Quốc hội Nhật Bản

quốc hội Nhật Bản

Quốc hội (国会 Kokkai?)lập pháp lưỡng viện của Nhật Bản. Quốc hội bao gồm Tham Nghị viện (tức Thượng viện) và Chúng Nghị viện (tức Hạ viện). Cả hai viện được bầu cử trực tiếp theo hệ thống bầu cử song song. Ngoài việc thông qua các đạo luật, Quốc hội có quyền lựa chọn Thủ tướng điều hành chính phủ. Quốc hội thành lập đầu tiên vào năm 1889, đó là kết quả của việc thông qua Hiến pháp thời Minh Trị. Hình thái Nghị viện như hiện nay xuất hiện khi việc thông qua hiến pháp thời hậu chiến (Chiến tranh thế giới thứ hai) và được Hiến pháp quy định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Quốc hội Nhật Bản
日本国の国会
Nippon-koku no Kokkai
Kỳ họp thứ 203
Huy hiệu hoặc biểu trưng
Dạng
Mô hình
Lưỡng viện
Các việnTham Nghị viện
Chúng Nghị viện
Lãnh đạo
Ōshima TadamoriLDP
Từ 21/4/2015
Santō AkikoLDP
Từ 1/8/2019
Cơ cấu
Số ghế710
Svgfiles House of Councillors Japan 20191010.svg
Chính đảng Tham Nghị việnChính phủ (141)
  Kōmeitō (28)

Đối lập (98):

  YP (2)
  Hekisuikai (2)

Độc lập (6):

  Độc lập (6)
Svgfiles House of Representatives Japan 20191001.svg
Chính đảng Chúng Nghị việnChính phủ (313):
  Kōmeitō (29)

Đối lập (145):

  Đảng Đổi mới, Hiệp hội độc lập (16)

Độc lập (7):

  Độc lập (6)
  Trống (1)
Bầu cử
Bầu cử Tham Nghị viện vừa qua21 tháng 7 năm 2019 (lần thứ 25)
Bầu cử Chúng Nghị viện vừa qua22 tháng 10 năm 2017 (lần thứ 48)
Trụ sở
Diet of Japan Kokkai 2009.jpg
Tòa nhà Quốc hội, Tokyo
Trang web
Tham Nghị viện – website chính thức
Chúng Nghị viện – website chính thức
Tòa nhà Quốc hội thời xưa
Phòng họp Nghị viện

Trụ sở Quốc hội nằm ở Nagatachō, Chiyoda, Tokyo. Chiếm vị trí quan trọng trong Nghị viện hiện nay là Đảng Dân chủ Tự do (LDP).

Lịch sửSửa đổi

Quốc hội theo Hiến pháp 1889Sửa đổi

Quốc hội lập pháp hiện đại đầu tiên của Nhật Bản là Đế quốc Nghị hội (帝国議会 Teikoku-gikai?) được thành lập theo Hiến pháp Minh Trị có hiệu lực từ 1889-1947. Hiến pháp Minh Trị được ban hành ngày 11/2/1889 và Đế quốc Nghị hội tổ chức phiên họp đầu tiên ngày 29/11/1890. Nghị hội gồm 2 viện là Chúng Nghị viện (Hạ viện) và Quý tộc viện (貴族院 Kizoku-in?) (Thượng viện).

Chúng Nghị viện có 376 đại biểu với nhiệm kỳ bốn năm được bầu trực tiếp. Cử tri phải là nam giới 25 tuổi trở lên, cư dân địa phương ít nhất là một năm và nộp thuế không dưới 10 yen. Tống cộng số cử tri vào đầu thế kỷ 20 là hơn một triệu[1] trên tổng số hơn 41 triệu dân (thống kê 1898).[2]

Quý tộc viện thiết lập tương tự như Viện Quý tộc của Anh bao gồm các quý tộc cao cấp nhưng phân ra ba hạng:[1]

  1. hạng kế thừa gồm hoàng tộc và giới công hầu,
  2. hạng bảo cử gồm các giới tử nam, nhiệm kỳ bảy năm
  3. hạng bổ nhiệm do mỗi phủ huyện đệ danh sách người đóng thuế cao nhất ở mỗi địa phương lên để thiên hoàng chọn, nhiệm kỳ bảy năm.

Số đại biểu trong Quý tộc viện gia giảm, không nhất định. Vào đầu thế kỷ 20 là 328 người.

