Mở trình đơn chính

South Park là bộ phim hài kịch tình huống hoạt hình dành cho người lớn của Mỹ do Trey ParkerMatt Stone sáng tạo ra và được phát triển bởi Brian Graden dành cho kênh truyền hình Comedy Central. Bộ phim xoay quanh bốn cậu bé—Stan Marsh, Kyle Broflovski, Eric Cartman, và Kenny McCormick—cùng những tình huống xảy ra với họ tại thị trấn South Park, Colorado. Bộ phim nổi tiếng vì sử dụng từ ngữ tục tĩuhài kịch đen, hài hước siêu thực với nội dung châm biếm về nhiều chủ đề khác nhau hướng tới khán giả trưởng thành.

South Park
Tập tin:South Park main characters.png
Các nhân vật chính. Theo chiều kim đồng hồ từ trái sang: Cartman, Kenny, Kyle, và Stan
Thể loạiHài kịch tình huống hoạt hình
Sáng lập
Phát triểnBrian Graden
Lồng tiếng
Hòa âm, phối khíPrimus
Phụ hòa âm
  • Adam Berry
  • Scott Nickoley
  • Jamie Dunlap
Quốc giaHoa Kỳ
Ngôn ngữTiếng Anh
Số mùa23
Số tập305 (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Giám đốc sản xuất
Nhà sản xuấtVernon Chatman
Thời lượng22 phút[1]
Công ty sản xuất
  • Celluloid Studios (1997)
  • Braniff Productions (1997–2006)
  • Parker-Stone Productions (2006–2007)
  • South Park Studios (2007–nay)
  • Comedy Partners
Nhà phân phốiViacomCBS Domestic Media Networks
Trình chiếu
Kênh trình chiếuComedy Central
Định dạng hình ảnhNguyên gốc:
480i (4:3 SDTV) (1997–2008)
1080i (16:9 HDTV) (2009–nay)
Các tập được chỉnh lại:
1080i (16:9 HDTV) (Mùa 1–12)
Định dạng âm thanhDolby Surround 2.0 (Mùa 1-11)
Dolby Digital 5.1 (Mùa 12-nay)
Phát sóng13 tháng 8, 1997 (1997-08-13) – nay
Thông tin khác
Chương trình trướcThe Spirit of Christmas
Liên kết ngoài
Trang chủ

Parker và Stone phát triển phim từ phim ngắn The Spirit of Christmas, bao gồm hai video ngắn khác nhau. Một trong các video ngắn trên trở thành một trong những video lan truyền nhanh đầu tiên trên Internet, khởi nguồn cho việc sản xuất South Park. Tập phim thử nghiệm được sản xuất bằng phương pháp cắt giấy, và kể từ đó tất cả các tập phim được sản xuất trên máy tính mô phỏng phương pháp cắt giấy. South Park có sự tham gia của một dàn diễn viên đông đảo gồm nhiều nhân vật định kỳ lên sóng.

Kể từ khi ra mắt vào ngày 13 tháng 8 năm 1997, 305 tập phim của South Park đã được phát sóng. Phim ra mắt với thành công vang dội khi liên tục nhận được điểm đánh giá cao nhất so với các chương trình truyền hình cáp cơ bản khác. Các tập phát sóng sau này có phần không ổn định như ban đầu, tuy nhiên đây vẫn là một trong các chương trình có điểm đánh giá cao nhất của Comedy Central.[2] Kể từ năm 2000, mỗi tập phim được viết kịch bản và sản xuất ngay trong tuần lễ trước tuần lễ lên sóng, trong đó Parker là nhà biên kịchđạo diễn chính.[2] Mùa thứ hai mươi ba được mở màn vào ngày 25 tháng 9 năm 2019.[3]

South Park đã nhận được nhiều giải thưởng, trong đó có năm Giải Primetime Emmy, một Giải Peabody, và nằm trong nhiều danh sách chương trình truyền hình vĩ đại nhất của nhiều hãng xuất bản. Phim chiếu rạp South Park: Bigger, Longer & Uncut được trình chiếu lần đầu vào tháng 6 năm 1999 và đạt được thành công cả về phê bình và doanh thu, đồng thời được đề cử một Giải Oscar. Vào năm 2013, TV Guide xếp South Park là phim hoạt hình truyền hình vĩ đại nhất mọi thời đại.[4]

