Philippe III của Navarra

Philippe III của Navarra (tiếng Pháp: Philippe III de Navarre, tiếng Tây Ban Nha: Felipe III de Navarra, tiếng Basque: Filipe III.a Nafarroakoa; 27 tháng 3 năm 1306 – 16 tháng 9 năm 1343), được gọi là Philippe xứ Évreux (tiếng Pháp: Philippe d'Évreux), Philippe Cao quý (Philippe le Noble) hay Philippe Khôn ngoan (Philippe le Sage), là Vua của Navarra từ năm 1328 cho đến khi qua đời. Xuất thân từ dòng thứ của hoàng gia Pháp, nhưng ông dần nổi tiếng khi ông cùng vợ, cũng chính là em họ của ông, Jeanne II của Navarra, giành được quyền cai trị vương quốc Navarra, từ đó phát triển thành một chư hầu hùng mạnh nhất của nước Pháp.

Philippe III
Vua hoặc hoàng đế Vua của Navarra
Philippe III de Navarre.jpg
Tượng bán thân của Philippe tại Louvre, ban đầu đặt ở Tu viện Jacobin, nơi cất giữ trái tim của ông
Vua của Navarra
Tại vị1328 - 1343
Đăng quang5 tháng 3 năm 1329
Tiền nhiệmCharles I
Kế nhiệmJeanne II
Thông tin chung
Sinh(1306-03-27)27 tháng 3 năm 1306
Mất16 tháng 9 năm 1343(1343-09-16) (37 tuổi)
An tángPamplona
Phối ngẫuJeanne II của Navarra
Hậu duệMaria, Vương hậu Aragon
Blanche
Charles II, Vua của Navarra
Philip, bá tước của Longueville
Louis, Công tước của Durazzo
Hoàng tộcÉvreux
Thân phụLouis, Bá tước xứ Évreux
Thân mẫuMarguerite xứ Artois
Tôn giáoCông giáo La Mã

Sự lên ngôi của Philippe và Jeanne đã biểu thị sự kết thúc của liên minh cá nhân kéo dài 44 năm giữa Pháp và Navarra. Vì trước đây, các vua Pháp từ Philippe VI đến Charles IV cũng đồng thời là vua Navarra luôn. Mặc dù không thành công trong việc giành lấy vương miện của Pháp, nhưng Philippe và Jeanne là những chư hầu mạnh mẽ của triều đại Valois dưới thời vua Philippe VI cũng như các vị vua thành công ở Navarra. Bất chấp sự miễn cưỡng ban đầu của người Navarra để chấp nhận ông đồng trị vị cùng vợ, thì Philippe được ghi nhận trong việc cải thiện cơ quan lập pháp của vương quốc. Cặp vợ chồng hoàng gia này cư trú chủ yếu ở vùng đất Pháp, nhưng dành những thời gian ở Navarra để cải cách vương quốc, chăm sóc quan tâm chu đáo thần dân khiến họ rất được lòng dân ở nước này.

Philippe tích cực hỗ trợ anh em họ với quân đội của mình và với tư cách là thủ lĩnh quân đội, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh Trăm năm. Tuy nhiên, trong thời gian trị vì chung với vợ, trọng tâm của Navarra lại chuyển sang các nước láng giềng của người Bỉ. Điều này có thể đã ảnh hưởng đến Philippe để tham gia cuộc thập tự chinh chống lại Vương quốc Granada, nhưng tiếc rằng có thể trong thời gian đó ông đã bị bệnh, và ra đi một cách đột ngột.

Kế vị triều đại CapetSửa đổi

Philippe là con trai của Louis xứ Évreux, con trai của Vua Philippe III của Pháp và người vợ thứ hai, Marie xứ Brabant. Cha của Philippe là người lập ra nhánh Évreux của Nhà Capeti, còn mẹ của ông, Marguerite xứ Artois lại thuộc về một nhánh khác, nhánh Artois, cũng của nhà Capeti. Nhà Évreux liên quan chặt chẽ đến các cuộc đàm phán về sự kế vị của anh em họ của Philippe, Louis X. Vào thời điểm Louis qua đời đột ngột vào năm 1316, đứa con duy nhất của Louis X là một cô con gái bốn tuổi, Jeanne, có một vấn đề vì trước đây không có vị vua thuộc triều đại Capet đã qua đời mà không có con trai. Gia đình mẹ của Jeanne, Nhà Capeti, nhánh Bourgogne, đã thay mặt ông giành lấy vương miện, nhưng người chú của Jeanne đã thành công thay vào đó khi Vua Philippe V. Philippe V cũng thay thế bà tiếp nối Vương quốc Navarra, nơi chỉ vừa mới vào tay triều đại Capet nhờ Nữ hoàng Jeanne I, mẹ của Philip V và Louis X.[1]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Woodacre 2013, tr. 53.

