Mở trình đơn chính

Phêrô Nguyễn Huy Mai (1913 - 1990) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma người Việt Nam. Ông từng đảm trách vai trò Giám mục tiên khởi của Giáo phận Ban Mê Thuột, cai quản giáo phận này trong hơn 20 năm, từ năm 1967 đến năm 1990[1] và Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhiệm kỳ 1989 - 1992.[2] Khẩu hiệu giám mục của ông là: "Ngài cần phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại".[1]

Giám mục
 Phêrô Nguyễn Huy Mai
Giám mục Tiên khởi Giáo phận Ban Mê Thuột
(1967 - 1990)
Nguyen Huy Mai.JPG
Giáo hộiCông giáo Rôma
Chức vụ chính yếu
Giám mục chính tòa Tiên khởi Ban Mê Thuột
Giáo tỉnhGiáo tỉnh Huế
TòaGiáo phận Ban Mê Thuột
Bổ nhiệmNgày 22 tháng 6 năm 1967
Tựu nhiệmNgày 22 tháng 8 năm 1967
Hết nhiệmNgày 4 tháng 8 năm 1990
Tiền nhiệmTiên khởi
Kế nhiệmGiuse Trịnh Chính Trực
Truyền chức
Thụ phongNgày 29 tháng 6 năm 1941
Tấn phongNgày 15 tháng 8 năm 1967
Thông tin cá nhân
SinhNgày 3 tháng 7 năm 1913
Hà Nội, Việt Nam
MấtNgày 4 tháng 8 năm 1990
Hệ pháiCông giáo
Khẩu hiệu"Ngài cần phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại""
Cách xưng hô với
Phêrô Nguyễn Huy Mai
Huy hiệu GM Nguyễn Huy Mai.JPG
Danh hiệuĐức Giám mục
Trang trọngĐức Giám mục, Đức Cha
Thân mậtCha
Khẩu hiệu"Ngài cần phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại""
TòaGiáo phận Ban Mê Thuột

Thân thế, tu tậpSửa đổi

Nguyễn Huy Mai sinh ngày 3 tháng 7 năm 1913 tại làng Khuyến Lương, ngoại ô Hà Nội (nay thuộc phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội), là con cả trong một gia đình có bảy người con. Năm 1929 ông vào Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên. Năm 1930, Giám mục Pierre Gendreau (Đông, 1892 - 1935), Giám mục Hà Nội gửi cậu qua Pháp du học, vào chủng viện Saint Sulpice Paris.

Tại Pháp, ngày 21 tháng 12 năm 1940, chủng sinh Nguyễn Huy Mai được phong chức Phó tế tại Nhà thờ Saint-Sulpice, Paris, thuộc Tổng giáo phận Paris, bởi vị chủ phong là Hồng y Emmanuel Suhard. Không lâu sau đó, ngày 29 tháng 6 năm 1941, Phó tế Nguyễn Huy Mai tiến đến việc được phong chức linh mục tại Thánh đường Notre-Dame, Tổng giáo phận Paris, cũng bởi vị chủ phong là Hồng y Suhard. Tân linh mục lúc này là thành viên linh mục đoàn Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội (quen gọi là Địa phận Hà Nội).[3]

Thời kỳ linh mụcSửa đổi

Sau khi được truyền chức, tân linh mục Nguyễn Huy Mai tiếp tục theo học Đại học Công giáo Paris và đại học Sorbonne, đỗ Cử nhân Văn chương và Cử nhân Thần học.

Năm 1947 về Hà Nội, được bổ nhiệm Phó xứ nhà thờ chính tòa Hà Nội, bấy giờ mới 34 tuổi đời, linh mục Nguyễn Huy Mai hoạt động năng nổ, nhất là trong lĩnh vực giáo dục và trong giới thanh niên học sinh. Ông là giám đốc sáng lập trường Dũng Lạc đồng thời là Tuyên úy của phong trào Thanh - Sinh - Công.[4] Tháng 5 năm 1952 ông về giữ chức Chánh xứ nhà thờ chính tòa.