Tổng quanSửa đổi

Bối cảnh và nhân vậtSửa đổi

Bộ phim xoay quanh bốn cậu bé, Stan Marsh, Kyle Broflovski, Eric CartmanKenny McCormick. Các cậu bé sống tại một thị trấn nhỏ South Park, nằm trong khu vực South Park ngoài đời thực thuộc dãy núi Rocky ở trung tâm Colorado.[5] Thị trấn cũng là nơi ở của các nhân vật thường xuyên xuất hiện như các học sinh, các gia đình, nhân viên trường tiểu học, và nhiều cư dân khác. Những người này thường nhận xét South Park là một nơi cực kỳ tẻ nhạt và ít náo nhiệt.[6] Các bối cảnh chính trong phim là trường tiểu học, bến xe buýt, các khu phố khác nhau và phong cảnh tuyết xung quanh, các địa danh Colorado trong thực tế, và các cửa hàng và công ty dọc theo con phố chính của thị trấn, tất cả đều dựa trên hình dáng của các địa điểm tương đương ở Fairplay, Colorado.[5][6]

Tập tin:South Park.png
Hình ảnh tựa đề South Park với bốn nhân vật chính và hầu hết các nhân vật thường trực, nhân vật phụ ở đằng sau

Stan là nhân vật "bình thường" nhất trong nhóm bạn,[7] khi được website của phim miêu tả là một "học sinh lớp 4 Mỹ trung bình".[8] Kyle là người Do Thái duy nhất trong nhóm, và vai diễn của cậu trong vai trò là một người Do Thái thường được sử dụng với ý đồ châm biếm.[7] Stan lấy hình mẫu từ Parker, trong khi Kyle lấy hình mẫu từ Stone. Họ là hai người bạn thân nhất của nhau, và mỗi quan hệ này, tượng trưng cho tình bạn của Parker và Stone,[9] là một chủ đề xuyên suốt loạt phim. Eric Cartman (thường được các bạn bè gọi bằng họ là Cartman) là một cậu bé ồn ào, đáng ghét và vô đạo đức, thường đóng vai phản diện. Tư tưởng bài Do Thái của cậu đã dẫn đến một cuộc cạnh tranh với Kyle, mặc dù lý do sâu xa là sự xung đột mạnh mẽ giữa tính cách tôn trọng đạo đức của Kyle và sự đối lập của Cartman.[7][10] Kenny, xuất thân từ một gia đình nghèo, thường mặc một chiếc áo parka có mũ trùm kín đầu che gần hết khuôn mặt và làm giọng nói của cậu bị biến dạng. Trong năm mùa phát sóng đầu tiên của phim, gần như tập nào Kenny cũng chết, nhưng luôn trở lại ở tập sau một cách không thể giải thích. Cậu không xuất hiện trong phần lớn mùa 6 năm 2002, và chỉ quay lại ở tập cuối mùa 6. Kể từ đây, việc Kenny bị chết đã không còn được các tác giả của chương trình sử dụng nữa. Trong 58 tập phim đầu tiên, các cậu bé đang học lớp ba. Trong tập "4th Grade" của mùa 4 (2000), các cậu được lên lớp bốn và giữ nguyên như vậy kể từ đó.[11][12]

Cốt truyện thường được bắt đầu bởi các sự kiện, từ các sự kiện khá điển hình cho đến các sự kiện siêu nhiên và phi thường, những sự kiện mà thường xảy ra trong thị trấn.[13] Các cậu bé thường đóng vai trò là tiếng nói của lý trí khi những sự kiện này khiến các nhân vật người lớn tỏ ra hoảng loạn hoặc hành động thiếu kiểm soát. Các nhân vật người lớn thường được miêu tả là những người vô lý, cả tin và hay làm quá mọi chuyện lên.[5][14] Các cậu bé cũng thường bối rối trước những hành vi đầy mâu thuẫn và đạo đức giả của cha mẹ chúng và những người lớn khác, và cho rằng họ có quan điểm lệch lạc về đạo đức và xã hội.[6][15]

