em lớn hơn hoặc bằng 12 tuổi:

Nhỏ hơn 50 kg:

  • Tiêm tĩnh mạch: 15 mg/kg mỗi 6 giờ hoặc 12,5 mg/kg mỗi 4 giờ.
  • Liều đơn tối đa: 750 mg/liều.
  • Tổng liều tối đa hàng ngày: 75 mg/kg/ngày (ít hơn hoặc bằng 3750 mg/ngày).

Trên hoặc bằng 50 kg:

  • Tiêm tĩnh mạch: 650 mg mỗi 4 giờ hoặc 1000 mg mỗi 6 giờ.
  • Liều đơn tối đa: 1000 mg/liều.
  • Tổng liều hàng ngày tối đa: 4000 mg/ngày.
  • Uống hoặc trực tràng: 325-650 mg mỗi 4-6 giờ hoặc 1.000 mg 3-4 lần mỗi ngày.
  • Liều tối đa hàng ngày: 4000 mg/ngày.

Liều dùng thông thường giảm đau cho trẻ emSửa đổi

Trẻ sơ sinh non tháng 28-32 tuần:

  • Tiêm tĩnh mạch liều 20 mg/kg tiếp theo là 10 mg/kg/liều mỗi 12 giờ
  • Miệng: 10-12 mg/kg/liều mỗi 6-8 giờ. Liều uống tối đa hàng ngày: 40 mg/kg/ngày.
  • Trực tràng: 20 mg/kg/liều mỗi 12 giờ. Liều dùng trực tràng tối đa hàng ngày: 40 mg/kg/ngày.

Trẻ sơ sinh non tháng 32-37 tuần và trẻ sơ sinh dưới 10 ngày:

  • Tiêm mạch 20 mg/kg tiếp theo là 10 mg/kg/liều mỗi 6 giờ.
  • Uống: 10-15 mg/kg/liều mỗi 6 giờ. Liều tối đa hàng ngày: 60 mg/kg/ngày.
  • Trực tràng: liều: 30 mg/kg; sau đó 15 mg/kg/liều mỗi 8 giờ. Liều tối đa hàng ngày: 60 mg/kg/ngày.

Trẻ sơ sinh đủ 10 ngày hoặc lớn hơn 10 ngày tuổi:

  • Tiêm tĩnh mạch liều 20 mg/kg tiếp theo là 10 mg/kg/liều mỗi 6 giờ.
  • Uống: 10-15 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ. Liều tối đa hàng ngày: 90 mg/kg/ngày. Trực tràng: 30 mg/kg; sau đó 20 mg/kg/liều mỗi 6-8 giờ. Liều tối đa hàng ngày: 90 mg/kg/ngày.

Trẻ sơ sinh và trẻ em:

Nhỏ hơn 2 tuổi:

  • Tiêm tĩnh mạch: 7,5 đến 15 mg/kg/liều mỗi 6 giờ.
  • Liều tối đa hàng ngày: 60 mg/kg/ngày.

Từ 2 đến 12 tuổi:

  • Tiêm tĩnh mạch: 15 mg/kg mỗi 6 giờ hoặc 12,5 mg/kg mỗi 4 giờ.
  • Liều đơn tối đa 15 mg/kg.
  • Liều tối đa hàng ngày: 75 mg/kg/ngày không được vượt quá 3750 mg/ngày.
  • Uống: 10-15 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ khi cần thiết; không vượt quá 5 liều trong 24 giờ.

Ngoài ra, các nhà sản xuất liệt kê các liều khuyến cáo sau đây:

  • 2,7-5,3 kg: 0-3 tháng: 40 mg.
  • 5,4-8,1 kg: 4-11 tháng: 80 mg.
  • 8,2-10,8 kg: 1-2 tuổi: 120 mg.
  • 10,9-16,3 kg: 2-3 tuổi: 160 mg.
  • 16,4-21,7 kg: 4-5 tuổi: 240 mg.
  • 21,8-27,2 kg: 6-8 tuổi: 320 mg.
  • 27,3-32,6 kg: 9-10 tuổi: 400 mg.
  • 32,7-43,2 kg: 11 tuổi: 480 mg.

Các nhà sản xuất khuyến cáo việc dựa vào trọng lượng để chọn liều lượng là phương pháp thích hợp. Nếu bạn chưa biết trọng lượng chính xác của bé, có thể dựa vào tuổi tác.