Tham khảoSửa đổi

  • Arias Guillén, Fernando (2012). “El linaje maldito de Alfonso X: conflictos en torno a la legitimidad regia en Castilla (c. 1275–1390)”. Vínculos de Historia. 1: 147–63.
  • Azcárate Aguilar-Amat, Pilar (1989). “La guerra de 1335 entre Castilla y Navarra”. Hispania. 49 (173): 805–40.
  • Azcárate Aguilar-Amat, Pilar (1995). “Aportación y muerte de Felipe de Evreux en la cruzada de Algeciras (1343)”. Trong Eduardo Ripoll Perelló; Manuel Fernando Ladero Quesada (biên tập). Actas del II Congreso Internacional "El Estrecho de Gibraltar", Ceuta, 1990. 3. Madrid. tr. 61–76.
  • Burne, Alfred (1955). The Crecy War: A Military History of the Hundred Years War from 1337 to the Peace of Bretigny, 1360. London: Eyre & Spottiswoode.
  • Goñi Gaztambide, José (1959). “La matanza de judíos en Navarra, en 1328”. Hispania Sacra. 12 (23): 5–33.
  • Guyot-Bachy, Isabelle (2002). “La diffusion du Roman des roys avant la Guerre de cent ans: le manuscrit de Pierre Honoré, serviteur de Charles de Valois”. Trong Erik Kooper (biên tập). The Medieval Chronicle II. Rodopi. tr. 90–102. ISBN 9042008342.
  • Housley, Norman (1986). The Avignon Papacy and the Crusades, 1305–1378. Oxford University Press.
  • Jones, Michael (1995). “The Last Capetians and Early Valois Kings, 1314–1364”. Trong Michael Jones (biên tập). The New Cambridge Medieval History, c.1300–c.1415. 6. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 388–421.
  • Linehan, Peter (1995). “Castile, Navarre and Portugal”. Trong Michael Jones (biên tập). The New Cambridge Medieval History, c.1300–c.1415. 6. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 619–50.
  • Mahn-Lot, Marianne (1944). “Philippe d'Évreux, roi de Navarre, et un projet de croisade contre le royaume de Grenade (1329–1331)”. Bulletin Hispanique. 46 (2): 227–33. doi:10.3406/hispa.1944.2977.
  • Miranda García, Fermín (2003). Felipe III y Juana II de Evreux (bằng tiếng Tây Ban Nha). Pamplona: Editorial Mintzoa. ISBN 9788485891931.
  • Miranda García, Fermín (2016). “Felipe III de Navarra y el viaje de Granada”. Trong Carlos de Ayala Martínez; J. Santiago Palacios Ontalva; Martín Ríos Saloma (biên tập). Guerra santa y cruzada en el estrecho: El occidente peninsular en la primera mitad del siglo XIV. Madrid: Sílex.
  • Monter, William (2012). The Rise of Female Kings in Europe, 1300–1800. Yale University Press.
  • Mugueta Moreno, Íñigo; Tamburri Bariain, Pascual (2007). “Coronación juramentada: Navarra, 1329”. Príncipe de Viana. 68 (240): 169–90.
  • Mugueta Moreno, Íñigo (2007). “La nobleza en Navarra (siglos XIII–XIV): una identidad militar”. Iura Vasconiae. 4: 189–238.
  • O'Callaghan, Joseph F. (2011). The Gibraltar Crusade: Castile and the Battle for the Strait. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.
  • Rigaudière, Albert (1995). “The Theory and Practice of Government in Western Europe in the Fourteenth Century”. Trong Michael Jones (biên tập). The New Cambridge Medieval History, c.1300–c.1415. 6. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 17–41.
  • Rogers, Clifford J. (1999). The Wars of Edward III: Sources and Interpretations. Boydell and Brewer. ISBN 0851156460.
  • Setton, Kenneth M. (1976). The Papacy and the Levant, 1204–1571: The Thirteenth and Fourteenth Centuries. 1. Philadelphia: American Philosophical Society.
  • Sumption, Jonathan (1999). The Hundred Years War: Trial by Battle. 1. University of Pennsylvania Press. ISBN 0851156460.
  • TeBrake, William H. (1993). A Plague of Insurrection: Popular Politics and Peasant Revolt in Flanders, 1323–1328. Philadelphia: University of Pennsylvania Press.
  • Woodacre, Elena (2013). The Queens Regnant of Navarre: Succession, Politics, and Partnership, 1274-1512. Palgrave Macmillan. ISBN 978-1-137-33914-0.
  • Woodacre, Elena (2011). The Queen and her consort: succession, politics and partnership in the Kingdom of Navarre, 1274-1512 (Luận văn). Bath Spa University.
  • Viard, Jules (1922). “La guerre de Flandre (1328)”. Bibliothèque de l'École des chartes. 83: 362–82. doi:10.3406/bec.1922.448676.
Philippe III của Navarra
Nhánh thứ của Vương tộc Capet
Sinh: 27 March, 1306 Mất: 16 September, 1343
Tiền nhiệm
Louis
Bá tước xứ Évreux
1319–1343
Kế nhiệm
Charles
Tiền nhiệm
Charles I
Vua của Navarra
1328–1343
với Jeanne II
Kế nhiệm
Jeanne II
như sole ruler