Chủ đề và phong cáchSửa đổi

Mỗi tập phim đều mở đầu bằng một lời phủ nhận hài hước: "Tất cả các nhân vật và sự kiện trong chương trình này, ngay cả những nhân vật và sự kiện dựa trên người thật đều là hư cấu. Tất cả giọng lồng tiếng cho người nổi tiếng đều đươc làm giả.....một cách tệ hại. Chương trình sau đây chứa ngôn ngữ thô tục và vì lý do nội dung của nó nên đừng ai xem chương trình này." ("All characters and events in this show—even those based on real people—are entirely fictional. All celebrity voices are impersonated.....poorly. The following program contains coarse language and due to its content it should not be viewed by anyone.")[16][17]

South Park là chương trình hàng tuần đầu tiên bị dán nhãn TV-MA (chỉ dành cho người trên 17 tuổi),[18] và nói chung là hướng tới đối tượng khán giả trưởng thành.[19][20][21] Các cậu bé và hầu hết các nhân vật nhỏ tuổi khác đều sử dụng từ ngữ thô tục và chỉ với những từ cấm kỵ nhất mới bị che đi khi phát sóng.[6] Parker và Stone cho rằng đây là cách mà những cậu bé ngoài đời thực nói chuyện với nhau khi không có ai ở bên cạnh làm phiền chúng.[22][23]

South Park thường sử dụng các hình ảnh náo động và vô lý,[24] những trò đùa hài hước lặp đi lặp lại (running gag),[25][26] các hình ảnh bạo lực máu me,[26][27] nội dung tình dục,[28][29] lồng ghép các yếu tố văn hóa đại chúng, và châm biếm các nhân vật nổi tiếng.[30]

Các tập phim đầu tiên chủ yếu hướng đến các giá trị gây sốc và sử dụng phong cách hài hước slapstick (phong cách làm quá sự việc lên).[31] Mặc dù chủ đề châm biếm xã hội đã được sử dụng không thường xuyên trong chương trình kể từ khi bắt đầu, tuy nhiên theo thời gian phong cách châm biếm này trở thành phong cách chủ đạo của phim. Những người sản xuất chương trình vẫn tập trung vào cách các cậu bé sử dụng những trò đùa kiểu toilet humor (đùa cợt về việc đi vệ sinh hay nôn mửa) để nhắc nhở người lớn về "một đứa trẻ tám tuổi là như thế nào."[7] Parker và Stone cũng bắt đầu phát triển các nhân vật khác bằng cách cho họ có thêm đất diễn trong một số cốt truyện cụ thể,[7] và viết cốt truyện theo kiểu ngụ ngôn dựa trên tôn giáo, chính trị, và các chủ đề khác.[6] Điều này tạo cơ hội cho chương trình thể hiện cả hai mặt cực đoan của các vấn đề gây tranh cãi,[32] đồng thời châm biếm cả hai góc nhìn của phe tự do lẫn phe bảo thủ.[6][14][33] Parker và Stone nhận xét họ là "những kẻ lăng mạ bình đẳng" (equal opportunity offenders)[13] với mục đích chính là thể sự hài hước và mang tiếng cười tới mọi người,[34][35] đồng thời khẳng định rằng không một chủ đề hay một nhóm người nào không thể bị châm biếm hay chế nhạo.[14][30][36][37][38]

Parker và Stone nhấn mạnh rằng chương trình vẫn tập trung vào ý tưởng rằng "trẻ con là trẻ con" và "những gì diễn ra tại [trường tiểu học] ở Mỹ.[39] Họ cho rằng việc đưa vào yếu tố châm biếm hơn cho bộ phim là kết quả của sự chuyển hướng sang "các yếu tố đạo đức" sao cho chương trình ít phụ thuộc vào việc sự thô tục và các giá trị gây sốc, qua đó duy trì một lượng khán giả nhất định.[34][35] Bất chấp ngôn ngữ sử dụng trong phim có phần tục tĩu, Parker lưu ý rằng vẫn có một sự "ngọt ngào tiềm ẩn" của các nhân vật nhỏ tuổi,[32] trong khi tạp chí Time nhận xét rằng các cậu bé "đôi khi tàn nhẫn nhưng sâu bên trong là sự ngây thơ."[9] Thông thường, các cậu bé hoặc các nhân vật khác suy ngẫm về những gì đã diễn ra trong một tập phim và truyền đạt bài học quan trọng sau khi mọi chuyện kết thúc bằng một đoạn độc thoại ngắn. Trong những mùa phát sóng đầu tiên, đoạn độc thoại thường bắt đầu bằng câu "Các bạn biết đấy, hôm nay mình đã học được điều gì đó...".[40]

