Quân hàm Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân hàm của Quân đội nhân dân Việt Nam là biểu trưng thể hiện cấp bậc, ngạch bậc, quân chủng, binh chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.[1]

Quân hiệu Quân đội nhân dân Việt Nam

Hệ thống danh xưng các cấp bậc quân hàm của Quân đội nhân dân Việt Nam được đặt ra tương đối hoàn chỉnh từ năm 1946, mà nguyên thủy được tham chiếu theo hệ thống quân hàm của quân đội Nhật Bản, về kiểu dáng tham chiếu đến hệ thống quân hàm của Quân đội Pháp.

Năm 1958, hệ thống quân hàm của Quân đội nhân dân Việt Nam được hoàn chỉnh hơn, trong đó bổ sung cấp hàm Thượng tướng.

Giai đoạn 1982 - 1992 quân hàm Thượng tá bị bãi bỏ, theo đó những sĩ quan cấp Thượng tá được mặc nhiên nâng thành Đại tá.

Từ năm 1992 quân hàm thượng tá được khôi phục. Cho đến nay tuy có một số thay đổi nhỏ, nhưng nhìn chung đến nay hệ thống quân hàm trong Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng được hoàn chỉnh, hoàn mỹ và ổn định.

Một số khác biệt: Hệ thống Quân hàm trong Quân đội nhân dân Việt Nam không có quân hàm cấp Chuẩn tướng và Nguyên soái hoặc Thống tướng như ở quân đội một số nước khác. Ngược lại, các cấp Thượng tướng, Thượng tá hay Thượng úy của Việt Nam hiện nay lại không tồn tại trong quân đội nhiều nước trên thế giới.

Lịch sử hình thànhSửa đổi

• Năm 1946, Hệ thống danh xưng các cấp bậc quân hàm Việt Nam được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đặt ra tương đối hoàn chỉnh, mà nguyên thủy dựa theo hệ quy chiếu quân hàm của quân đội Nhật Bản, được quy định thành 5 cấp 15 bậc, áp dụng cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh, hệ thống này ít được áp dụng trừ một vài trường hợp cá biệt.

• Năm 1958, sau khi nắm được quyền kiểm soát miền Bắc Việt Nam, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cải tổ quân đội, lúc này đã mang tên Quân đội nhân dân Việt Nam, theo hướng chính quy chuyên nghiệp. Một hệ thống quân hàm mới được cải tiến được đặt ra, dựa theo hệ thống quân hàm của Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc (đã đặt ra trước đó 3 năm).

• 1959 - Hệ thống quân hàm cũng được áp dụng cho Lực lượng Công an nhân dân vũ trang.

• 1962 - Hệ thống cấp hàm được áp dụng cho Lực lượng Cảnh sát nhân dân.

• Tại miền Nam, Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam không áp dụng hệ thống quân hàm chính thức như Quân đội nhân dân Việt Nam tại miền Bắc mà sử dụng hệ thống cấp bậc riêng theo chức vụ nắm giữ. Tuy nhiên, điều này không ảnh hưởng nhiều đến khả năng chỉ huy trong tổ chức quân đội và các sĩ quan Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam hầu hết đều được phong cấp bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều này chỉ chấm dứt vào năm 1976, khi Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam sáp nhập hoàn toàn với Quân đội nhân dân Việt Nam.

• Năm 1982, cấp bậc tướng hải quân có tên gọi chính thức là cấp bậc Đô đốc. Cấp bậc Thượng tá bị bãi bỏ.

• Từ năm 1992 trở đi, danh xưng Thượng tá được khôi phục và hệ thống quân hàm Việt Nam được áp dụng ổn định cho đến ngày nay, chỉ có những sửa đổi về mặt hình thức.

• Quân hàm cấp Tướng được dệt với hình trống Đông Sơn và hình chim lạc từ năm 2008. Quân hàm cấp Úy, Tá được dệt với các đường chỉ như quân hàm cầu vai cấp Tướng kiểu cũ.