Trực tràng: 10-20 mg/kg/liều mỗi 4-6 giờ khi cần thiết (Mặc dù việc sử dụng liều cao paracetamol chu kỳ phẫu của trực tràng (ví dụ, 25-45 mg/kg/liều) đã được nghiên cứu, việc sử dụng của nó vẫn còn gây tranh cãi; liều tối ưu và tần suất dùng thuốc để đảm bảo hiệu quả và độ an toàn chưa được nghiên cứu, cần tìm hiểu thêm).

Trẻ em lớn hơn hoặc bằng 12 tuổi:

Nhỏ hơn 50 kg:

  • Tiêm tĩnh mạch:: 15 mg/kg mỗi 6 giờ hoặc 12,5 mg/kg mỗi 4 giờ.
  • Liều đơn tối đa: 750 mg/liều.
  • Tổng liều tối đa hàng ngày: 75 mg/kg/ngày (ít hơn hoặc bằng 3750 mg/ngày).

Trên hoặc bằng 50 kg:

  • Tiêm tĩnh mạch: 650 mg mỗi 4 giờ hoặc 1000 mg mỗi 6 giờ.
  • Liều đơn tối đa: 1000 mg/liều.
  • Tổng liều hàng ngày tối đa: 4000 mg/ngày.
  • Uống hoặc trực tràng: 325-650 mg mỗi 4-6 giờ hoặc 1.000 mg 3-4 lần mỗi ngày. Liều tối đa hàng ngày: 4000 mg/ngày.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b “Acetaminophen”. The American Society of Health-System Pharmacists. Truy cập tháng 1 năm 2016. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên drugs.com-internatl
  3. ^ a ă â “Codapane Forte Paracetamol and codeine phosphate PRODUCT INFORMATION” (PDF). TGA eBusiness Services. Alphapharm Pty Limited. 29 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2014. 
  4. ^ Working Group of the Australian and New Zealand College of Anaesthetists and Faculty of Pain Medicine (2010). Macintyre P. E.; Schug S. A.; Scott D. A.; Visser E. J.; Walker S. M., biên tập. Acute Pain Management: Scientific Evidence (PDF) (ấn bản 3). Melbourne, Australia: National Health and Medical Research Council. ISBN 9780977517459. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. 
  5. ^ “Tylenol, Tylenol Infants' Drops (acetaminophen) dosing, indications, interactions, adverse effects, and more”. Medscape Reference. WebMD. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2014. 
  6. ^ “Acetaminophen Pathway (therapeutic doses), Pharmacokinetics”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016. 
  7. ^ a ă â Pickering G., Macian N., Libert F., Cardot J. M., Coissard S., Perovitch P., Maury M., Dubray C. (tháng 9 năm 2014). “Buccal acetaminophen provides fast analgesia: two randomized clinical trials in healthy volunteers”. Drug Des. Devel. Ther. 8: 1621–1627. PMC 4189711. PMID 25302017. doi:10.2147/DDDT.S63476. bAPAP has a faster time of antinociception onset (15 minutes, P<0.01) and greater antinociception at 50 minutes (P<0.01, CT1) and 30 minutes (P<0.01, CT2) than ivAPAP and sAPAP. All routes are similar after 50 minutes. ... In postoperative conditions for acute pain of mild to moderate intensity, the quickest reported time to onset of analgesia with APAP is 8 minutes9 for the iv route and 37 minutes6 for the oral route. 
  8. ^ a ă â b c Granberg RA, Rasmuson AC (1999). “Solubility of paracetamol in pure solvents”. Journal of Chemical & Engineering Data 44 (6): 1391–95. doi:10.1021/je990124v. 
  9. ^ Karthikeyan, M.; Glen, R. C.; Bender, A. (2005). “General Melting Point Prediction Based on a Diverse Compound Data Set and Artificial Neural Networks”. Journal of Chemical Information and Modeling 45 (3): 581–590. PMID 15921448. doi:10.1021/ci0500132. 
  10. ^ “melting point data for paracetamol”. Lxsrv7.oru.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2011. 
  11. ^ Meremikwu, M; Oyo-Ita, A (2002). “Paracetamol for treating fever in children”. The Cochrane Database of Systematic Reviews (2): CD003676. PMID 12076499. doi:10.1002/14651858.CD003676. 
  12. ^ De Martino, Maurizio; Chiarugi, Alberto (2015). “Recent Advances in Pediatric Use of Oral Paracetamol in Fever and Pain Management”. Pain and Therapy 4 (2): 149–168. doi:10.1007/s40122-015-0040-z. 