Phát triểnSửa đổi

 
Những người sáng tạo ra South ParkTrey Parker (trái) và Matt Stone liên tục viết kịch bản, đạo diễn và lồng tiếng cho bộ phim

Parker và Stone gặp nhau ở lớp dạy điện ảnh tại Đại học Colorado vào năm 1992. Họ đều là những người yêu thích phim hài của Monty Python, và coi đây là nguồn cảm hứng chính cho các tác phẩm của hai người.[41] Sau đó họ làm một phim ngắn với tựa đề The Spirit of Christmas.[25] Bộ phim được tạo ra bằng cách sử dụng kỹ thuật hoạt hình tĩnh vật với giấy bìa, minh họa các nguyên mẫu của các nhân vật chính trong South Park, trong đó có một nhân vật giống Cartman nhưng lại tên là "Kenny", một nhân vật không tên trông giống Kenny, và hai nhân vật khác trông giống Stan và Kyle. Giám đốc của Fox Broadcasting Company (FOX) là Brian Graden ủy quyền cho Parker và Stone tạo ra một bộ phim ngắn thứ hai dưới dạng video Giáng Sinh. Phim ngắn thứ hai ra đời năm 1995, The Spirit of Christmas, có phần giống với loạt phim hoạt hình sau này hơn.[42] Để phân biệt giữa hai phim ngắn cùng tên, phim ngắn thứ nhất thường được gọi là Jesus vs. Frosty, và phim còn lại là Jesus vs. Santa. Graden đã gửi các bản sao của video cho một số bạn bè của anh và từ đó nó được sao chép và phân phối, kể cả trên Internet, và trở thành một trong những video viral đầu tiên.[25][43]

Sau khi Jesus vs. Santa trở nên nổi tiếng, Parker và Stone bắt đầu thảo luận về việc phát triển phim ngắn trên thành một bộ phim truyền hình xoay quanh bốn đứa trẻ sống tại một thị trấn giả tưởng của Colorado. FOX tỏ ra rất háo hức được gặp Parker và Stone về sự khởi đầu của chương trình và tự tin sẽ đạt được thành công như trước đó với Cops, The Simpsons, và Hồ sơ tuyệt mật. Tuy vậy, trong cuộc họp ở trụ sở FOX tại Century City, đài truyền hình và hai nhà sáng tạo của show bắt đầu có những bất đồng, trong đó chủ yếu liên quan tới việc FOX từ chối phát một chương trình có một nhân vật là một cục phân biết nói (Mr. Hankey). Một số giám đốc của 20th Century Fox Television (đơn vị dự kiến sẽ sản xuất chương trình) đồng ý với lập trường của FOX về Mr. Hankey liên tục yêu cầu Parker và Stone loại bỏ nhân vật này để chương trình được tiến hành. Sau khi từ chối yêu cầu của kênh, cả hai đã cắt đứt quan hệ với FOX và các công ty con của đơn vị này và bắt đầu chuyển hướng đến một công ty khác.[44][45][46]

Cả hai sau đó bắt đầu đàm phán với MTVComedy Central. Parker muốn hợp tác với Comedy Central hơn vì sợ MTV sẽ lại biến ý tưởng của họ thành một chương trình cho trẻ em.[47] Khi giám đốc của Comedy Central là Doug Herzog xem đoạn phim ngắn, ông ủy thác cho hai người phát triển nó thành một series phim.[25][48] Parker và Stone tập hợp một đội ngũ nhân viên nhỏ và dành ba tháng để tạo ra tập phim thử nghiệm mang tên "Cartman Gets an Anal Probe".[49] South Park có nguy cơ bị hủy trước khi nó lên sóng khi chương trình không làm hài lòng khán giả thử nghiệm, đặc biệt là phụ nữ. Tuy nhiên, đoạn phim ngắn vẫn ngày càng phổ biến hơn trên Internet và Comedy Central quyết định sẽ đầu tư vào sáu tập phim.[34][47] South Park debuted with "Cartman Gets an Anal Probe" on August 13, 1997.[50]

