Mở trình đơn chính
Áp phích Liên Xô khoảng năm 1925. Bản dịch tiêu đề: "Phá thai do bà hoặc các nữ hộ sinh tự học không chỉ khiến phụ nữ cảm thấy sợ hãi mà còn thường dẫn đến tử vong."

Phá thai không an toàn là việc chấm dứt thai kỳ do những người thiếu các kỹ năng cần thiết hoặc trong một môi trường thiếu các tiêu chuẩn y tế tối thiểu hoặc cả hai điều trên.[1] Phá thai không an toàn là một thủ tục đe dọa đến tính mạng. Nó bao gồm phá thai tự gây ra, phá thai trong điều kiện mất vệ sinh và phá thai được thực hiện bởi một bác sĩ y khoa không cung cấp sự chú ý thích hợp sau phá thai.[2] Khoảng 25 triệu ca phá thai không an toàn xảy ra mỗi năm, trong đó phần lớn xảy ra ở các nước đang phát triển.[3]

Phá thai không an toàn dẫn đến các biến chứng cho khoảng 7 triệu phụ nữ mỗi năm.[3] Phá thai không an toàn cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong khi mang thai và sinh nở (khoảng 5-13% tổng số ca tử vong trong giai đoạn này).[3] Hầu hết các trường hợp phá thai không an toàn xảy ra khi phá thai là bất hợp pháp,[4] hoặc ở các nước đang phát triển nơi mà các bác sĩ y khoa được đào tạo tốt và có giá cả không có sẵn,[5][6] hoặc không có biện pháp tránh thai hiện đại.[7]

Bất chấp sự khẳng định của một số người phản đối việc phá thai, phá thai không an toàn đã và là một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng. Cụ thể hơn, thiếu khả năng tiếp cận phá thai an toàn là một nguy cơ sức khỏe cộng đồng. Luật càng hạn chế, tỷ lệ tử vong và các biến chứng khác càng cao.[8]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Safe Abortion: Technical and Policy Guidance for Health Systems, page 12 (World Health Organization 2003): "a procedure for terminating an unwanted pregnancy either by persons lacking the necessary skill or in an environment lacking the minimum medical standards, or both."
  2. ^ “Unsafe abortion: Global and regional estimates of the incidence of unsafe abortion and associated mortality in 2003” (PDF). World Health Organization. 2007. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2011. The estimates given in this document are intended to reflect induced abortions that carry greater risk than those carried out officially for reasons accepted in the laws of a country. 
  3. ^ a ă â “Preventing unsafe abortion”. www.who.int (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2019. 
  4. ^ Rosenthal, Elisabeth (tháng 10 năm 2007). “Legal or Not, Abortion Rates Compare”. New York Times. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2009. 
  5. ^ Blas, Erik et al. Equity, social determinants and public health programmes, pages 182-183 (World Health Organization 2010).
  6. ^ Chaudhuri, S.K. Practice Of Fertility Control: A Comprehensive Manual, 7th Edition, page 259 (Elsevier India, 2007).
  7. ^ Singh, Susheela et al. Adding it Up: The Costs and Benefits of Investing in Family Planning and Newborn Health (New York: Guttmacher Institute and United Nations Population Fund 2009): "If women’s contraceptive needs were addressed...the number of unsafe abortions would decline by 73% from 20 million to 5.5 million." A few of the findings in that report were subsequently changed, and are available at: "Facts on Investing in Family Planning and Maternal and Newborn Health Error in webarchive template: Check |url= value. Empty." (Guttmacher Institute 2010).
  8. ^ Haddad LB, Nour NM (2009). “Unsafe abortion: unnecessary maternal mortality”. Reviews in Obstetrics & Gynecology 2 (2): 122–6. PMC 2709326. PMID 19609407.