  13. ^ Scottish Intercollegiate Guidelines Network (SIGN) (2008). “6.1 and 7.1.1”. Guideline 106: Control of pain in adults with cancer (PDF). Scotland: National Health Service (NHS). ISBN 9781905813384. 
  14. ^ a ă Hochhauser, Daniel (2014). Cancer and its Management. John Wiley & Sons. tr. 119. ISBN 9781118468715. 
  15. ^ Gormley, James J. "White willow bark is a gentle, effective pain-reliever." Better Nutrition. tháng 3 năm 1996. Cập nhật 17 tháng 8, 2007.
  16. ^ H. N. Morse (1878). “Ueber eine neue Darstellungsmethode der Acetylamidophenole”. Berichte der deutschen chemischen Gesellschaft 11 (1): 232–233. doi:10.1002/cber.18780110151. 
  17. ^ Brodie BB, Axelrod J (1948). “The fate of acetanilide in man” (PDF). J Pharmacol Exp Ther 94 (1): 29–38. 
  18. ^ "A Festival of Analgesics." Chemical Heritage Foundation. 2001. Cập nhật 17 tháng 8 năm 2007.
  19. ^ a ă â Kis B, Snipes JA, Busija DW (2005). “Acetaminophen and the cyclooxygenase-3 puzzle: sorting out facts, fictions, and uncertainties”. J. Pharmacol. Exp. Ther. 315 (1): 1–7. PMID 15879007. doi:10.1124/jpet.105.085431. 
  20. ^ a ă Aronoff DM, Oates JA, Boutaud O (2006). “New insights into the mechanism of action of acetaminophen: Its clinical pharmacologic characteristics reflect its inhibition of the two prostaglandin H2 synthases”. Clin. Pharmacol. Ther. 79 (1): 9–19. PMID 16413237. doi:10.1016/j.clpt.2005.09.009. 
  21. ^ Bertolini A, Ferrari A, Ottani A, Guerzoni S, Tacchi R, Leone S (2006). “Paracetamol: new vistas of an old drug”. CNS drug reviews 12 (3-4): 250–75. PMID 17227290. doi:10.1111/j.1527-3458.2006.00250.x. 
  22. ^ Graham GG, Scott KF (2005). “Mechanism of action of paracetamol”. American journal of therapeutics 12 (1): 46–55. PMID 15662292. 
  23. ^ Ohki S, Ogino N, Yamamoto S, Hayaishi O (1979). “Prostaglandin hydroperoxidase, an integral part of prostaglandin endoperoxide synthetase from bovine vesicular gland microsomes”. J. Biol. Chem. 254 (3): 829–36. PMID 104998. 
  24. ^ Harvison PJ, Egan RW, Gale PH, Nelson SD (1986). “Acetaminophen as a cosubstrate and inhibitor of prostaglandin H synthase”. Adv. Exp. Med. Biol. 197: 739–47. PMID 3094341. 
  25. ^ Roberts, L.J II. & Marrow, J.D. "Analgesic-antipyretic and Antiinflammatory Agents and Drugs Employed in the Treatment of Gout" in, "Goodman & Gilman's The Pharmacological Basis of Therapeutics 10th Edition" by Hardman, J.G. & Limbird, L.E. Published by McGraw Hill, 2001, p.687-731.
  26. ^ Högestätt ED, Jönsson BA, Ermund A và đồng nghiệp (2005). “Conversion of acetaminophen to the bioactive N-acylphenolamine AM404 via fatty acid amide hydrolase-dependent arachidonic acid conjugation in the nervous system”. J. Biol. Chem. 280 (36): 31405–12. PMID 15987694. doi:10.1074/jbc.M501489200. 
  27. ^ Köfalvi A (2008). “Chapter 9: Alternative interacting sites and novel receptors for cannabinoid ligands. In: 'Cannabinoids and the Brain' Springer-Verlag”. tr. 131–160. doi:10.1007/978-0-387-74349_9. 
  28. ^ Chandrasekharan NV, Dai H, Roos KL và đồng nghiệp (2002). “COX-3, a cyclooxygenase-1 variant inhibited by acetaminophen and other analgesic/antipyretic drugs: cloning, structure, and expression”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 99 (21): 13926–31. PMID 12242329. doi:10.1073/pnas.162468699. 
  29. ^ a ă Borne, Ronald F. "Nonsteroidal Anti-inflammatory Drugs" in Principles of Medicinal Chemistry, Fourth Edition. Eds. Foye, William O.; Lemke, Thomas L.; Williams, David A. Published by Williams & Wilkins, 1995. p. 544-545.
  30. ^ Dong H, Haining RL, Thummel KE, Rettie AE, Nelson SD (2000). “Involvement of human cytochrome P450 2D6 in the bioactivation of acetaminophen”. Drug Metab Dispos 28 (12): 1397–400. PMID 11095574.  Free full text