Sản xuấtSửa đổi

Ngoại trừ tập phim thử nghiệm đầu tiên được sản xuất bằng phương pháp hoạt hình cắt giấy, tất cả các tập phim của South Park được tạo ra bằng máy tính, chủ yếu là bằng phần mềm Autodesk Maya. Mặc dù tập phim thử nghiệm mất ba tháng để hoàn thành,[51] tuy nhiên các tập phim sau đó của South Park cần ít thời gian hơn nhiều. Bằng cách sử dụng máy tính, đội ngũ sản xuất chỉ mất khoảng ba tuần cho mỗi tập phim trong mùa đầu tiên.[52] Hiện nay với nhóm sản xuất khoảng 70 người, các tập phim thường chỉ mất một tuần để hoàn tất,[25][32][33] thậm chí một số tập chỉ từ ba tới bốn ngày.[53][54][55] Gần như toàn bộ quá trình sản xuất một tập phim được hoàn thành trong một nhóm các văn phòng, ban đầu là tại một tổ hợp ở Westwood, Los Angeles, California, và nay là một phần của South Park Studios ở Culver City, California.[48][51] Parker và Stone là nhà sản xuất điều hành trong suốt toàn bộ lịch sử của chương trình.[56] Debbie Liebling, người từng là Senior Vice President của bộ phận lập trình và phát triển ban đầu của Comedy Central, cũng đóng vai trò nhà sản xuất điều hành trong 5 mùa phát sóng đầu tiên của show, điều phối các công việc sản xuất của chương trình giữa South Park Studios và trụ sở của Comedy Central tại Thành phố New York.[57][58]

Tập tin:Elianandkenny.jpg
Vụ việc của cậu bé Elián González được nhắc đến trong tập phim "Quintuplets 2000", vốn được lên sóng ngay trong tuần lễ xảy ra vụ việc.

Kịch bản không được viết trước khi mùa phát sóng mới bắt đầu.[59] Việc sản xuất một tập phim bắt đầu vào ngày Thứ Năm khi các cố vấn của chương trình động não cùng Parker và Stone về chủ đề của tập phim. Các cựu tác giả kịch bản của chương trình bao gồm Pam Brady, người sau đó soạn kịch bản cho Hot Rod, Hamlet 2Team America: World Police (viết chung với Parker và Stone), và Nancy Pimental, người gắn bó với South Park trong ba mùa đầu tiên, sau này trở thành đồng dẫn chương trình Win Ben Stein's Money và viết kịch bản cho phim The Sweetest Thing.[60][61] Nhà sản xuất và biên kịch Norman Lear, thần tượng của cả Parker và Stone, đóng vai trò là cố vấn khách mời trong các tập phim của mùa bảy (2003) như "Cancelled" và "I'm a Little Bit Country".[59][62][63] Trong các mùa phát sóng 12 và 13, diễn viên và biên kịch của Saturday Night LiveBill Hader đóng vai trò là cố vấn sáng tạo và nhà sản xuất.[64][65][66]

Sau khi trao đổi các ý tưởng với nhau, Parker sẽ là người viết một kịch bản, và từ đó toàn bộ đội ngũ làm phim hoạt hình, biên tập, kỹ thuật viên và kỹ sư âm thanh, mỗi người thường sẽ làm việc từ 100-120 giờ trong tuần tiếp theo.[49] Kể từ mùa bốn (2000), Parker đảm nhận hầu hết các nhiệm vụ đạo diễn chương trình, trong khi Stone từ bỏ công việc đạo diễn để tập trung vào điều hòa công việc nhóm và quản lý kinh doanh trong quá trình sản xuất phim.[25][67] Vào ngày Thứ Tư, tập phim hoàn chỉnh sẽ được gửi đến trụ sở của Comedy Central thông qua đường truyền vệ tinh, có khi chỉ vài giờ trước khi phát sóng vào lúc 10 giờ tối ET.[25][68]