Đến ngày 22 tháng 8 năm 1952, ông giữ chức Giám đốc Tiểu chủng viện Piô XII của Giáo phận Hà Nội, đồng thời kiêm chức Tổng Đại diện giáo phận.[5] Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Linh mục Nguyễn Huy Mai cùng một số lượng lớn linh mục Hà Nội cũng đi vào Nam. Nguyễn Huy Mai gia nhập giáo phận Kontum, dưới quyền Giám mục đương nhiệm Paul Seitz. Từ năm 1964, linh mục giữ chức Thư ký thường trực Hội đồng Giám mục miền Nam.

Giám mục Ban Mê ThuộtSửa đổi

Ngày 22 tháng 6 năm 1967, Giáo hoàng Phaolô VI ban sắc lệnh thiết lập giáo phận Buôn Mê Thuột và bổ nhiệm linh mục Nguyễn Huy Mai làm Giám mục chính tòa tân Giáo phận Buôn Mê Thuột.[3] Trước khi đến nhận tân giáo phận, nhân dịp cuối tuần tĩnh tâm tại Giáo hoàng Học viện Piô Đà Lạt, vị giám mục Tân cử đã ngỏ lởi thuyết phục các chủng sinh về phục vụ cho Tân giáo phận Ban Mê Thuột. Một số chủng sinh cảm thấy yêu mến tính cách khiêm nhường nơi vị giám mục và quyết định phục vụ tại Giáo phận Ban Mê Thuột.[6]

Lễ tấn phong cử hành tại Sài Gòn ngày 15 tháng 8 năm 1967 do Khâm sứ Tòa Thánh Angelo Palmas chủ phong và hai vị Giám mục phụ phong: Paul Seitz Kim, Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum và Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục chính tòa Giáo phận Đà Nẵng.[3] Tổng giám mục Khâm sứ từng dặn dò Tân giám mục Nguyễn Huy Mai rằng:“Đức Thánh Cha muốn Cha là một Giám mục truyền giáo”, đó cũng là lý do tân giám mục Mai chọn khẩu hiệu “ Đức Kitô phải lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại” (Ga 3, 30).[6]

Ngày 22 tháng 8 năm 1967, tân Giám mục Nguyễn Huy Mai chính thức nhận Giáo phận Buôn Mê Thuột. Ngày 8 tháng 9 năm 1967, hội nghị hàng linh mục giáo phận đầu tiên được giám mục triệu tập, ông bổ nhiệm các chức vụ chủ chốt, thành lập các hội đồng và các ủy ban. Ông mở chủng viện cho giáo phận, mang tên Thánh Lê Bảo Tịnh.[7] Năm 1969, giám mục Nguyễn Huy Mai cho cải tổ dòng Mến Thánh Giá, xin thành lập dòng Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình. Để hoàn thành công việc này, ông gửi văn thư 506/69 đến Tòa Thánh. Tiếp nhận, ngày 22 tháng 4 năm 1969, Hồng y Phêrô Agagianian, Bộ trưởng Thánh Bộ Truyền giáo chuẩn y, xác nhận qua văn thư số 2248/69. Giám mục Mai chính thức thiết lập dòng tại buổi lễ tổ chức ngày 31 tháng 5 năm 1969.[6]

Giám mục lập các ban chuyên trách: Ban Phụng vụ và Thánh nhạc Sắc tộc, Ban Giáo lý Sắc tộc, thành lập các Trung tâm Công giáo Sắc tộc tại Buôn Mê Thuột, Quảng Đức, Phước Long. Tại thị xã Buôn Mê Thuột, mở trường trung, tiểu học, do các sư huynh La San đảm trách và các chẩn y viện, cô nhi viện, nhà dưỡng lão, quán cơm xã hội...

