Phương diện quân Đông Nam

Phương diện quân Đông Nam (tiếng Nga: Юго-Восточный фронт) là một tổ chức tác chiến chiến lược của Hồng quân Liên Xô trong Thế chiến thứ hai, chịu trách nhiệm phòng thủ tuyến vòng ngoài chống lại quân Đức ở phía Nam của thành phố Stalingrad trong giai đoạn phòng ngự của Trận Stalingrad. Tuy nhiên, biên chế này chỉ tồn tại chưa đầy 2 tháng trước khi được tổ chức lại thành Phương diện quân Sông Don.

Red Army Badge.svg Phương diện quân Đông Nam Red Army Badge.svg
Разведгруппа 39-й гвардейской стрелковой дивизии уходит на боевое задание. Завод «Красный Октябрь». Сталинград. 1943 г.jpg
Nhóm trinh sát thuộc Sư đoàn súng trường cận vệ 39 đi làm nhiệm vụ chiến đấu. Nhà máy "Tháng 10 đỏ". Stalingrad. 1943
Hoạt động5 tháng 8 - 28 tháng 9, 1942
Quốc gia Liên Xô
Phục vụHồng quân Liên Xô
Chức năngTổ chức tác chiến chiến lược
Quy môPhương diện quân
Tham chiếnTrận Stalingrad (giai đoạn phòng ngự)
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Andrey Yeryomenko

Lịch sửSửa đổi

Phương diện quân Đông Nam được thành lập vào ngày 5 tháng 8 năm 1942, trên cơ sở một bộ phận của Phương diện quân Stalingrad, có bổ sung thêm Tập đoàn quân xe tăng số 1 và một số đơn vị độc lập thuộc Phương diện quân Nam đã bị giải thể trước đó. Nhiệm vụ chính của phương diện quân là ngăn chặn đà tiến quân của Đức về phía sông Volga và tránh khỏi mối đe dọa bao vây Stalingrad của Đức.

Biên chế chủ lực ban đầu của phương diện quân bao gồm các tập đoàn quân 52, 57 và 64. Về sau, phương diện quân được bổ sung thêm các tập đoàn quân 28, 62, 8. Các đơn vị thuộc Giang đoàn sông Volga, Quân khu Stalingrad và Khu vực phòng không Stalingrad cũng được phối thuộc tác chiến của phương diện quân.

Ngày 28 tháng 9, Phương diện quân Đông Nam bị giải thể. Hầu hết các đơn vị của nó được tái tổ chức lại thành Phương diện quân Stalingrad mới, trong khi Phương diện quân Stalingrad cũ được đổi tên thành Phương diện quân Sông Don.[1]

Lãnh đạo phương diện quân

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ David M. Glantz, Armageddon in Stalingrad, University Press of Kansas, Lawrence, KS, 2009, pp 272-73

Tham khảoSửa đổi