Parker and Stone nói rằng việc tuân thủ thời hạn một tuần lễ để sản xuất sẽ tạo ra tính bột phát nhiều hơn trong nhóm sản xuất, điều mà họ cảm thấy sẽ giúp chương trình hài hước hơn.[25] Lịch làm việc như vậy cũng giúp South Park có thể cùng một lúc tập trung vào chủ đề và phản ứng nhanh hơn với các sự kiện thời sự cụ thể nhanh hơn các chương trình hoạt hình châm biếm khác.[7][69] Một trong những ví dụ sớm nhất về nguyên tắc này là trong tập "Quintuplets 2000" của mùa bốn. Tập phim này nhắc tới cuộc đột kích của Lực lượng Tuần tra Biên phòng Hoa Kỳ vào một ngôi nhà trong vụ việc liên quan tới Elián González, một sự kiện xảy ra chỉ bốn ngày trước khi tập phim lên sóng.[70] Tập "Best Friends Forever" của mùa 9 (2005) nhắc tới vụ án của Terri Schiavo,[23][32] và được phát sóng lần đầu khi những tranh cãi vẫn còn tiếp diễn và chỉ 12 giờ trước khi người phụ nữ này qua đời.[33][71] Trong tập cuối mùa 7 mang tên "It's Christmas in Canada" (2003), phim nhắc tới việc tìm thấy nơi ẩn nấp của Saddam Hussein cùng việc bắt giữ ông, xảy ra chỉ ba ngày trước khi tập phim lên sóng.[72] Tập "About Last Night..." của mùa 12 (2008) xoay quanh chiến thắng của Barack Obama trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2008, và phát sóng chỉ 24 giờ sau khi Obama trở thành người thắng cử, đồng thời sử dụng nhiều đoạn phát biểu chiến thắng của Obama.[73]

