Phù Dung Đạo Khải

nhỏ|Thiền sư Phù Dung Đạo Khải Phù Dung Đạo Khải (芙 蓉 道 楷, fúróng dàokăi, fuyo dōkai; 1043-1118), còn gọi là Đạo Giai, Thiền sư Trung Quốc, Tổ sư đời thứ 8 của Tông Tào Động, từng sống dưới thời nhà Tống. Sư là pháp tử của Thiền Sư Đầu Tử Nghĩa Thanh, dưới sự hoằng hóa của sư, Tông Tào Động dần dần phát triển và lan rộng ảnh hưởng ra nhiều nơi. Đệ tử đắc pháp của sư rất nhiều, trong đó hai vị được biết đến nhiều nhất là Đan Hà Tử Thuần, Lộc Môn Tự Giác.

Hành trạngSửa đổi

Sư người Nghi thủy Nghi châu (huyện Nghi thủy tỉnh Sơn đông), họ Thôi. Ban đầu sư học Nho giáo. Sau đó đi học huyền thuật (Đạo Giáo) rồi học nhịn ăn. Sau biết là tà đạo, sư liền bỏ mà học Phật rồi xuất gia ở chùa Thuật Đài tại kinh đô

Rồi sư đến yết kiến và tham vấn Phật Pháp với Thiền sư Đầu Tử Nghĩa Thanh. Một hôm, sư hỏi: Lời dạy của Phật Tổ giống như việc ăn uống thường ngày trong nhà, ngoài việc này ra còn có điều gì khác chăng? Hoà thượng Đầu Tử hỏi: Ông cho rằng trong thiên hạ này sắc lệnh của thiên tử còn giả được vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang chăng? Sư định trả lời liền bị Đầu Tử quất phất trần vào miệng và bảo: Ông mà khởi ý, ta sẽ cho ba mươi gậy nữa đấy! Ngay đó, sư bỗng nhiên đại ngộ, lễ bái rồi ra đi. Hoà thượng Đầu Tử nói vọng theo: Quay lại đây Xà- lê! Sư đi thẳng một mạch, chẳng thèm đoái hoài. Hoà thượng Đầu Tử lại hỏi: Ông không còn nghi ngờ chứ? Sư bịt tai và tiếp tục đi. Sau đó, sư được Thiền sư Đầu Tử ấn chứng và phó chúc nối pháp Tông Tào Động.

Niên hiệu Nguyên Phong năm thứ năm (1082), Sư trở về Nghi Châu ở núi Mã An bắt đầu truyền bá đạo pháp. Ban đầu, Sư ở Tiên Động, sau dời đến chùa Long Môn. Sư lại sang trụ núi Đại Dương thuộc Dĩnh Châu và Đại Hồng ở Tùy Châu, đều do sự cung thỉnh của mọi người. Tông Tào Động được thạnh hành miền Tây Bắc.

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Không tông phái

Thiền sư ni

Cư sĩ


Niên hiệu Sùng Ninh năm thứ ba (1104) có chiếu mời Sư trụ tại Thiền viện Thập Phương Tịnh Nhân ở Đông Kinh. Đến niên hiệu Đại Quan năm đầu (1107), vua sai Trung sứ áp đặt Sư trụ trì ở Thiên Ninh không được từ chối.

Đầu niên hiệu Đại Quan (1108), vua hai lần ban tặng tử y và danh hiệu Định Chiếu Thiền Sư, sư đều từ chối không nhận. Vì thế sự bị đày đi xa nhưng sư vẫn an nhiên. Sau đó, vua tỉnh ngộ thả sư ra, Sư xây chùa chùa trên bờ hồ Phù dung, chuyên tâm hoằng dương Thiền pháp.

Năm thứ tám niên hiệu Chính Hòa (1118) ngày 14 tháng năm, Sư cầm bút viết bài kệ:

吾年七十六

世緣今已足

生不愛天堂

死不怕地獄

撒手橫身三界外

騰騰任運何拘束

Ngô niên thất thập lục

Thế duyên kim dĩ túc

Sinh bất ái thiên đường

Tử bất phạ địa ngục

Tán thủ hoành thân tam giới ngoại

Ðằng đằng nhậm vận hà câu thúc.

Ta tuổi bảy mươi sáu

Duyên đời nay đã đủ

Sinh chẳng thích thiên đường

Chết chẳng sợ địa ngục

Buông tay đi ngang ngoài tam giới

Mặc tình vươn bổng nào buộc ràng.

Viết kệ xong, sư thị tịch, thọ 76 tuổi.

Pháp NgữSửa đổi

Sư thượng đường nói: " Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sinh tử, thôi tâm dứt niệm cắt vin theo, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong mắt. Vì từ vô thủy đến giờ, những cái ấy đâu chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự thì Phật Tổ vẫn là oan gia, tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, mới là phù hợp bên này...

Các ngươi đâu chẳng thấy, Ẩn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người. Triệu Châu đến chết chẳng biên thơ cho đàn việt, thà lượm trái giẻ trái lật mà ăn. Đại Mai lấy lá sen làm áo. Chỉ Y Đạo Giả mặc y phục bằng giấy. Thượng tọa Huyền Thái chỉ mặc bằng bố. Thạch Sương nơi nhà Cây khô (chúng tọa thiền yên lặng như cây khô) cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Đầu Tử sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi.

Các bậc thánh từ trước có những gương cao đẹp như thế, nếu không có chỗ đặc biệt làm sao chịu nổi.

Chư nhân giả! Nếu hay nơi đây thể cứu thì chẳng thiếu thốn điều gì, bằng chẳng chịu thừa đương về sau e phải phí nhiều khí lực"

Sư thượng đường nói: "Ngày nay Sơn tăng đối với các vị nói về gia môn đã là chẳng tiện. Đâu thể lại đăng đường, nhập thất, niêm chùy, dựng phất, nhướng mày, chớp mắt, đông gậy, tây hét in tuồng bệnh động kinh phát hiện. Đâu chẳng thấy Tổ Đạt-ma sang ngồi xây mặt vào vách chín năm dưới núi Thiếu Thất. Nhị Tổ đến đứng ngoài tuyết đến chặt cánh tay, có thể nói chịu tột sự gian khổ. Nhưng Tổ Đạt-ma chưa từng nói một lời. Nhị Tổ chưa từng hỏi một câu. Thế là, nói Tổ Đạt-ma chẳng vì người được chăng? Nhị Tổ chẳng cầu thầy được chăng?"

= Tham khảoSửa đổi

=

  • Phật Tổ Đạo Ảnh(2 tập), Thiền Sư Hư Vân và Tuyên Hóa biên tập.
  • Thiền Sư trung hoa(3 tập), Hòa Thượng Thích Thanh từ biên dịch
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.

.