Ông cũng mời gọi các nam nữ tu sĩ các Hội Dòng đến cộng tác giúp giáo phận: Dòng La San, Đồng Công, Dòng nữ Vinh Sơn chuyên lo công tác từ thiện xã hội, Dòng Đức Bà Truyền giáo chăm lo cho người sắc tộc, Dòng Thánh Phaolô băng bó vết thương thân xác những bệnh nhân bất hạnh, Dòng Mến Thánh giá. Năm 1980, chính quyền cho phép Giám mục Nguyễn Huy Mai đi Hà Nội tham dự Đại hội đồng Giám mục Việt Nam và đi Roma. Ngày 3 tháng 7 năm 1988, bước vào tuổi 75, Giám mục Mai đệ đơn nghỉ hưu theo thông lệ, nhưng Giáo hoàng Gioan Phaolô II không chấp thuận.

Giám mục Nguyễn Huy Mai luôn quan tâm chăm sóc đến các linh mục và giáo dân. Do giáo hạt Phước Long 16 năm từ năm 1975 không có linh mục, giám mục Mai đã nhờ người soạn thảo văn bản gửi ông chủ tịch Hội đồng giáo xứ là ông Tuấn để ông gửi ra Hà Nội, xin cấp phép được bổ nhiệm linh mục cho vùng này. Giám mục Mai cũng không ngại khó khăn khi nhiều lần đáp máy bay trực thăng đến vùng biên giáo phận hiểm trở, dễ nguy hiểm tính mạng.[6]

Giám mục Nguyễn Huy Mai sống giản dị và khó nghèo. Gia sản của ông chỉ là các tủ sách đạo đức, các tờ báo hằng tháng, hằng ngày ở quầy báo Tòa Giám mục...Ông sử dụng đồ đạc vừa đủ: cây kim cũ có từ trước năm 1936, áo bạc màu thì lộn trái để mặc. Cuộc sống giản dị này đã gây ấn tượng sâu sắc.[6] Trong sách 20 năm qua 25 Giáo phận, linh mục Trần Phúc Long nhận định giám mục Nguyễn Huy Mai có các đức tính: khiêm tốn, sống khó nghèo, coi nhẹ tình cảm gia đình, đúng giờ và bộc trực.[6]

Trở bệnh và Qua đờiSửa đổi

Ngày 23 tháng 7 năm 1990, giám mục Nguyễn Huy Mai cử hành lễ cho Hội dòng Đức Maria Nữ Vương Hòa Bình. Trong buổi lễ này, sức khỏe giám mục Mai diễn biến xấu: ông vịn ghế tiến lên bàn thờ, ngồi cho rước lễ. Nhận thấy điều này, các nữ tu đề nghị đưa ông đi viện nhưng không nhận được sự đồng thuận từ giám mục Mai. Các nữ tu quyết định lấy máu giám mục Mai đưa đi xét nghiệm. Kết quả trả về xác định giám mục Mai bị ung thư máu giai đoạn trầm trọng.[6]

Để cứu chữa, căn cứ tình hình bệnh, giáo phận quyết định đưa giam mục Mai đi xe bằng đường Nha Trang. Ngay trong ngày 24 tháng 7, giám mục Nguyễn Huy Mai đã được đưa đến Tòa Giám mục Nha Trang. Để hỗ trợ, giám mục Giáo phận Nha Trang Phaolô Nguyễn Văn Hòa nhờ các bác sĩ bệnh viện Đường Sắt tới Tòa giám Mục điều trị. Một số giáo dân Nha Trang hiến máu hỗ trợ giám mục Mai. Sau 5 ngày điều trị, các bác sĩ cho biết không thể cứu chữa. Thông tin này được giám mục Hòa nói trực tiếp cho giám mục Mai. Được tin, giám mục Mai xin về Ban Mê Thuột. Đoàn bác sĩ quyết định về Ban Mê Thuột hỗ trợ bệnh nhân. Phái đoàn giáo phận, dẫn đầu là Giám mục Phó Giuse Trịnh Chính Trực đến Nha Trang đưa ông về Ban Mê Thuột.[6]

Ngày 4 tháng 8 năm 1990, Giám mục Phêrô Nguyễn Huy Mai qua đời tại Tòa Giám mục Buôn Mê Thuột với sự hiện diện của giám mục phó Trịnh Chính Trực, các nữ tu dòng Đức Maria Nữ vương Hòa Bình và thân nhân,[6] hưởng thọ 77 tuổi, Lễ an táng cử hành ngày 8 tháng 8 năm 1990[6] và mai táng đều tại nhà thờ chính tòa giáo phận.