Vào ngày 16 tháng 10 năm 2013, chương trình lần đầu tiên không hoàn thành việc sản xuất theo đúng lịch do sự cố mất điện xảy ra trước đó vào ngày 15, khiến tập "Goth Kids 3: Dawn of the Posers" của mùa 17 không hoàn thành đúng hạn. Tập phim phải dời lịch phát sang ngày 23 tháng 10 năm 2013.[74] Vào tháng 7 năm 2015, South Park được gia hạn hợp đồng tới năm 2019; đưa chương trình kéo dài tới mùa thứ 23 với 307 tập phát sóng.[75][76][77] Vào ngày 12 tháng 9 năm 2019, chương trình được gia hạn thêm ba mùa từ mùa 24 tới mùa 26 vào năm 2022.[2]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Lake, Dave (2009). “The 10 Most Controversial 'South Park' Episodes”. MSN TV. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2011. 
  2. ^ a ă â "South Park" Renewed Through Historic 26th Season”. The Futon Critic. 12 tháng 9 năm 2019. 
  3. ^ Nissen, Dano (18 tháng 7 năm 2019). “TV News Roundup: Comedy Central Sets 'South Park' Season 23 Premiere Date”. Variety. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  4. ^ “TV Guide Magazine's 60 Greatest Cartoons of All Time”. 24 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2016. 
  5. ^ a ă â Griffiths, Eric (21 tháng 6 năm 2007). “Young offenders”. New Statesman. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  6. ^ a ă â b c d Heffernan, Virginia (28 tháng 4 năm 2004). “Critic's Notebook; What? Morals in 'South Park'?”. The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  7. ^ a ă â b c d Jaime J. Weinman (12 tháng 3 năm 2008). “South Park grows up”. Macleans.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010. 
  8. ^ “Character Guide: Stan Marsh”. South Park Studios. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012. 
  9. ^ a ă Jeffrey Ressner & James Collins (23 tháng 3 năm 1998). “Gross And Grosser”. Time. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  10. ^ Rovner, Julie (5 tháng 4 năm 2008). “Eric Cartman: America's Favorite Little $@#&*%”. NPR. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2008. 
  11. ^ “FAQ: When will the boys be in the fifth grades?”. South Park Studios. 11 tháng 1 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012. 
  12. ^ “FAQ: Are the boys still in 4th grade?”. South Park Studios. 8 tháng 10 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012. 
  13. ^ a ă Raphael, Rebecca (22 tháng 5 năm 1998). “Who is Andrew Philip Kyle?”. New Voices. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2009. 
  14. ^ a ă â William Cohen (4 tháng 11 năm 2005). “Respect Its Authoritah!”. The Cornell Review. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009. 
  15. ^ Randy Fallows (tháng 1 năm 2002). “The Theology of South Park”. The Institute for the Study of American Popular Culture. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  16. ^ Fagin, Barry S. (tháng 5 năm 2000). “Goin' Down to South Park: How kids can learn from 'vile trash'. Reason (Reason.com). 
  17. ^ “Show Disclaimer – South Park Studios”. South Park Studios. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2008. 
  18. ^ Antonacci, Christopher (12 tháng 12 năm 1997). “South Park stirs up controversy, laughs”. www.collegian.psu.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2004. 
  19. ^ Carter, Bill (10 tháng 11 năm 1997). “Comedy Central makes the most of an irreverent, and profitable, new cartoon hit”. The New York Times. 
  20. ^ Huff, Richard (16 tháng 4 năm 1998). “South Park's still top dog on basic cable”. New York: www.nydailynews.com. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2012. 
  21. ^ Sylvia Rubin (26 tháng 1 năm 1998). “TV 's Foul-Mouthed Funnies”. San Francisco Chronicle. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2012. 
  22. ^ Bernstein, Abbie (27 tháng 10 năm 1998). “South Park – Volume 2”. AVRev.com. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2013. 
  23. ^ a ă Jake Trapper & Dan Morris (22 tháng 9 năm 2006). “Secrets of 'South Park'. ABC News. 
  24. ^ Johnson-Woods 2007, tr. 89–103
  25. ^ a ă â b c d đ e Devin Leonard (27 tháng 10 năm 2006). “South Park creators haven't lost their edge”. CNN. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  26. ^ a ă Blacker, Terence (5 tháng 1 năm 1999). “Crude, violent – but quite brilliant – Arts & Entertainment – The Independent”. London: www.independent.co.uk. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  27. ^ “The growth of trash TV concerns media watchers”. The Augusta Chronicle. 5 tháng 5 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  28. ^ Acosta, Belinda (17 tháng 8 năm 2001). “Screens: TV Eye”. The Austin Chronicle. www.austinchronicle.com. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  29. ^ Kiesewetter, John (20 tháng 5 năm 1998). “South Park' way crude for kids”. www.enquirer.com. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009. 
  30. ^ a ă Dennis Lim (29 tháng 3 năm 1998). “Television: Lowbrow and proud of it”. independent.co.uk (London). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2009. 
  31. ^ Kligman, David (1 tháng 3 năm 1998). “South Park: Funny, crude ... and a trendy favorite”. The Augusta Chronicle. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  32. ^ a ă â b Frazier Moore (14 tháng 12 năm 2006). “Loud and lewd but sweet underneath”. The Age (Melbourne). Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2009. 
  33. ^ a ă â Hancock, Noelle (24 tháng 3 năm 2006). “Park Life”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  34. ^ a ă â McFarland, Melanie (1 tháng 10 năm 2006). “Social satire keeps 'South Park' fans coming back for a gasp, and a laugh”. Seattle Post-Intelligencer. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  35. ^ a ă Wilonsky, Robert (26 tháng 7 năm 2001). “It Happens”. www.browardpalmbeach.com. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  36. ^ McFarland, Melanie (29 tháng 9 năm 2006). “Oh my God, 'South Park' killed a decade!”. Seattle Post-Intelligencer. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  37. ^ Frank Rich (1 tháng 5 năm 2005). “Conservatives ♥ 'South Park'. The New York Times. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  38. ^ Brian C. Anderson (2003). “We're Not Losing the Culture Wars Anymore”. Manhattan Institute. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  39. ^ Saunders (17 tháng 7 năm 2006). “At 10, 'South Park' still bites”. Rocky Mountain News. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2009. 