  31. ^ Mant, T.G.K.; Tempowski, J.H.; Volans, G.N.; Talbot, J.C.C. "Adverse reactions to acetylcysteine and effects of overdose." British Medical Journal. ngày 28 tháng 7 năm 1984. Vol. 289. pp. 217-219. Cập nhật 17 tháng 8 năm 2007.
  32. ^ Alsalim, W.; Fadel, M. "Oral methionine compared with intravenous n-acetyl cysteine for paracetamol overdose." Emerg. Med. J. 2003. Vol. 20. pp. 366-367. Cập nhật 17 tháng 8 năm 2007. doi:10.1136/emj.20.4.366 Pdf
  33. ^ García Rodríguez LA, Hernández-Díaz S (ngày 15 tháng 12 năm 2000). “The risk of upper gastrointestinal complications associated with nonsteroidal anti-inflammatory drugs, glucocorticoids, acetaminophen, and combinations of these agents”. Arthritis Research and Therapy. PMID 11178116. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2006. 
  34. ^ ISAAC: (The International Study of Asthma and Allergies in Childhood) Báo cáo trong số báo ngày 20 tháng 9 năm 2008 của Tạp chí The Lancet
  35. ^ Allen AL (2003). “The diagnosis of acetaminophen toxicosis in a cat”. Can Vet J 44 (6): 509–10. PMID 12839249. 
  36. ^ “Pardale-V Tablets: Presentation”. UK National Office of Animal Health Compendium of Animal Medicines. Ngày 28 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2007. [liên kết hỏng]
  37. ^ “Pardale-V Tablets: Legal Category”. UK National Office of Animal Health Compendium of Animal Medicines. Ngày 15 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2007. 
  38. ^ Villar D, Buck WB, Gonzalez JM (1998). “Ibuprofen, aspirin and acetaminophen toxicosis and treatment in dogs and cats”. Vet Hum Toxicol 40 (3): 156–62. PMID 9610496. 
  39. ^ Manning AM. “Acetaminophen Toxicity in Dogs”. PetPlace.com. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2007. 
  40. ^ Johnston J, Savarie P, Primus T, Eisemann J, Hurley J, Kohler D (2002). “Risk assessment of an acetaminophen baiting program for chemical control of brown tree snakes on Guam: evaluation of baits, snake residues, and potential primary and secondary hazards”. Environ Sci Technol 36 (17): 3827–33. PMID 12322757. 
  41. ^ Richardson, J.A. Management of acetaminophen and ibuprofen toxicoses in dogs and cats. J Vet Emerg Crit Care. 2000; 10: 285–291.
  42. ^ Rumbeiha, W.K.; Lin, Y.S.; Oehme, F.W. Comparison of N-acetylcysteine and methylene blue, alone or in combination, for treatment of acetaminophen toxicosis in cats. Am J Vet Res. 1995; 56: 1529–1533.
  43. ^ Sellon, R.K. Acetaminophen. In: Peterson ME, Talcott PA, eds. Small Animal Toxicology. Toronto: WB Saunders, 2001: 388–395.
  44. ^ Buckley N, Whyte I, O'Connell D, Dawson A (1999). “Oral or intravenous N-acetylcysteine: which is the treatment of choice for acetaminophen (paracetamol) poisoning?”. J Toxicol Clin Toxicol 37 (6): 759–67. PMID 10584588. 
  45. ^ Keays R, Harrison P, Wendon J, Forbes A, Gove C, Alexander G, Williams R (1991). “Intravenous acetylcysteine in paracetamol induced fulminant hepatic failure: a prospective controlled trial”. BMJ 303 (6809): 1026–9. PMID 1954453. 
  46. ^ Thuốc biệt dược và cách sử dụng. Hà Nội, Việt Nam: Khoa học và Kỹ thuật. 1992. ISBN 575KH/KHKT Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 

Liên kết ngoàiSửa đổi

Affiliations

  1. a. Medical Research Institute of New Zealand, Wellington, New Zealand
  2. b. Faculty of Medical and Health Sciences, University of Auckland, Auckland, New Zealand
  3. c. Department of Medicine, Otago University Wellington, Wellington, New Zealand
  4. d. Dr von Haunersches University Children's Hospital, Ludwig-Maximilians University Munich, Germany
  5. e. Department of Medicine and Therapeutics, Chinese University of Hong Kong, Hong Kong, SAR China
  6. f. Department of Medicine, University of Malta, Malta
  7. g. School of Population Health, University of Auckland, Auckland, New Zealand

Bản mẫu:Thuốc giảm đau