Mở trình đơn chính

Phục Lễ Công chúa Nguyễn Phúc Gia Phúc (chữ Hán: 復禮公主 阮福嘉福; 18471888), là một công chúa, con gái của vua Thiệu Trị nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Phục Lễ Công chúa
復禮公主
Công chúa nhà Nguyễn
Thông tin chung
Phu quânNguyễn Lâm
Hậu duệ3 con trai
2 con gái
Tên húy
Nguyễn Phúc Gia Phúc
阮福嘉福
Thụy hiệu
Mỹ Thục Phục Lễ Công chúa
美淑復禮公主
Tước hiệuĐồng Xuân Công chúa (同春公主)
Phục Lễ Công chúa (復禮公主)
Thân phụNguyễn Hiến Tổ
Thiệu Trị
Thân mẫuCung nhân
Hồ Thị Ý Nhi
Sinh1847
Mất1888 (41 tuổi)

Bà là vị công chúa đầy tranh cãi trong nội tộc nhà Nguyễn khi vướng vào một cuộc tình tai tiếng loạn luân với người anh cùng cha khác mẹ là Gia Hưng vương Nguyễn Phúc Hồng Hưu.

Cuộc đờiSửa đổi

Thân thếSửa đổi

Hoàng nữ Gia Phúc sinh vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), là con gái út của vua; mẹ là Cung nhân Hồ Thị Ý Nhi. Hồ thị nhận ân sủng chưa tròn, thì Thiệu Trị đã mất sớm, để lại hoàng nữ Gia Phúc còn chưa tròn tuổi đã mất cha.

Lúc đó, Chính cung của Thiệu Trị là bà Từ Dụ, tính tình hiền đức, ngay từ khi Thiệu Trị còn sống, bà đối xử với các người vợ lẽ và các con của họ rất hiền từ chu đáo, vì vậy bà cùng mẹ sống một cuộc sống an nhàn và bình an trong cung.

Đồng Xuân Công chúaSửa đổi

Càng lớn lên, hoàng nữ Gia Phúc càng xinh đẹp, tính tình cũng tự do phóng khoáng, hay cùng các anh giao du rất thân mật. Các hoàng tử cũng yêu quý bà, chiều chuộng người em gái năng động và hoạt bát[1].

Năm Tự Đức thứ 16 (1863), vua anh gả bà cho Phò mã Đô úy Nguyễn Lâm, người Quảng Điền, Thừa Thiên. Phò mã Lâm là con trai của Võ Hiển điện Đại học sĩ Trí dũng tướng Tráng Liệt bá Nguyễn Tri Phương. Nguyễn Lâm từ nhỏ ham học đọc sách, siêng năng, tính lại khiêm cung. Cha ông là Nguyễn Tri Phương có công đối với triều đình, nên Tự Đức muốn kén cho ông một người vợ, Từ Dụ Thái hậu thấy rằng trong cung, bà vừa hạp đến tuổi, bèn lấy mà ban cho Nguyễn Lâm.

Năm thứ 22 (1869), bà được vua sách phong làm Đồng Xuân công chúa (同春公主).

Cuộc sống vừa cưới hạnh phúc không được bao lâu, thì thế nước lúc đó đang lâm nguy. Năm 1873, quân Pháp đánh chiếm Hà Nội, Nguyễn Lâm cùng cha trúng đạn tử trận, được truy tặng hàm Binh bộ Thị lang[2]. Công chúa trở thành góa phụ khi chỉ vừa 26 tuổi.

Chúa kịp có với phò mã Lâm 3 con trai và 2 con gái[2]. Con trai trưởng là Nguyễn Tri Kiểm (阮知檢), dược phong Hàn lâm viện Điển tịch, sau thăng làm Tri phủ Triệu Phong, người con trai thứ là Nguyễn Tri Chí (阮知至), được phong Cẩm y Giáo úy.

Phục Lễ Công chúaSửa đổi

Chúa ở góa khi tuổi đời còn trẻ, nhan sắc lại vẫn mặn mà. Anh trai của bà là Gia Hưng công Nguyễn Phúc Hồng Hưu, hoàng tử thứ 8 của Thiệu Trị, vì thấy bà cô độc mà nhan sắc vẫn còn trẻ, đã đối đãi thân thiết và tư thông với bà[1]. Đại Nam thực lục ghi lại, chúa sinh được một người con gái sau mối tình loạn luân này[3].

Sau khi Hàm Nghi lên ngôi (1884), Trấn Tĩnh Quận công Miên Dần (hoàng tử thứ 45 của Minh Mạng) đã tâu chuyện loạn dâm này lên vua. Vua hạ lệnh cho Tôn nhân phủ truy xét. Gia Hưng công bị đổi sang họ mẹ là Võ Hưu, bị cách hết tước vị, đưa đi an trí ở Lao Bảo, Quảng Trị[4]. Còn Công chúa bị phế làm thứ dân, đổi tên thành Hồ Thị Gia Đốc (theo họ mẹ)[3][4]. Chúa phải sang làm nô tỳ cho nhà chồng để chuộc tội. Phu nhân của Nguyễn Tri Phương thấy bà còn trẻ người non dạ, lại là một công chúa, không nỡ nên xin trả về hoàng cung.

Năm Thành Thái thứ nhất (1885)[5], Từ Dụ Thái hoàng thấy bà đã biết hối cải, dụ cho Đồng Khánh phục lại tước công chúa, cải phong thành Phục Lễ Công chúa (復禮公主), với ý nghĩa là "quay về với lễ nghĩa"[6]. Tuy nhiên, các con của Công chúa không được tập ấm Hiệu uý, không được vào chầu, để cho có phân biệt[3].

Năm Đồng Khánh thứ 3 (1888), chúa qua đời, thọ 42 tuổi, được ban thụy là Mỹ Thục (美淑)[2]. Trước khi chết, chúa có trối lại là muốn được táng cùng phò mã Lâm, vua chuẩn cho. Vua lại chuẩn cho từ nay trở về sau, các công chúa mà tình nguyện về chôn ở quê chồng, cũng theo đó mà làm[6].

Sách tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Lưỡng Kim Thành, Chuyện các bà chúa bà hoàng nhà Nguyễn, sách đã dẫn
  2. ^ a ă â Đại Nam liệt truyện, tập 3, quyển 10
  3. ^ a ă â Đại Nam thực lục, tập 9, tr.416 (bản điện tử)
  4. ^ a ă Đại Nam thực lục, tập 9, tr.219 (bản điện tử)
  5. ^ Lúc này vua Đồng Khánh đã lên ngôi nhưng vẫn còn sử dụng niên hiệu của vua anh
  6. ^ a ă Đại Nam thực lục, tập 9, tr.485 (bản điện tử)