Mở trình đơn chính

Parimarjan Negi (sinh ngày 9 tháng 2 năm 1993) là một đại kiện tướng cờ vua (GM) người Ấn Độ, một cựu vô địch cờ vua châu Á và Ấn Độ. Negi đã đạt được danh hiệu GM ở lúc 13 tuổi 142 ngày (13 năm, 4 tháng, và 20 ngày) vào năm 2006, trở thành đại kiện tướng cờ vua trẻ nhất thứ hai thế giới, chỉ sau Sergey Karjakin.

Parimarjan Negi
Parimarjan-Negi.jpg
Quốc giaẤn Độ
Sinh9 tháng 2, 1993 (26 tuổi)
Uttarakhand, Ấn Độ
Danh hiệuĐại kiện tướng (2006)
Hệ số Elo2639 (tháng 8 2019) 2639 (7.2019)
Elo cao nhất2671 (10.2013)
Xếp hạng cao nhấtHạng 73 (6.2015)

Negi chơi bàn 1 cho đội Ấn Độ và đoạt huy chương đồng đồng đội tại Olympiad cờ vua 2014 ở Tromsø, Na Uy.

Negi đã được Chính phủ Ấn Độ trao tặng giải thưởng Arjuna năm 2010.[1]

Mục lục

Sự nghiệp cờ vuaSửa đổi

Parimarjan Negi vô địch U10 giải cờ vua trẻ Châu Á năm 2002 tại Tehran.[2][3] Anh đã đạt được chuẩn đại kiện tướng đầu tiên của mình tại giải 2005/06 Hastings International Chess Congress.[4] Ngay sau đó Negi giành được chuẩn GM thứ hai của mình tại Giái Chess mở Parsvnath International Tournament lần thứ 4 tại Delhi.[5] Negi kiếm được chuẩn GM thứ ba và cuối cùng ngày 1 tháng 7 năm 2006 bằng ván hóa với đại kiện tướng người Nga Ruslan Scherbakov tại giải cờ toàn vùng Chelyabinsk Superfinal Championship ở Satka, Nga, với 6 điểm sau 9 vòng đấu. Negi do đó đã trở thành đại kiện tướng cờ vua trẻ nhất ở Ấn Độ, phá vỡ kỷ lục của Pendyala Harikrishna, và là đại kiện tướng trẻ thứ hai trên thế giới.[6]

Negi vô địch giải Philadelphia International Open Tournament trong tháng 6 năm 2008 với số điểm là 7/9, không thua ván nào.[7] Trong tháng 8 năm 2008, anh đã đứng thứ hai, sau Abhijeet Gupta, tại Giải vô địch cờ vua thanh niên thế giớiGazientep.[8] Năm 2009, anh vô địch giải Politiken Cup Copenhagen với 8.5/10, thắng Boris Avrukh nhờ tiebreak,[9] và giải IGB Dato' Arthur Tan Malaysia Open lần thứ 6 tại Kuala Lumpur.[10]

Parimarjan Negi vô địch giải National Premier Chess Championship lần thứ 48 vào ngày 22 tháng 12 năm 2010 tại New Delhi.[11]

In 2012 Negi thắng Giải vô địch cờ vua châu Á lần thứ 11 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh.[12] Anh đồng giải nhất giải Cappelle-la-Grande Open vào năm 2012 và 2013. Năm 2013, Negi giành được Politiken Cup lần thứ hai.[13]

SáchSửa đổi

  • Parimarjan Negi (2014). 1.e4 vs The French, Caro-Kann and Philidor. Quality Chess. ISBN 978-1906552060. 
  • Parimarjan Negi (2015). 1.e4 vs The Sicilian I. Quality Chess. ISBN 978-1-906552-39-8. 

Đời tưSửa đổi

Parimarjan Negi tốt nghiệp Trường Quốc tế Hữu nghị ở New Delhi và vô địch nhiều giải đấu ở đó. Anh là sinh viên trường Đại học Stanford kể từ năm 2014.[14]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Upama Sinha (22 tháng 10 năm 2010). “Chess mate”. The Hindu. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013. 
  2. ^ “India bags four golds”. The Hindu. 4 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ Asian Youth Under 10-12-14-16. FIDE.
  4. ^ “Parimarjan Negi – the Hero of Hastings”. ChessBase. 9 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2016. 
  5. ^ Vishal Sareen (1 tháng 2 năm 2006). “Twelve-year-old Negi gets his second GM norm”. ChessBase. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2016. 
  6. ^ Vijay Kumar (5 tháng 7 năm 2006). “Parimarjan Negi, India's youngest ever grandmaster”. ChessBase. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2016. 
  7. ^ “Sports Briefs: Negi wins title”. The Telegraph. 2 tháng 7 năm 2008. 
  8. ^ “Meet Abhijeet Gupta – meet the Junior World Champion”. ChessBase. 21 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2015. 
  9. ^ “Parimarjan Negi wins Politiken Cup”. The Hindu. 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  10. ^ Mihajlova, Diana (11 tháng 9 năm 2009). “Parimarjan in Paris – portrait of a young super-talent”. ChessBase. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2015. 
  11. ^ “Parimarjan Negi Wins India Premier Championship”. Chessdom. 22 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016. 
  12. ^ “Parimarjan Negi”. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  13. ^ “Parimarjan Negi”. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2013. 
  14. ^ “Q&A with the Class of 2018’s Chess Grandmaster”. The Stanford Daily. 24 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2015. 

Liên kết ngoàiSửa đổi