Từ "Diet" bắt nguồn từ latin và chỉ chung các Hội đồng của Đế chế La Mã thần thánh. Hiến pháp Minh Trị được dựa theo chủ yếu từ chế độ quân chủ lập hiến của Phổ trong thế kỷ XIX, và "Diet" được mô hình hóa thành Reichstag và 1 phần hệ thống Westminster của Anh. Không giống với Hiến pháp sau thế chiến, Hiến pháp Minh trị quy định đặc quyền cao cấp của Thiên Hoàng, mặc dù theo thức tế quyền lực Thiên Hoàng được các Genrō (nguyên lão) tham vấn.

Để trở thành luật hoặc bộ luật cần có sự chấp thuận của 2 viện và Thiên Hoàng. Thiên Hoàng có quyền phủ quyết mọi luật hoặc bộ luật nếu ông cảm thấy không vừa ý. Thiên Hoàng có quyền lựa chọn Thủ tướng (Tổng lý) và Nội các, vì vậy Thủ tướng không được lựa chọn và nhận được sự tín nhiệm của Nghị hội. Nghị hội cũng bị giới hạn trong việc kiểm soát ngân sách. Nghị hội có quyền phủ quyết ngân sách hàng năm, nếu ngân sách không được phê chuẩn ngân sách của năm trước vẫn tiếp tục có hiệu lực. Điều này được thay đổi sau thế chiến II.

Thời kỳ Hoa Kỳ chiếm đóng 1945-1952Sửa đổi

Nhật Bản bại trận năm 1945 và bị Hoa Kỳ chiếm đóng với chủ ý giải thế thể chế độ quân phiệt. Tướng Douglas MacArthur được bổ làm Tư lệnh Tối cao (tiếng Anh: Supreme Commander of the Occupation forces; Liên hiệp quốc quân tối cao tư lệnh quan (連合国軍最高司令官?)). Hoa Kỳ cho rằng muốn hòa bình thì phải thiết lập nền dân chủ mới với những tự do căn bản (tuyển cử, ngôn luận), quyền lực phân tán và xã hội bình đẳng. Người Nhật phải hủy bỏ tư tưởng thần dân hoàng triều mà là công dân quốc gia nên điều kiện tiên quyết là phải soạn hiến pháp mới.

Chính phủ của thủ tướng Shidehara Kijuro nộp bản thảo của Hiến pháp mới lần đầu tiên ngày 8 Tháng Hai năm 1946 nhưng bị Hoa Kỳ bác bỏ vì cho là không có thay đổi gì mấy so với Hiến pháp 1889. Ngày 13 Tháng Hai Hoa Kỳ soạn bản khác và giao lại cho phái đoàn Nhật Bản duyệt lại. Nhật Bản ưng thuận. Văn kiện được hoàn tất vào công bố ngày 6 Tháng Ba rồi chuyển sang Quốc hội của Thủ tướng Yoshida Higeru bàn thảo và ủy ban hiến pháp nghiên cứu. Ngày 7 Tháng 10 Quốc hội thồng qua, chỉ có 5 phiếu chống. Thiên hoàng Hirohito thiết triều và chính thức ban hành bản Hiến pháp mới ngày 3 Tháng 11.[3]

Thành tựu chính của Hiến pháp mới là đặt quyền lực chủ chốt vào dân chúng Nhật, tức Quốc hội thay vì vua Nhật. Thiên hoàng vẫn giữ nguyên địa vị là biểu tượng quốc gia đoàn kết nhưng hoàn toàn không tham chính. Thay vào đó Quốc hội Nhật nắm vai trò tiên quyết do phổ thông đầu phiếu. Phụ nữ cũng có quyền đi bầu.

Hiến pháp 1947 giữ nguyên Chúng nghị viện nhưng loại bỏ Quý tộc viện mà thay vào đó Tham nghị viện 参議院 (sangiin?). So sánh quyền lực của hai viện lập pháp thì Chúng nghị viện nằm ưu thế.[4]

Hiến pháp 1947Sửa đổi

Mãi đến năm 1982 Quốc hội Nhật mới chứng kiến cải cách lần đầu sau khi ban hành, theo đó Tham Nghị viện được tổ chức lại; một số đại biểu từ địa phương, số còn lại theo liên danh toàn quốc.

