Khenemetibamun Shepenupet I[1] (hay Shepenwepet I)[2] là một công chúa thuộc Vương triều thứ 23 trong lịch sử Ai Cập cổ đại.

Shepenupet I
Karnak Chepenoupet I.jpg
Phù điêu của Shepenupet I và nữ thần Hathor tại Karnak
Người vợ thần thánh của Amun
Tiền nhiệmKaromama Meritmut
Kế nhiệmAmenirdis I
Thông tin chung
Hậu duệAmenirdis I (con nuôi)
Tên đầy đủ
Khenemetibamun (tên ngai)
Người có trái tim của Amun
<
imn
n
G17W9F34
>


Shepenupet (tên riêng)
<
G14N36N37
p Z9
F13
>
Thân phụOsorkon III
Thân mẫuKaroadjet

Tiểu sửSửa đổi

Shepenupet I là con gái của pharaon Osorkon III và vương hậu Karoadjet[3]. Bà là chị em cùng cha với các pharaon là Takelot IIIRudamun. Bà là nữ tư tế đầu tiên sử nắm quyền kiểm soát Thebes và các vùng lân cận. Vì thế các tên hoàng gia của công chúa được đặt trong khung vỏ đạn. Shepenupet I cũng là người duy nhất giữ phong hiệu "Nữ chúa của hai vùng đất"[4].

Shepenupet I đã được phong danh hiệu "Người vợ thần thánh của Amun" trong thời gian trị vì của cha mình. Khi Kashta, quốc vương của Kush, mở rộng lãn thổ đến Thebes, nhà vua đã buộc Shepenupet phải nhận công chúa Amenirdis I con ông làm người kế vị của bà[2]. Shepenupet và Amenirdis được khắc họa cùng nhau tại Wadi Gasus[5].

Shepenupet I vẫn còn sống dưới thời trị vì của pharaon Shebitku (Vương triều thứ 25) dựa trên các bức phù điêu của bà cùng Amenirdis tại đền Osiris-Héqadjet[6][7].

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Jürgen von Beckerath (1999), Handbuch der Ägyptischen Königsnamen (tiếng Đức), Mainz am Rhein, Von Zabern, tr.198-199 ISBN 3-8053-2591-6
  2. ^ a ă Michael Rice (2002), Who's who in ancient Egypt, Nhà xuất bản Routledge, tr.189 ISBN 9781134734207
  3. ^ Aidan Dodson & Dyan Hilton (2004), The Complete Royal Families of Ancient Egypt, Thames & Hudson, tr.226-227 ISBN 0-500-05128-3
  4. ^ László Török: The Kingdom of Kush: Handbook of the Napatan-Meroitic Civilization, tr.148 ISBN 90-04-10448-8
  5. ^ Dodson & Hilton, sđd, tr.231
  6. ^ F. Payraudeau (2014), Retour sur la succession Shabaqo-Shabataqo, Nehet 1, tr.115-127
  7. ^ “Joe Baker (2005)”.