Mở trình đơn chính

Phần mềm tự do nguồn mở

đánh bài liêng

Phần mềm tự do nguồn mở (Tiếng Anh: Free and open-source software (Viết tắt là F/OSS, FOSS) hoặc Free/Libre/open-source software (Viết tắt là FLOSS)) là loại phần mềm được bao gồm Phần mềm tự doPhần mềm nguồn mở. Có nghĩa là phần mềm sẽ cung cấp bất cứ ai quyền được sử dụng, sao chép, thay đổi và chỉnh sửa phần mềm mà không bị giới hạn[1]. Mã nguồn được chia sẻ công khai để mọi người có thể chỉnh sửa, cải tiến phần mềm theo cách tự nguyện và tự do. Điều này trái ngược với Phần mềm độc quyền, là các phần mềm được cấp phép bản quyền hạn chế và mã nguồn thường bị ẩn khỏi người dùng.

Trong bối cảnh từ "free" trong tiếng Anh bị lẫn lộn giữa "miễn phí" và "tự do", tổ chức Free Software Foundation (Viết tắt là FSF) - một tổ chức ủng hộ sáng kiến phần mềm nguồn mở - lưu ý rằng free hiểu theo nghĩa "tự do" (theo kiểu "độc lập - tự do - hạnh phúc") chứ không phải "miễn phí" (theo kiểu "miễn phí không mất tiền"), bởi "tự do" giá trị hơn "miễn phí".[1]

FOSS là một thuật ngữ bao gồm bao gồm cả phần mềm tự dophần mềm nguồn mở, mặc dù mô tả mô hình phát triển tương tự, nhưng khác nhau về văn hóa và triết lý sử dụng làm nền tảng. Phần mềm tự do tập trung vào triết lý về các quyền tự do mà nó mang lại cho người sử dụng, trong khi đó phần mềm nguồn mở tập trung vào các cảm nhận thế mạnh của mô hình phát triển ngang hàng của nó . FOSS là một thuật ngữ có thể được sử dụng mà không thiên vị đặc biệt đối với một trong hai cách tiếp cận chính.

Tổng quanSửa đổi

"Phần mềm tự do nguồn mở" (FOSS) là một thuật ngữ về phần mềm bao hàm cho cả phần mềm tự dophần mềm nguồn mở. FOSS (Phần mềm tự do nguồn mở) cho phép người dùng kiểm tra mã nguồn và cung cấp mức độ kiểm soát cao các chức năng của phần mềm so với phần mềm độc quyền. Thuật ngữ "Free Software" trong "Free and Open-source Software" không đề cập đến chi phí tiền tệ của phần mềm, mà là liệu giấy phép có duy trì quyền tự do cho người dùng (tự do như trong bài phát biểu về quyền tự do, chứ không phải như kiểu free beer là một dạng giả định FOSS ở thế giới thật[1]). Có một số thuật ngữ và chữ viết tắt liên quan cho phần mềm tự do và nguồn mở (FOSS hoặc F/OSS), hoặc phần mềm tự do / giải phóng và nguồn mở (FLOSS hoặc F / LOSS, FLOSS là thuật ngữ ưa thích của FSF)[2].

Mặc dù gần như có sự tương đồng hoàn toàn giữa giấy phép phần mềm tự do và giấy phép phần mềm nguồn mở, có một sự bất đồng triết lý mạnh mẽ giữa những người ủng hộ hai thuật ngữ này. Thuật ngữ của FOSS hoặc "Phần mềm nguồn mở và miễn phí" được tạo ra để trung lập với những bất đồng về triết học giữa Free Software Foundation (FSF)Open Source Initiative (OSI) và để có một thuật ngữ thống nhất và duy nhất có thể đề cập cả hai khái niệm[2].

Theo lời giải thích của Tổ chức Phần mềm Tự do (FSF) về sự khác biệt về triết lý giữa hai thuật ngữ phần mềm tự do và phần mềm nguồn mở: "Hai thuật ngữ mô tả gần như cùng một loại phần mềm, nhưng chúng đại diện cho các quan điểm dựa trên các giá trị khác nhau cơ bản. Nguồn mở là một phương pháp phát triển phần mềm, còn phần mềm tự do là một phong trào xã hội. Đối với phong trào phần mềm tự do, phần mềm tự do là sự bắt buộc về mặt đạo đức, tôn trọng thiết yếu cho sự tự do của người dùng. Ngược lại, triết lý về nguồn mở xem xét các vấn đề về cách tạo ra phần mềm sao cho tốt hơn - chỉ theo mặt kỹ thuật."[3]. Song song với điều này, Sáng kiến nguồn mở (OSI) coi nhiều giấy phép phần mềm tự do cũng là nguồn mở[4]. Chúng bao gồm các phiên bản mới nhất của ba giấy phép chính của FSF: GPL, Giấy phép công cộng chung ít hơn (LGPL) và Giấy phép công cộng chung GNU Affero (AGPL).