Đại biểuSửa đổi

Các viện của Quốc hội được bầu theo hệ thống bầu cử song song. Mỗi ghế trong các cuộc bầu cử được chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm được bầu theo thể thức khác nhau. Các cử tri sẽ bỏ 2 phiếu, một phiếu cho ứng viên cá nhân và một phiếu cho danh sách đảng đại diện. Bất cứ cử tri nào trên 18 tuổi đều được tham gia bỏ phiếu.

  • Tham Nghị viện: Tổng số 242 đại biểu, 146 đại biểu được bầu từ 47 khu vực bầu cử theo hệ thống bầu cử lá phiếu duy nhất không chuyển nhượng được (SNTV). 96 đại biểu còn lại được bầu theo danh sách mở theo phương pháp đại diện tỉ lệ theo danh sách từ một danh sách bầu cử quốc gia.
  • Chúng Nghị viện: Tổng số 480 đại biểu, 300 đại biểu được bầu theo hệ thống bầu cử đa số. 180 đại biểu còn lại được bầu từ 11 khối bầu cử theo phương pháp hệ thống danh sách đảng đại diện tỷ lệ.

Hiến pháp Nhật Bản không quy định chi tiết về quy định bầu cử, mọi nguyên tắc bầu cử đều do Luật quyết định. Tuy nhiên, Hiến pháp vẫn tôn trọng quyền bình đẳng cho mỗi ứng viên và cử tri "không có sự phân biệt về chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, điều kiện xã hội, lý lịch gia đình, học vấn, tài sản và thu nhập."[5].

Điều kiện trở thành đại biểu:

  • Là công dân Nhật Bản;
  • Có độ tuổi trên 25 với Hạ viện và 30 với Thượng viện.

Chế độ đãi ngộ và đặc quyền của nghị sĩ:

  • Nhận lương bổng theo Ngân sách quốc gia và luật định[6]. Hiện tại theo quy định mỗi đại biểu được 1.3 triệu ¥/tháng.
  • Mỗi đại biểu có quyền miễn đóng thuế, vé tàu đi lại và 4 vé máy bay khứ hồi để có thể đi lại giữa địa phương.
  • Không phải chịu trách nhiệm pháp lý khi ra ngoài Quốc hội vì những bài diễn thuyết, cách thảo luận hay bỏ phiếu tại quốc hội.
  • Trừ trường hợp được pháp luật quy định, đại biểu không bị bắt trong khoá họp của Quốc hội.
  • Nếu đại biểu bị giam giữ trước khi khai mạc khoá họp thì sẽ được phóng thích để dự khoá họp theo yêu cầu của Quốc hội.

Nghị sĩ sẽ bị trục xuất nếu cần một nghị quyết với sự nhất trí của từ 2/3 tổng số đại biểu có mặt trở lên được thông qua.

Quyền hạnSửa đổi

Điều 41 Hiến pháp Nhật Bản quy định "Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước và cũng là cơ quan nhà nước duy nhất có quyền lập pháp". Quy định này trái ngược với Hiến pháp Minh Trị, trong đó quy định Thiên Hoàng là người thực hiện quyền lập pháp với sự chấp thuận của Quốc hội. Nhiệm vụ của Quốc hội không chỉ làm luật mà còn thông qua Ngân sách Quốc gia hàng năm do Chính phủ đệ trình và việc phê chuẩn các Hiệp ước quốc tế.

Quốc hội còn có quyền sửa đổi Hiến pháp, theo đó nếu được Quốc hội thông qua, để ban hành cần phải thông qua cuộc trưng cầu ý dân. Các viện có thể tiến hành "mở cuộc điều tra về hoạt động của Chính phủ, hỏi cung nhân chứng và kiểm tra các tài liệu". Thủ tướng được Quốc hội bầu ra thông qua một nghị quyết của Quốc hội. Công việc này phải được ưu tiên so với các hoạt động khác của Quốc hội. Nội các có thể bị giải tán bởi cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm do 50 nghị sĩ Chúng Nghị viện đề xuất. Thành viên Nội các và kể cả Thủ tướng có quyền tới các Viện bất cứ lúc nào để phát biểu ý kiến về dự luật, đồng thời phải có mặt để trả lời và giải thích các vấn đề khi cần thiết. Quốc hội còn có thẩm quyền thành lập Tòa án gồm nghị sĩ 2 Viện để xét xử các vị Thẩm phán.

Một dự luật để trở thành Luật ngoài cần có sự chấp thuận của Quốc hội, cần có sự ban hành của Thiên Hoàng. Vai trò Thiên Hoàng tương tự Quân chủ trong chế độ quân chủ các quốc gia khác, nhưng tại Nhật Bản Thiên Hoàng chỉ có quyền thông qua mà không được phép bác bỏ.