  40. ^ Arp and Jacoby, tr. 58
  41. ^ “Trey Parker & Matt Stone on Monty Python”. YouTube. The Paley Center for Media. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2017. 
  42. ^ Gregoris, Michael (9 tháng 11 năm 2007). “The evolution of South Park”. www.gazette.uwo.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2009. 
  43. ^ Jeffrey Ressner & James Collins (23 tháng 3 năm 1998). “Gross And Grosser”. Time. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  44. ^ “Fox Refused to Take 'South Park' in 1997 Because of One Character, and Something Else as well”. Glamour Fame. 18 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2019. 
  45. ^ Ashton, Will (17 tháng 9 năm 2019). “That Time Fox Refused To Pick Up South Park Because Of Mr. Hankey”. CinemaBlend. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2019. 
  46. ^ Pride, Ray (14 tháng 7 năm 1998). “D'oh! Fox Turned Down "South Park"?”. E! News. 
  47. ^ a ă Trey Parker; Matt Stone (1 tháng 3 năm 2002). Matt Stone, Trey Parker, Larry Divney 'Speaking Freely' transcript. (Phỏng vấn). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2007. 
  48. ^ a ă Halbfinger, David M. (27 tháng 8 năm 2007). 'South Park' Creators Win Ad Sharing In Deal”. The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2008. 
  49. ^ a ă Driver, Dustin. “South Park Studios: No Walk in the Park”. Apple. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2008. 
  50. ^ Weinstock 2008, tr. 227
  51. ^ a ă Matt Cheplic (1 tháng 5 năm 1998). 'As Crappy As Possible': The Method Behind the Madness of South Park”. Penton Media. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  52. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên cheesy
  53. ^ Zeidner, Lisa (19 tháng 11 năm 2000). “A Study Guide for 'South Park'. The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  54. ^ “FAQ: How much time did it actually take to make all the actions and drawings of the kids in their anime phase?”. South Park Studios. 19 tháng 3 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  55. ^ “FAQ: I've read around that South Park episodes can be made in 5 days, but what is the speed record for producing an episode, and which one was it?”. South Park Studios. 15 tháng 11 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  56. ^ Mantell, Suzanne (Fall 2006). “The wrangler”. bcm.bc.edu. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  57. ^ Fleming, Michael (19 tháng 4 năm 2009). “Fox folding Atomic label”. Variety. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2009. 
  58. ^ Grego, Melissa (4 tháng 4 năm 2002). “Liebling ankles her Comedy post”. Variety. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  59. ^ a ă Jesse McKinley (10 tháng 4 năm 2003). “Norman Lear Discovers Soul Mates in 'South Park'. The New York Times. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2009. 
  60. ^ Moore, Roger (20 tháng 8 năm 2008). “Movie Review: 'Hamlet 2' – 3 stars out of 5”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  61. ^ Sellers, John (1 tháng 6 năm 2002). “A Fun Woman: Nancy Pimental”. Esquire. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  62. ^ Keveney, Bill (17 tháng 3 năm 2003). “TV icon Norman Lear is goin' down to 'South Park'. www.usatoday.com. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  63. ^ “South Park Boys Hit 100 Episodes; Norman Lear To Collaborate On New Season”. news.awn.com. 13 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2012. 
  64. ^ Smith, Michael (16 tháng 10 năm 2009). “Hader and Harjo: Tulsa talents keep on making must-sees”. Tulsa World. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009. 
  65. ^ Bierly, Mandi (3 tháng 4 năm 2009). “Bill Hader: The EW Pop Culture Personality Test”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009. 
  66. ^ Cavna, Michael (tháng 9 năm 2009). “The 'Riffs Interview: 'SNL's' Bill Hader Embraces His Inner Nerd for 'Cloudy With a Chance of Meatballs'. Washington Post. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009. 
  67. ^ Weinman, Jaime J. (23 tháng 4 năm 2007). “South Park has a silent partner”. macleans.ca. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  68. ^ “40 Questions”. South Park Studios. 4 tháng 10 năm 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2010. 
  69. ^ Jake Trapper & Dan Morris (22 tháng 9 năm 2006). “Secrets of 'South Park'. ABC News. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2009. 
  70. ^ Stephen M. Silverman (2000). “South Park Salutes Elian”. www.people.com. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2009. 
  71. ^ Kate Aurthur (2 tháng 4 năm 2005). 'South Park' Echoes the Schiavo Case”. The New York Times. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009. 
  72. ^ “FAQ: December 2003”. southparkstudios.com. 19 tháng 12 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2008. 
  73. ^ Fickett, Travis (6 tháng 11 năm 2008). “How South Park Pulled off "About Last Night...". IGN. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2008. 
  74. ^ “Episode 1704 will not air tonight”. South Park Studios. 16 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2013. 
  75. ^ Maglio, Tony (8 tháng 7 năm 2015). “‘South Park’ Renewed for 3 More Seasons”. The Wrap. 
  76. ^ Hipes, Patrick (8 tháng 7 năm 2015). “‘South Park’ Renewed For Three More Seasons”. Deadline Hollywood. 
  77. ^ Steinberg, Brian (8 tháng 7 năm 2015). “‘South Park’ Renewed by Comedy Central Through 2019”. Variety. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2015. 

Liên kết ngoàiSửa đổi