• Các cấp bậc quân hàm hiện tại của Việt Nam gồm 5 cấp 18 bậc được xếp từ cao xuống thấp: Đại tướng, Thượng tướng, Trung tướng, Thiếu tướng, Đại tá, Thượng tá, Trung tá, Thiếu tá, Đại úy, Thượng úy, Trung úy, Thiếu úy, Học viên, Thượng sĩ, Trung sĩ, Hạ sĩ, Binh nhất, Binh nhì.

• Cấp bậc Chuẩn úy bị bãi bỏ

• Với lực lượng Công an Nhân dân, hệ thống cấp hàm sử dụng tương tự như hệ thống quân hàm Quân đội nhân dân chỉ khác về màu sắc (Công an nền đỏ viền xanh lục, cấp tướng viền vàng), không dùng vạch kim loại mà dùng vạch tơ màu vàng, đối với sĩ quan & hạ sĩ quan nghiệp vụ vạch tơ màu xanh dương, chạy dọc cấp hiệu (xem bài Hệ thống cấp bậc Công an nhân dân Việt Nam).

Hệ thống quân hàm Quân đội nhân dân Việt NamSửa đổi

Theo Lệnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 32/2014/L-CTN ngày 09/12/2014, các cấp bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam được quy định như sau:

Quân hàm, ngoài cho ta rõ cấp bậc, còn phân biệt được quân chủng của quân nhân đang phục vụ, thông qua màu viền của quân hàm, đồng thời là màu nền của quân hàm học viên sĩ quan, thể hiện rõ các quân chủng:

  • Lục quân, Tác chiến không gian mạng và Bảo vệ Lăng: màu đỏ
  • Không quân và Phòng không: màu xanh da trời
  • Hải quân: màu tím than.
  • Màu nền của ba quân chủng trên là màu vàng, riêng hạ sĩ quan, binh sĩ màu hồng nhạt.
  • Quân hàm Bộ đội biên phòng có màu viền là màu đỏ tươi tương tự như Lục quân, Tác chiến không gian mạng và Bảo vệ Lăng, nhưng có màu nền xanh lá.
  • Quân hàm Cảnh sát biển có màu viền vàng và màu nền xanh lam.
  • Cấp tướng có thêu hình trống đồng.
Cấp Bậc Lục quân Hải quân Phòng không -

Không quân

Cảnh sát biển Biên phòng Tác chiến không gian mạng Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Sĩ quan Đại tướng
Thượng tướng/Đô đốc hải quân
Trung tướng/Phó Đô đốc hải quân
Thiếu tướng/Chuẩn Đô đốc hải quân
Đại tá
Thượng tá
Trung tá
Thiếu tá
Đại úy
Thượng úy
Trung úy
Thiếu úy
Học viên Học viên
Hạ sĩ quan Thượng sĩ
Trung sĩ
Hạ sĩ
Chiến sĩ Binh nhất
Binh nhì

Quân hàm quân nhân chuyên nghiệpSửa đổi

Quân hàm của Quân nhân chuyên nghiệp từ năm 2008 có 1 vạch tơ màu hồng chạy dọc cấp hiệu (trước năm 2008 là vạch kim loại hình chữ V) để phân biệt với sĩ quan chỉ huy. Cao nhất là Thượng tá và thấp nhất là Thiếu úy.

Cấp Bậc Lục quân Phòng không-Không quân Hải quân Bộ đội
Biên phòng
Cảnh sát biển Tác chiến Không gian Mạng Bảo vệ Lăng Hồ Chí Minh
Cấp Tá Thượng tá
Trung tá
Thiếu tá
Cấp Úy Đại úy
Thượng úy
Trung úy
Thiếu úy

Quân hàm cổ áo của Lục quânSửa đổi

  • Quân hàm Sĩ quan
  • Quân hàm hạ sĩ quan, học viên và chiến sĩ


Phù hiệu cổ áoSửa đổi

Cấp bậc Lục quân Phòng không-Không quân Hải quân Bộ đội
Biên phòng
Cảnh sát biển Tác chiến Không gian Mạng Bảo vệ Lăng Hồ Chí Minh
Sĩ quan cấp tướng
Sĩ quan cấp tá, úy
Hạ sĩ quan & chiến sĩ Không có phù hiệu

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi