Mở trình đơn chính

Quiin Abenakyo (sinh năm 1996) là một người mẫu và là một hoa hậu. Cô đã đăng quang cuộc thi sắc đẹp ở Uganda năm 2018.[1] Cô đại diện cho Uganda tại Miss World 2018 tại Trung Quốc và đăng quang Hoa hậu Thế giới Châu Phi 2018.[2] Tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2018, Abenakyo là người chiến thắng trong phần thử thách đối đầu của cuộc thi, và cô đã giành vị trí Á hậu 2 chung cuộc. Cô là người đầu tiên ở Uganda đạt thứ hạng cao nhất trong cuộc thi thường niên này.[3][4]

Quiin Abenakyo
Thông tin
Danh hiệuMiss Uganda 2018, Miss Africa 2018

Lý lịch và giáo dụcSửa đổi

Abenakyo được sinh ra ở quận Mayuge, vào tháng 2 năm 1996, có cha mẹ là người Nigeria, cha cô là Charles Sembera, người Musoga, đến từ quận Mayuge và mẹ cô là Alice Kyamulesire, người Mutooro, từ quận Kabarole.[5] Cô tốt nghiệp chuyên ngành kinh doanh điện tử, từ Trường Đại học Kinh tế Makerere.[3][4]

Cuộc thi Hoa hậu Nhật Bản 2018Sửa đổi

Trong cuộc thi Hoa hậu Uganda 2018, Abenakyo đã đánh bại 21 thí sinh khác để giành vương miện.[6] Cuộc thi được tổ chức tại khách sạn Kampala Sheraton. Giám khảo chính tại sự kiện là Zari Hassan, người cũng đóng vai trò là người hỗ trợ tổ chức cho cuộc thi sắc đẹp Hoa hậu Uganda.[1] Cô đã giành được một chiếc xe đa dụng nhỏ gọn của Toyota Wish.[1][2] Ngoài ra, Abenakyo, á hâu 1 và á hậu 2, lần lượt là Patience Martha Ahebwa và Trya Margach đã được trao học bổng của Trường Hàng không Uganda bao gồm khóa học đào tạo phi hành đoàn của hãng hàng không.[1][2]

Hoa hậu Thế giới 2018Sửa đổi

Abenakyo đại diện cho Uganda tại cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2018, được tổ chức tại Tam Á, Trung Quốc, vào tháng 12 năm 2018, đây là cuộc thi sắc đẹp quốc tế lâu đời nhất thế giới.[1][2] Trong phần thi đấu đối đầu, cô được ghép đôi với Hoa hậu Argentina Victoria Soto. Abenakyo đã nói về sự hỗ trợ của cô với một cô bé trong một chiến dịch mà cô gọi là "Chiến dịch chống mang thai ở tuổi vị thành niên". Cả ba vị giám khảo đã bình chọn cho cô, đưa cô vào Top 30 trong cuộc thi, và cô là thí sinh đầu tiên ở Uganda được xếp hạng cao nhất trong lịch sử cuộc thi sắc đẹp Hoa hậu Thế giới.[4] Cô đã đạt được thứ hạng trong top 5 và là thứ hạng cao nhất mà bất kỳ thí sinh người Uganda nào có thể đạt được tại Hoa hậu Thế giới.[7] Cô đăng quang Hoa hậu Thế giới Châu Phi [8]. Bộ trưởng du lịch hiện tại ở Uganda đã thông báo rằng chính phủ đang tranh cãi để đưa Quiin Abenakyo trở thành đại sứ du lịch của Uganda kể từ khi cô trở thành một trong những biểu tượng của hoa hậu thế giới sau khi kết thúcvới vị trí Á hậu 2 chung cuộc tại Miss World 2018, xếp trên cô là Vanessa Ponce của México (Hoa hậu Thế giới 2018), Nicolene Pichapa Limsnukan của Thái Lan (Á hậu 1), Kadijah Robinson của Jamaica (Á hậu 3) và Maria Vasilevich của Belarus (Á hậu 4).[9]

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c Uganda Online (ngày 11 tháng 8 năm 2018). “Quiin Abenankyo wins Miss Uganda 2018”. Kampala: Uganda Online. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  2. ^ a ă â b Mutebi, Agatha (ngày 11 tháng 8 năm 2018). “Quiin Abenakyo crowned Miss Uganda 2018-2019”. Kampala. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  3. ^ a ă Administrator. “Uganda makes it to Miss World finals for the first time”. Kampala. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2018. 
  4. ^ a ă â Kizza, Joseph (ngày 3 tháng 12 năm 2018). “How Uganda's Quiin Abenakyo made Miss World history”. Kampala. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2018. 
  5. ^ Mutegeki, Geoffrey (ngày 27 tháng 12 năm 2018). “Miss World Africa Quiin Abenakyo excites Fort Portal”. Kampala. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019. 
  6. ^ Oluka, Esther (ngày 11 tháng 8 năm 2018). “22-year-old Quinn Abenakyo crowned Miss Uganda”. Kampala. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2018. 
  7. ^ Bwire, Job (ngày 8 tháng 12 năm 2018). “Uganda’s Abenakyo crowned Miss World Africa”. Kampala. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2018. 
  8. ^ “Ugandan crowned 2018 Miss World Africa”. Ngày 8 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2018. 
  9. ^ Kizza, Joseph (ngày 20 tháng 12 năm 2018). “Abenakyo to girls: Believe in yourself, stay in school”. Kampala. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019. 

Liên kết ngoàiSửa đổi