Nhận địnhSửa đổi

Trong bài điếu văn đọc ngày 8 tháng 8 năm 1990, giám mục kế vị Giuse Trịnh Chính Trực đã nói về cuộc đời vị tiền nhiệm Nguyễn Huy Mai:[6]

Trong sách 20 năm qua 25 giáo phận, linh mục Trần Phúc Long đánh giám Giám mục Nguyễn Huy Mai:[6]

Tông truyềnSửa đổi

Giám mục Phêrô Nguyễn Huy Mai được tấn phong giám mục năm 1967, thời Giáo hoàng Phaolô VI, bởi:[3]

Giám mục Phaolô Maria Cao Đình Thuyên là Giám mục Chủ phong cho các giám mục:[3]

Tóm tắt chức vụSửa đổi

Tiền nhiệm:
Tiên khởi
Giám mục chính tòa Giáo phận Ban Mê Thuột
1967 - 1990
Kế nhiệm:
Giuse Trịnh Chính Trực
Tiền nhiệm:
Phaolô Nguyễn Văn Bình
Philípphê Nguyễn Kim Điền
Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam
Phêrô Nguyễn Huy Mai
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

(nhiệm kỳ 1989 - 1992)
Kế nhiệm:
Phaolô Huỳnh Đông Các
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă “Ðức Cha Phêrô Nguyễn Huy Mai, Nguyên Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột”. Taiwan Catholic. Bản gốc lưu trữ Ngày 12 tháng 2 năm 2019. Truy cập Ngày 12 tháng 2 năm 2019. 
  2. ^ “Hội đồng Giám mục Việt Nam qua 12 kỳ Đại hội”. Ban Tôn giáo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bản gốc lưu trữ Ngày 9 tháng 2 năm 2019. Truy cập Ngày 13 tháng 2 năm 2019. 
  3. ^ a ă â b c “Bishop Pierre Nguyên Huy Mai - Bishop of Ban Mê Thuột, Viet Nam”. Catholic Hierachy. Bản gốc lưu trữ Ngày 14 tháng 2 năm 2019. Truy cập Ngày 14 tháng 2 năm 2019. 
  4. ^ LM. Trần Phổ, "Dòng Phanxicô trên đất Việt", Ronéo 1974, tr. 150-151)..
  5. ^ Theo Giám mục Nguyễn Văn Sang, "Kỷ niệm Đức Hồng y Trịnh Văn Căn", 1990, tr. 14
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “MỪNG SINH NHẬT LẦN THỨ 100 CỦA ĐỨC CHA PHÊRÔ NGUYỄN HUY MAI GIÁM MỤC TIÊN KHỞI GIÁO PHẬN BANMÊTHUỘT ĐẤNG THIẾP LẬP HỘI DÒNG CHỊ EM ĐỨC MARIA NỮ VƯƠNG HÒA BÌNH GIÁO PHẬN BANMÊTHUỘT”. Giáo phận Ban Mê Thuột. Bản gốc lưu trữ Ngày 13 tháng 2 năm 2019. Truy cập Ngày 13 tháng 2 năm 2019. 
  7. ^ “GIÁO PHẬN BANMÊTHUỘT” (PDF). Viet Catholic. Truy cập Ngày 13 tháng 2 năm 2019. 

Tham khảoSửa đổi

  • Sơ lược "Lịch sử Truyền giáo giáo phận Kontum", tài liệu của Tòa Giám mục Kontum.
  • Lịch sử giáo phận Buôn Mê Thuột, tài liệu của Tòa Giám mục Buôn Mê Thuột, 1967.
  • Dòng Phanxicô trên đất Việt, của linh mục Trần Phổ, Ronéo, 1974.
  • Kỷ niệm Đức Hồng y Trịnh Văn Căn, của Giám mục Nguyễn Văn Sang, 1990.

Liên kết ngoàiSửa đổi