Phần mềm tự doSửa đổi

Theo định nghĩa phần mềm tự do của Richard Stallman, được thông qua bởi Tổ chức Phần mềm Tự do (FSF), định nghĩa "free software" theo mặt quyền tự do chứ không phải chi phí của phần mềm[1], và nó duy trì được Bốn quyền Tự do thiết yếu của phần mềm tự do. Ấn bản được biết đến sớm nhất về định nghĩa về ý tưởng phần mềm tự do của ông là trong ấn bản Bản tin GNU tháng 2 năm 1986 của FSF mà giờ đã ngừng xuất bản. Nguồn chuẩn cho tài liệu này nằm trong phần triết lý của trang web dự án GNU[1]. Tính đến tháng 11 năm 2019, nó được xuất bản sang 42 ngôn ngữ[1] và chưa có Tiếng Việt.

Bốn quyền Tự do thiết yếu của phần mềm tự do[1]Sửa đổi

Để đáp ứng định nghĩa về "phần mềm tự do", FSF yêu cầu giấy phép của phần mềm phải tôn trọng quyền tự do dân sự / quyền con người của cái mà FSF gọi là "Bốn quyền tự do thiết yếu" của người dùng phần mềm.

  • Tự do sử dụng chương trình như bạn muốn, cho bất kỳ mục đích nào.
  • Tự do nghiên cứu cách chương trình hoạt động và thay đổi chương trình theo bất kỳ mục đích nào. Truy cập vào mã nguồn là điều kiện tiên quyết cho việc này.
  • Tự do phân phối lại các bản sao để có thể giúp đỡ người khác.
  • Tự do phân phối các bản sao của các phiên bản sửa đổi của cá nhân cho người khác.

Nguồn mởSửa đổi

Định nghĩa nguồn mở được Tổ chức phần mềm tự do sử dụng để xác định xem giấy phép phần mềm liệu có đủ điều kiện để cấp phù hiệu của tổ chức cho phần mềm mã nguồn mở đó hay không. Định nghĩa này dựa trên Nguyên tắc phần mềm miễn phí Debian, được viết và điều chỉnh chủ yếu bởi Bruce Perens[5][6]. Định nghĩa của Perens không dựa trên Bốn quyền Tự do thiết yếu của phần mềm tự do của Quỹ phần mềm tự do (FSF) vì khoảng lâu sau nó mới đăng trên trang web và Perens đã công bố trong bình luận trên diễn đàn Slashdot[7]. Perens sau đó tuyên bố rằng ông cảm thấy việc quảng bá Nguồn mở của Eric Raymond là không công bằng, làm lu mờ những nỗ lực của Tổ chức Phần mềm Tự do và tái khẳng định sự ủng hộ của ông đối với Phần mềm Tự do[8]. Trong những năm 2000 sau đó, ông đã tuyên bố về nguồn mở một lần nữa[9].

Lịch sửSửa đổi

Sự ra đời của FOSS:Sửa đổi

Trong những năm 1950 đến những năm 1980, người dùng máy tính thường có mã nguồn cho tất cả các chương trình họ đã sử dụng, quyền hạn và khả năng sửa đổi nó để sử dụng cho riêng họ. Phần mềm, bao gồm mã nguồn, thường được chia sẻ bởi các cá nhân sử dụng máy tính, thường là phần mềm phạm vi công cộng[10]. Hầu hết các công ty đều có mô hình kinh doanh dựa trên doanh số bán phần cứng và các phần mềm được cung cấp hoặc đóng gói chung với phần cứng một cách miễn phí[11].

Đến cuối những năm 1960, mô hình kinh doanh thịnh hành xung quanh phần mềm đã thay đổi. Ngành công nghiệp phần mềm phát triển và cạnh tranh với các sản phẩm phần mềm đi kèm của nhà sản xuất phần cứng; thay vì tài trợ cho việc phát triển phần mềm từ doanh thu phần cứng, các công ty mới này đã bán phần mềm trực tiếp.

Tại Việt NamSửa đổi

Trong lịch sử phong trào phần mềm tự do nguồn mở đã có từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước với mốc đầu tiên là hội thảo quốc gia Phần mềm mã nguồn mở lần thứ nhất tháng 12 năm 2000. Ngay từ lúc đó, đã có những nhóm Phần mềm mã nguồn mở phát triển hệ điều hành Linux Việt của Vietkey, School Net, CMC… Và sự phát triển của PMNM cũng có những sự thăng trầm qua nhiều giai đoạn.[12]

Vào ngày 02 tháng 3 năm 2004, chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 235/QĐ-TTg, phê duyệt Dự án tổng thể “Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt nam giai đoạn 2004-2008”[13]. Tuy nhiên phần mềm nguồn mở tại Việt Nam không hề phát triển như mong muốn. Theo TS Nguyễn Hồng Quang - Chủ tịch CLB Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam, mọi việc không thể như mong muốn vì nhà nước thực ra cũng không có tiền và nhận thức về PMNM ở Việt Nam khi đó cũng chưa đủ độ chín.[12]

Năm 2004, nhóm Hanoi LUG (Linux User Group) đã được hình thành với hạt nhân là Viện Tin học Pháp ngữ (IFI) mà nay là Viện Quốc tế Pháp ngữ. [cần dẫn nguồn]

Vào ngày 01 tháng 3 năm 2010, chính phủ Việt Nam đã ban hành Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục[14]. Trong thông tư, danh sách các phần mềm tự do mã nguồn mở được sử dụng trong các cơ sở giáo dục bao gồm:

  • Hệ điều hành GNU/Linux cho các máy chủ như Ubuntu, CentOS, Fedora Core, Debian.
  • Hệ điều hành của Linux dành cho máy bàn (PC) và máy tính xách tay (Laptop, Netbook...): Ubuntu, Fedora, Hacao (tiếng Việt, máy cấu hình thấp), PurpyDingo (Máy cấu hình thấp).
  • Bộ gõ tiếng Việt trong môi trường GNU/Linux: xvnkb, Scim.
  • Quản lý học tập điện tử e-Learning: Moodle, Dokeos.
  • Quản lý thư viện số: Greenstone của UNESCO, D-space.
  • Phần mềm thư viện: Emilda, phpmylibrary, Koha, OpenBiblio.
  • Quản lý mạng lớp học: Phần mềm Mythware, i-Talc của Intel.
  • Cổng thông tin điện tử: Liferay, Uportal, DotnetNuke, ExoPlatform.
  • Diễn đàn: phpBB, Jforum, mvnForum, SMF.
  • Quản lý nội dung CMS: Alfresco, PHP-Nuke, Nuke-Viet, Joomla, Drupal.
  • Vẽ bản đồ tư duy: FreeMind.
  • Xử lý âm thanh: Audacity.
  • Xử lý ảnh: PhotoScape, GIMP (thay thế Photoshop), Inkscape.
  • Tạo tệp văn bản PDF: PDFCreator.
  • Tạo tài liệu mở Wiki, cho phép người sử dụng có thể soạn thảo trực tiếp.
  • Database server: MySQL, PostgreSQL, Ingres, OpenDB.
  • Blog: WordPress, B2evolution.
  • e-Portfolio: Mahara.
  • Thư điện tử: Postfix, Zimbra, Sendmail.
  • Công cụ web: NVU, Bluefish (thay thế Frontpage, Dreamwear).
  • Nhắn tin, chat: Pidgin sử dụng cho nhiều mạng khác nhau Google, Yahoo, AIM, ICQ.
  • Phần mềm ngành xuất bản: Scribus (thay thế QuarkXpress, Indesgin).

Tuy nhiên, thực trạng tại trường học tại Việt Nam là ngoại trừ các trường đại học và một số trường Trung học, đa số các trường ở máy mà học sinh sử dụng thì việc cài đặt và sử dụng phần mềm lậu vẫn còn tràn lan. Theo TS Nguyễn Hồng Quang - Chủ tịch CLB Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam, phần mềm nguồn mở trong giáo dục ở Việt Nam chưa phát triển được bao nhiêu. Nguyên nhân vì chưa có chính sách chung của Chính phủ về Phần mềm nguồn mở nên Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chưa biết xem cần phải làm gì với PMNM. [cần dẫn nguồn]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ “What is free software?”. The GNU Project - GNU.org. 30 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019. 
  2. ^ a ă Stallman, Richard (18 tháng 11 năm 2016). “FLOSS and FOSS”. The GNU Project - GNU.org. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019. 
  3. ^ Stallman, Richard (28 tháng 4 năm 2019). “Why Open Source misses the point of Free Software”. The GNU Project - GNU.org. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019. 
  4. ^ “Frequently Answered Questions”. Open Source Initiative - Opensource.org. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2019. 
  5. ^ Perens, Bruce (29 tháng 3 năm 1999). “The Open Source Definition by Bruce Perens”. Open Sources: Voices from the Open Source Revolution. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  6. ^ “The Open Source Definition”. Open Source Initiative - Opensource.org. 22 tháng 3 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  7. ^ Perens, Bruce (16 tháng 2 năm 2009). “Re: How did he 'write the rules' in 1997 when GNU & FSF long predated this?”. Slashdot - news.slashdot.org. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  8. ^ Perens, Bruce (17 tháng 2 năm 1999). “It's Time to Talk About Free Software Again”. debian - debian.org. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  9. ^ Perens, Bruce (9 tháng 2 năm 1998). “Bruce Perens - State of Open Source Message: A New Decade For Open Source”. Bruce Perens - Perens.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  10. ^ Shea, Tom (27 tháng 6 năm 1983). “Free software - Free software is a junkyard of software spare parts”. InfoWorld - Free Software. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  11. ^ Gates, Bill (3 tháng 2 năm 1976). “An Open Letter to Hobbylist”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2019. 
  12. ^ a ă Đức Hoàng (7 tháng 10 năm 2019). “Cần có chiến lược của Chính phủ về phát triển nguồn mở”. VietTimes. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019. 
  13. ^ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM (2 tháng 3 năm 2004). “Quyết định số 235/QĐ-TTg - Phê duyệt Dự án tổng thể “Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt nam giai đoạn 2004-2008””. vanbanphapluat.co. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019. 
  14. ^ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1 tháng 3 năm 2010). “Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT - Quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục”. Thư viện Pháp luật. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2019.