Trong Quốc hội, Chúng Nghị viện có quyền lực tương đối lớn. Chúng Nghị viện thường không thể bác bỏ dự luật dã được thông quan bởi Tham Nghị viện, nhưng Tham Nghị viện chỉ có quyền trì hoãn không thông qua dự luật hoặc ngân sách quốc gia hoặc hiệp ước đã được Chúng Nghị viện thông qua, đồng thời việc lựa chọn Thủ tướng bất kỳ của Chúng Nghị viện. Trong một số trường hợp Chúng Nghị viện thắng thế so với Tham Nghị viện:

  • Nếu Tham Nghị viện không đồng ý với một dự thảo luật mà Chúng Nghị viện đã thông qua thì văn kiện đó sẽ thành đạo luật nếu Chúng Nghị viện biểu quyết lần thứ hai với ít nhất 2/3 đại biểu có mặt thông qua.
  • Nếu Tham Nghị viện không biểu quyết trong 60 ngày kể từ ngày nhận dự luật do Chúng Nghị viện thông qua (trừ thời gian Tham Nghị viện ngừng họp), Hạ viện sẽ coi sự không biểu quyết này là sự phủ nhận.
  • Nếu Tham Nghị viện không đồng ý với một dự thảo luật mà Chúng Nghị viện đã thông qua thì văn kiện đó sẽ được thành đạo luật nếu Hạ viện biểu quyết lần thứ hai với ít nhất 2/3 đại biểu có mặt thông qua.
  • Vấn đề về ngân sách phải được Chúng Nghị viện biểu quyết trước. Khi thảo luận về vấn đề này, nếu Tham Nghị viện không đồng ý với Hạ viện, và nếu Ủy ban đại diện của cả hai Viện cũng không có được sự nhất trí hay Tham Nghị viện không thể đưa ra quyết định trong vòng 30 ngày sau khi Chúng Nghị viện thông qua, ngoại trừ thời gian ngừng họp, thì quyết định của Chúng Nghị viện sẽ là quyết định cuối cùng của Quốc hội.
  • Nếu 2 Viện không đạt được sự nhất trí và ủy ban chung của 2 viện cũng không đạt được sự nhất trí chung hoặc Tham Nghị viện không chỉ định được Thủ tướng trong vòng 10 ngày, tính cả thời gian ngừng họp, sau khi Chúng Nghị viện biểu quyết thông qua nghị quyết bầu Thủ tướng thì quyết định của Chúng Nghị viện sẽ là quyết định cuối cùng của Quốc hội.

Hoạt độngSửa đổi

Hiến pháp quy định "Quốc hội được triệu tập thường lệ mỗi năm một lần". Chúng Nghị viện được giải tán trước khi tổ chức tuyển cử, trong khi chờ tổng tuyển cử Tham Nghị viện thường nghỉ họp. Nhưng nếu trong trường hợp đất nước lâm nguy, Nội các có thể triệu tập phiên họp bất thường của Thượng viện.

Thiên Hoàng nhóm họp cả hai viện trước khi tuyên bố giải tán Chúng Nghị viện theo yêu cầu của Nội các. Trong trường hợp đặc biệt, Nội các có thể yêu cầu triệu tập phiên họp bất thường của Quốc hội. khi có yêu cầu của từ 1/4 tổng số đại biểu của 2 Viện, Nội các phải triệu tập phiên họp bất thường của Quốc hội. Vào phiên khai mạc kỳ họp, Thiên Hoàng đọc bài phát biểu tại Chúng Nghị viện.

Số đại biểu quy định tại mỗi khóa họp là 1/3 và trong các cuộc thảo luận hay biểu quyết các vấn đề thì có ít nhất 2/3 đại biểu tham dự. Mỗi Viện tự lựa chọn Nghị trưởng cũng như các viên chức cấp cao của mình.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Clement, Ernest W. A Handbook of Modern Japan. Detroit, MI: A C McClurg & Co, 1904. Tr 126-32
  2. ^ Clement, Ernest W. A Handbook of Modern Japan. Detroit, MI: A C McClurg & Co, 1904. Tr 49
  3. ^ "Japan's Postwar Constitution"
  4. ^ "Japan Explained, House of Councilors"
  5. ^ Điều 44 Hiến pháp Nhật Bản
  6. ^ Điều 49 Hiến pháp